HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
LỚP BỒI DƯỠNG KIẾN THỨC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
CHƯƠNG TRÌNH CHUYÊN VIÊN CHÍNH
-------------***-------------
TIỂU LUẬN TÌNH HUỐNG
Tên tình huống: “QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI SINH HOẠT
TÔN GIÁO CỦA NGƯỜI NƯỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM”
Họ và tên: Nguyễn Thị Ưng
Chức vụ: Giảng viên
Đơn vị công tác: Học viện Chính trị khu vục I
Hà Nội, tháng 12 năm 2015
1
MỤC LỤC
Nội dung
Lời nói đầu
I. Nội dung tình huống
1. Hoàn cảnh xuất hiện
2. Mô tả tình huống
II. Phân tích, xử lý tình huống
1. Mục tiêu xử lý
2. Cơ sở lý luận
3. Phân tích, xử lý tình huống
4. Phương án để giải quyết tình huống
5. Lập kế hoạch tổ chức phương án được lựa chọn
có việc giải quyết chế độ cho cán bộ xã nghỉ việc theo Quyết định 130/CP
ngày 20/6/1975 của Chính phủ. Vì vậy, giải quyết chế độ trợ cấp thường
xuyên là việc làm có ý nghĩa hết sức quan trọng, một mặt nhằm nâng cao đời
sống vật chất cho cán bộ cấp xã đủ năm công tác và đủ độ tuổi được nghỉ vì
không đáp ứng yêu cầu về chuyên môn nên phải nghỉ trước tuổi theo quy
định, mặt khác góp phần tinh giản biên chế, nâng cao hiệu quả chất lượng đội
ngũ cán bộ, công chức cấp xã, thực hiện có hiệu quả công cuộc cải cách hành
chính mà Đảng và Nhà nước ta đang triển khai thực hiện.
Tuy nhiên trong quá trình triển khai thực hiện đòi hỏi cơ quan Nhà
nước, người có thẩm quyền phải thận trọng, khách quan, giải quyết công bằng
và đúng pháp luật tránh tình trạng để xảy ra tố cáo, khiếu nại, làm mất niềm
tin của quần chúng nhân dân với chính quyền.
Với kiến thức và thời gian có hạn, tiểu luận chắc chắn không tránh
khỏi những thiếu sót, những hạn chế. Vì vậy rất mong các thầy, cô giáo, các
bạn học viên trong lớp giúp đỡ, góp ý để bản thân có thêm những kinh
nghiệm, kiến thức nhằm thực hiện tốt hơn nhiệm vụ được giao.
Tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy, cô giáo
Học viện Hành chính Quốc gia và Trường Trung cấp nghiệp vụ Công đoàn
GTVT đã giúp tôi hoàn thành tiểu luận này.
I. NỘI DUNG TÌNH HUỐNG
Một số người nguyên là cán bộ xã G được nghỉ hưu và hưởng chế độ
theo Quyết định số 130/CP ngày 20/6/1975 khiếu nại UBND huyện L ra
3
Quyết định đình chỉ việc hưởng chế độ (do có đơn tố cáo của công dân) là
không đúng, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích chính đáng của họ.
1. Hoàn cảnh xuất hiện
tế còn gặp nhiều khó khăn nay cắt chế độ của họ thì sẽ gây phản ứng tiêu cực,
khiếu nại kéo dài và có thể mang tính “dây chuyền” ảnh hưởng xấu đến tình hình
chính trị của địa phương và dễ gây mất niềm tin trong quần chúng nhân dân.
Ngày 15/01/2009 ông Chủ tịch UBND huyện đã ra quyết định thành
lập Đoàn thanh tra với thành phần gồm: ông Nguyễn Văn T - Trưởng phòng
Nội vụ; Trần Văn H - Phó Trưởng Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội;
ông Thái Văn K - Chánh thanh tra; ông Ngô Quang S - Chuyên viên Phòng
Tài chính - Kế hoạch. Đoàn thanh tra có nhiệm vụ tiến hành kiểm tra, xác
minh tại lý lịch Đảng viên và hồ sơ kê khai để xét chế độ trợ cấp thường
xuyên, đối thoại đối với những người có đơn khiếu nại.
Căn cứ Quyết định số 130/CP ngày 20/6/1975 của Hội đồng Chính phủ
(nay là Thủ tướng Chính phủ) về việc bổ sung chính sách chế độ đại ngộ đối
với cán bộ xã; Thông tư số 45/BT ngày 24/3/1976 của Bộ Trưởng phủ Thủ
tướng (nay là Văn phòng Chính phủ) hướng dẫn thi hành Quyết định số
130/CP và Công văn số 02/CV - HD ngày 06/02/1992 của Ban tổ chức chính
quyền tỉnh Nghệ An (nay là Sở Nội vụ) hướng dẫn thực hiện Chỉ thị 05/CT UB ngày 26/01/1992 của UBND tỉnh về việc chấn chỉnh công tác trợ cấp cho
cán bộ già yếu nghỉ việc, đoàn thanh tra đã phối hợp với chính quyền xã G
tiến hành các bước thẩm tra, xác minh, kết quả như sau:
* Ông Nguyễn Thanh K, sinh ngày 20/10/1949, năm 1993 UBND
huyện cho nghỉ việc để hưởng chế độ trợ cấp thường xuyên theo Quyết định
số 130/CP, lúc này ông K 44 tuổi, thời gian công tác kê khai tại lý lịch Đảng
được tính như sau:
- Tháng 01 năm 1981 đến tháng 12 năm 1984: Uỷ viên phụ trách Văn
hoá = 4 năm;
5
- Tháng 01 năm 1985 đến tháng 01 năm 1988: Uỷ viên thư ký Uỷ ban
= 3 năm 01 tháng;
chưa được khai trong lý lịch Đảng. Cụ thể: Từ tháng 01 năm 1955 đến tháng 5
năm 1955 làm xã đội phó; từ tháng 01 năm 1966 đến tháng 12 năm 1967 - Phó
Chủ nhiệm Hợp tác xã phụ trách ngành nghề (có ông Đỗ Văn L nguyên Chủ
nhiệm HTX công tác cùng thời biết); từ tháng 01 năm 1969 đến 1974 - Công an
phó phụ trách Tôn giáo (có ông Nguyễn văn C nguyên Bí thư Đảng uỷ xã công
tác cùng thời biết); từ năm 1982 đến tháng 4 năm 1988 - Xã đội phó.
Qua kiểm tra, xác minh tại lý lịch Đảng viên khai thì năm 1969 đến
1974 - Đôi trưởng đội sản xuất; từ năm 1982 đến tháng 4 năm 1988 nghỉ vì
sức khoẻ yếu, trong thời gian này ông T làm xã đội phó. Tại Hội nghị cán bộ
chủ chốt qua các thời kỳ xã G ngày 14/2/2009 xác nhận thời gian từ tháng 01
năm 1955 đến tháng 5 năm 1955 làm xã đội phó, từ tháng 01 năm 1966 đến
tháng 12 năm 1967 làm Phó Chủ nhiệm phụ trách ngành nghề, từ tháng 01
năm 1971 đến tháng 02 năm 1972 làm công an phó phụ trách Tôn giáo. Do đó
việc ông đề nghị bổ sung thời gian công tác là có cơ sở. Như vậy tổng thời
gian công tác được tính cho ông T là 13 năm 02 tháng.
* Ông Trần Văn D, sinh ngày 14/7/1933, năm 1990 UBND huyện cho
nghỉ việc hưởng chế độ trợ cấp thường xuyên theo Quyết định 130/CP, trước
lúc nghỉ việc ông làm Chủ nhiệm Hợp tác xã tín dụng, lúc này ông D 63 tuổi,
thời gian công tác kê khai tại lý lịch Đảng được tính như sau:
- Tháng 01 năm 1953 đến tháng 7 năm 1954 - Trưởng ban thông tin =
1 năm 07 tháng;
- Tháng 11 năm 1970 đến tháng 12 năm 1976 - Xã Đội trưởng = 6 năm
02 tháng;
- Tháng 01 năm 1977 đến tháng 12 năm 1979 - Phó Chủ nhiệm Hợp
tác xã mua bán = 3 năm;
- Tháng 01 năm 1980 đến tháng 12 năm 1988 làm Chủ nhiệm Hợp tác
xã tín dụng = 9 năm.
7
năm 1983 làm kế hoạch HTX; từ tháng 4 năm 1984 đến năm 1988 - Chấp
hành Đảng uỷ, Phó Chủ nhiệm HTX (có ông H và ông T làm Chủ nhiệm
HTX biết).
Qua kiểm tra, xác minh tại lý lịch đảng viên khai ngày 10/5/1975 thì
thời gian từ năm 1980 đến năm 1985, ông T làm Bí thư Chi bộ; năm 1986 đến
tháng 01 năm 1988 là Uỷ viên Ban quản trị HTX phụ trách ngành nghề. Tại
Hội nghị cán bộ chủ chốt qua các thời kỳ xã G ngày 14/02/2009 xác nhận từ
tháng 4 năm 1984 đến tháng 01 năm 1988 là Phó Chủ nhiệm HTX phụ trách
ngành nghề là có cơ sở. Như vậy tổng thời gian công tác của ông được tính
theo quy định là 13 năm 01 tháng.
Từ những kết quả điều tra, xác minh trên đoàn thanh tra đi đến kết
luận, kiến nghị:
- Ông Nguyễn Thanh K, sinh ngày 20/10/1949, UBND huyện có Quyết
định cho nghỉ việc để hưởng trợ cấp năm 1993, lúc này ông K 44 tuổi, thời
gian công tác được tính là 15 năm 02 tháng. Như vậy theo Quyết định 130/CP
thì ông K không đủ điều kiện để hưởng chế độ trợ cấp hàng tháng, vì ông K
còn thiếu 11 tuổi.
- Ông Chu T, sinh ngày 01/4/1922, UBND huyện có Quyết định cho nghỉ
việc để hưởng trợ cấp năm 1982, thời gian công tác được tính là 13 năm 02 tháng.
Như vậy theo Quyết định 130/CP thì ông T không đủ điều kiện để hưởng chế độ trợ
cấp hàng tháng, vì thời gian công tác còn thiếu 2 năm 03 tháng.
- Ông Trần Văn D, sinh ngày 14/7/1933, UBND huyện có Quyết định
cho nghỉ việc để hưởng trợ cấp năm 1990, lúc này ông D 57 tuổi, thời gian
công tác được tính là 21 năm 01 tháng, trong đó có 9 năm 01 tháng làm cán
bộ chuyên trách và bán chuyên trách. Như vậy theo Quyết định 130/CP thì
ông D đủ điều kiện để hưởng chế độ trợ cấp hàng tháng.
- Ông Cao Xuân T, sinh ngày 01/10/1944, UBND huyện có Quyết định
cho nghỉ việc để hưởng trợ cấp năm 1994, lúc này ông T 50 tuổi, thời gian
9
1. Mục tiêu xử lý
1.1. Mục tiêu hàng đầu là giải quyết đơn thư khiếu nại của công dân
đúng quy định pháp luật của Nhà nước nhưng cũng thể hiện được tính nhân
văn, chế độ đãi ngộ của nhà nước đối với cán bộ cơ sở do lịch sử để lại về
công tác, chính sách cán bộ, do đó cần phải được xem xét một cách thận
trọng, công bằng, hợp lý, hợp tình.
1.2. Cơ quan, người có thẩm quyền được giao nhiệm vụ giải quyết đơn
thư khiếu nại khi thực thi nhiệm vụ vừa phải làm việc công tâm, có tình, có lý
nhưng phải có nghiệp vụ chuyên môn, phải sáng suốt lựa chọn phương án tối
ưu nhất, hiệu quả nhất.
1.3. Việc giải quyết chế độ trợ cấp theo Quyết định 130/CP là một
chính sách rất nhạy cảm vì vậy người được giao nhiệm vụ giải quyết phải hết
sức thận trọng khi gặp vụ việc về đơn thư khiếu kiện như tình huống nêu trên
đòi hỏi phải phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương để xác minh, thu
thập đầy đủ chứng cứ; tổ chức đối thoại với người khiếu nại mới đưa ra kết
luận và cách giải quyết đúng đắn, phù hợp.
2. Cơ sở pháp lý - lý luận
Hệ thống chính trị cơ sở xã, phường, thị trấn có vị trí hết sức quan
trọng trong hệ thống chính trị, là cấp trực tiếp thực hiện nhiệm vụ cụ thể, đảm
bảo cho các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đi vào
cuộc sống. Đội ngũ cán bộ cấp xã qua từng thời kỳ đã có những đóng góp hết
sức to lớn vào công cuộc bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước. Đảng và
Nhà nước ta rất quan tâm đến việc thực hiện chế độ, chính sách đối với cán bộ
cấp xã. Thể hiện qua việc luôn có những bổ sung, sửa đổi các văn bản quy
định của Nhà nước đối với việc giải quyết chế độ chính sách cho cán bộ cấp
xã, theo hướng ngày càng tốt hơn. Tuy nhiên do điều kiện kinh tế của đất
nước qua các thời kỳ còn gặp nhiều khó khăn, do vậy chưa thể đáp ứng thỏa
đáng những đóng góp của cán bộ, công chức, đặc biệt là cán bộ cơ sở. Bên
+ Sau khi có đơn tố cáo của công dân về việc một số nguyên là cán bộ
xã G hưởng chế độ trợ cấp thường xuyên theo Quyết định 130/CP là không
12
đúng, mặc dù Chủ tịch UBND huyện L đã giao cho Phòng Nội vụ tham mưu
giải quyết thế nhưng trong quá trình thẩm tra, xác minh không tiến hành đối
thoại mà chỉ dựa vào hồ sơ cá nhân kê khai là chưa đầy đủ.
+ Mặc dù Quyết định số 130/CP hết hiệu lực năm 1993 thế nhưng
UBND huyện L vẫn ra Quyết định cho một số nguyên cán bộ xã G nghỉ
hưởng chế độ theo Quyết định 130/CP khi người đó chưa đủ năm công tác
cũng như tuổi theo quy định là không đúng.
+ Một số người khi được Đoàn thanh tra yêu cầu kê khai, bổ sung năm
công tác đã thực hiên kê khai không đúng (mặc dù không có thời gian công
tác tại xã nhưng vẫn kê khai) đã gây khó khăn cho việc xác minh, ảnh hưởng
đến sự thật khách quan của vụ việc.
b/ Hậu quả tình huống:
- Đây là vụ việc xuất phát từ tố cáo của một số người dân xã G, vì vậy
nếu giải quyết không đúng theo quy định của pháp luật thì sẽ dẫn đến việc
mất niềm tin trong quần chúng nhân dân.
- Vụ việc có đối tượng khiếu nại là những nguyên cán bộ đã có thời
gian tham gia kháng chiến chống Mỹ, sau hoà bình lập lại họ tham gia xây
dựng chính quyền địa phương, nay thực hiện Quyết định nghỉ hưởng chế độ
theo Quyết định 130/CP là thể hiện tính nhân văn, sự hỗ trợ của nhà nước đối
với đối tượng này. Nếu việc giải quyết không hợp lý, hợp tình sẽ dẫn đến
khiếu nại kéo dài, vượt cấp và ảnh hưởng đến tình hình chính trị ở địa
phương, mất niềm tin đối với Đảng và nhà nước.
- Đây là vấn đề hết sức nhạy cảm nếu các cơ quan có thẩm quyền
không có sự phối hợp chặt chẽ trong giải quyết có thể xảy ra trường hợp kê
khai năm công tác không đúng với thực tế để được hưởng chế độ ưu đãi của
2. Phương án 2
Chuyển sang cơ quan Toà án hành chính giải quyết.
+ Ưu điểm: Là quyết định buộc các chủ thể có liên quan phải thực hiện
và có hiệu lực thi hành.
14
+ Hạn chế: Gây tốn kém về thời gian, công sức và tiền bạc của cơ
quan nhà nước và của người khiếu nại (người khiếu nại phải có nghĩa vụ cung
cấp chứng cứ và có mặt tại toà theo yêu cầu). Mặt khác, đây là vụ việc có tính
nhạy cảm dễ phản ứng “dây chuyền” ảnh hưởng xấu trong dư luận quần
chúng, ảnh hướng đến uy tín của ngành Tổ chức và Thanh tra.
3. Phương án 3
Tham mưu cho UBND tỉnh ra quyết định thành lập Đoàn kiểm tra liên
ngành, gồm: Sở Nội vụ, Thanh tra tỉnh, Sở Tài chính (do Sở Nội vụ chủ trì)
phối hợp với Ban Thường vụ Huyện uỷ - HĐND - UBND huyện L tiến hành
từng bước như sau:
- Bước 1: Tổ chức cuộc họp giữa đoàn thanh tra liên ngành với UBND
huyện L (có sự tham gia của người đứng đầu và đại diện các phòng chức
năng) để lựa chọn cách giải quyết tốt nhất theo hướng có lợi cho công dân;
- Bước 2: Đoàn thanh tra liên ngành trực tiếp về UBND xã G để tổ chức
đối thoại với những công dân có đơn khiếu nại và những người có liên quan;
- Bước 3: Yêu cầu người khiếu nại tự kê khai tuổi và quá trình công tác
có xác nhận của chính quyền địa phương đồng thời cung cấp những giấy tờ
liên quan đến độ tuổi và thời gian công tác, trường hợp không chứng minh
được phải có người làm chứng.
- Ưu điểm:
+ Nắm bắt được đầy đủ thông tin, tài liệu của người tố cáo, động cơ mục
đích tố cáo; Đối thoại trực tiếp, xác minh thu thập tài liệu của người khiếu nại, tiếp
xúc gặp gỡ người làm chứng, trực tiếp trả lời, giải thích những vấn đề mà công
Nội dung thực hiện
Tham mưu cho UBND tỉnh thành lập đoàn
thanh tra liên ngành
Tổ chức họp đoàn thanh tra liên ngành,
phân công nhiệm vụ
Công bố Quyết định thanh tra tại UBND
huyện L
Làm việc với UBND xã G
Tổ chức đối thoại với người khiếu nại, tố
cáo
Tiến hành xác minh thời gian công tác và
độ tuổi khi nghỉ hưu của người khiếu nại
Tiến hành phỏng vấn, làm việc trực tiếp với
các tổ chức, cá nhân có liên quan
Họp đoàn thanh tra, góp ý và tập hợp kết
quả sơ bộ, đánh giá tình hình
Tổng hợp, viết báo cáo kết luận
Thông qua dự thảo kết luận thanh tra, kiểm
tra
16
Thời gian thực hiện
Giữa tháng 6/2009
Cuối tháng 6/2009
Đầu tháng 7/ 2009
Đầu tháng 7/ 2009
Đầu tháng 7/ 2009
Đầu tháng 7/ 2009
Giữa tháng 7/2009
- Báo cáo kết luận của đoàn.
- Kiến nghị hướng giải quyết trình Chủ tịch UBND tỉnh xem xét,
Quyết định.
5.4. Kế hoạch khác
- Lập kế hoạch chi trả tiền lương cho các ông Nguyễn Thanh K, Chu T,
Cao Xuân T, nếu việc khiếu nại của các ông là đúng.
17
- Lập kế hoạch sử dụng nguồn nhân lực, vật lực khi cần thiết để tiến
hành thanh tra, kiểm tra.
- Kế hoạch dự kiến tổng kết.
III. KIẾN NGHỊ
Từ thực tế của tình huống được nêu ra, kiến nghị một số nội dung như sau:
1. Đối với UBND tỉnh
Có ý kiến chỉ đạo Ban Thường vụ Huyện uỷ, UBND huyện L làm tốt
công tác dự báo tình hình, làm tốt công tác tư tưởng để tránh tình trạng khiếu
nại, tố cáo mang tính “dây chuyền”, phức tạp, gây mất ổn định tình hình chính
trị ở địa phương.
2. Đối với UBND huyện L
Thực hiện phân loại cụ thể các đối tượng đã bị đình chỉ chế độ để giải
quyết theo hướng như sau:
- Những người có quyết định nghỉ trước khi có Quyết định 130/CP
(trước ngày 20/6/1975) thì không xem xét.
- Trường hợp còn lại nghỉ từ 20/6/1975 đến ngày 31/5/1993 (ngày
Quyết định 30/CP không còn hiệu lực) thì giải quyết theo hướng:
+ Không giải quyết cho những người không đủ năm công tác và tuổi đời;
+ Cho những người đủ năm công tác (tính đến 31/5/1993) tiếp tục
được hưởng vì thực tế lúc giải quyết họ chưa đủ tuổi nhưng nay tuổi đã cao,
sức khoẻ yếu, hoàn cảnh khó khăn;
20
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Luật Khiếu nại, tố cáo ngày 02/12/1998.
2. Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Khiếu nại, tố cáo ngày
15/6/2004.
3. Nghị định 53/2005/NĐ-CP ngày 19/4/2005 của Chính phủ về quy
định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Khiếu nại, tố cáo và Luật sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật Khiếu nại, tố cáo.
4. Nghị định 136/2006/NĐ.CP ngày 26/11/2006 của Chính phủ quy
định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Khiếu nại, tố cáo.
5. Hiến pháp 1946, 1958, 1980, 1992.
6. Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính năm 1996 và pháp
lệnh sửa đổi năm 1998 và 2006.
7. Quyết định số 130/CP ngày 20/6/1975 của Hội đồng Chính phủ về
bổ sung chính sách, chế độ đãi ngộ đối với cán bộ xã.
8. Tài liệu bồi dưỡng ngạch Chuyên viên chính của Học viện Hành
chính Quốc gia.
21