Hình tượng người phụ nữ qua các tác phẩm văn học
Đề bài: Hình tượng người phụ nữ qua các tác phẩm “Vợ chồng A
Phủ” (Tô Hoài), “Vợ nhặt” (Kim Lân), “Sóng” (Xuân Quỳnh) và
“Chiếc thuyền ngoài xa” (Nguyễn Minh Châu)
Trong vương quốc văn học, “biên giới” là hai từ không bao giờ tồn tại.
Minh chứng rõ nhất là từ xa xưa cho đến nay, đề tài về số phận và vẻ đẹp
người phụ nữ luôn là một đề tài nóng, được vô số tác giả khám phá và
thể hiện. Tô Hoài, Kim Lân, Xuân Quỳnh, Nguyễn Minh Châu- bốn tác
giả ở bốn giai đoạn khau nhau, với bốn phong cách nghệ thuật riêng
nhưng đã gặp nhau ở hình tượng người phụ nữ trong tác phẩm của mình.
“Vợ chồng A Phủ” với nhân vật Mị, “Vợ nhặt” với nhân vật Thị, “Sóng”
với hình tượng “em” hay “Chiếc thuyền ngoài xa” với người đàn bà
hàng chài, bốn người phụ nữ ấy đã làm nên bức tượng đài người phụ nữ
Việt Nam mà trong mỗi hoàn cảnh, họ mang số phận và vẻ đẹp riêng.
Thơ ca từ xưa đến nay, người phụ nữ luôn gánh trên vai một số phận
long đong, bất hạnh, một nỗi đau xuyên thời gian, không gian và tìm gặp
nhau ở điểm chung:
Đau đớn thay phận đàn bà
Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung
(Nguyễn Du)
Mị trong “Vợ chồng A Phủ” của Tô Hoài phải gánh chịu trên lưng kiếp
sống của một con vật, dù mang danh con dâu nhà thống lí (con dâu gạt
nợ). Song hành với Mị luôn là hình ảnh con trâu con ngựa, con rùa lùi
lũi… cho thấy một kiếp người bất hạnh, sống không bằng con vật.
Quyền sống dường như không nằm trong tay cô: vì cha mà cô không
đành lòng tự tử, rồi vì A Sử ngăn cản bắt trói vào cột mà cô không thể đi
chơi trong đêm tình mùa xuân… Một cuộc sống ngột ngạt tù túng, quyền
con người bị tước đoạt- đó là hiện thân của xã hội mà kẻ thống trị có thể
hoàn cảnh nào, người phụ nữ vẫn luôn là phái yếu chịu nhiều thiệt thòi,
bất hạnh… Đau đớn là vậy, nhưng hình tượng người phụ nữ trong văn
học luôn ẩn chứa một vẻ đẹp nội tâm sâu sắc đáng trân trọng.
Nếu như ta đã thấy Mị sống kiếp con vật khi làm dâu gạt nợ nhà Thống
lí Pá Tra; thì ta cũng sẽ nhận ra một cô Mị hiếu thảo, chăm chỉ, yêu tự do
qua câu nói “Con nay đã biết cuốc nương, làm ngô, con phải làm nương
ngô giả nợ thay cho bố. Bố đừng bán con cho nhà giàu”. Trốn về nhà
sau khi bị bắt làm dâu gạt nợ, định tự tử bằng nắm lá ngón nhưng nhìn
người cha già yếu, cô không đành lòng để cha một mình gánh vác nợ
nần. Thật hiếm thấy một người con gái hiếu thuận như vậy! Chính vẻ
đẹp tâm hồn ấy, chứ không phải là nhan sắc rực rỡ khiến “trai đứng
nhẵn chân vách đầu buồng Mị”, cũng không phải tài năng thổi sáo giỏi,
đã giúp Mị tỏa sáng trong ấn tượng của người đọc.
Không đẹp cũng chẳng tài năng nhưng cô vợ nhặt của nhà văn Kim Lân
lại lấy được thiện cảm của người đọc dần dần bằng chính hành động của
mình. Kim Lân tả thị lúc đầu là một cô nàng chao chát chỏng lỏn, vì
miếng ăn mà quên mất lòng tự trọng; nhưng càng về sau, ngòi bút của
ông lại đầy cảm thông, thương xót. Thị chua ngoa nhưng cũng là một cô
gái biết e thẹn khi về làm dâu, biết lễ nghĩa khi ra mắt mẹ chồng. Làm
dâu, làm vợ rồi, thị dần bộc lộ hết những vẻ đẹp của một người phụ nữ:
chăm chỉ giúp mẹ chồng dọn dẹp nhà cửa, cư xử lễ phép và tế nhị…
Sự chuyển biến ở thị đã khiến người đọc ngạc nhiên, thì hẳn sẽ không
khỏi sửng sốt khi khám phá ra vẻ đẹp ở người đàn bà hàng chài của
Nguyễn Minh Châu. Chưa ở đâu, chưa một tác phẩm văn học nào mà
người phụ nữ lại bộc lộ rõ thiên tính nữ như trong “Chiếc thuyền ngoài
xa”. Mụ xấu xí, thô kệch, mặt rỗ, tấm lưng áo bạc phếch… khiến người
đọc mới làm quen đã thiếu thiện cảm… Nhưng dần dần, vẻ đẹp tâm hồn
Trong Vợ chồng A Phủ, Mị lầm lũi là vậy bởi sống lâu trong cảnh khổ,
Mị đã quen khổ; thế nhưng khi nghe tiếng sáo từ lấp ló ngoài đầu núi,
đến văng vẳng ở đầu làng, rồi lửng lơ bay ngoài đường… sức sống trong
Mị như hồi sinh. Mị thấy yêu đời trở lại, Mị thấy mình trẻ, Mị khao khát
tự do và muốn được đi chơi. Tất cả đã cho thấy người phụ nữ dù trong
đau khổ tù túng thì trái tim họ vẫn luôn hướng về, luôn hi vọng và khát
khao hạnh phúc. Chính vì thế, Mị đã chạy theo A Phủ, chạy theo hạnh
phúc của mình, rời bỏ mảnh đất Hồng Ngài đau thương.
Trong “Vợ nhặt” của Kim Lân, người vợ nhặt cũng vậy, thị theo Tràng
về chẳng qua cũng vì muốn tìm một mái ấm gia đình, một nơi được bao
bọc trong tình yêu thương. Thị đã khơi dậy ở Tràng hình ảnh lá cờ đỏ
bay phấp phới và đám người đói đi phá kho thóc của Nhật- đó là minh
chứng rõ nhất cho khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc đang rực cháy
trong tâm hồn thị.
Hay như người đàn bà hàng chài, trong đau khổ bất hạnh, khuôn mặt mụ
vẫn “ửng sáng lên như một nụ cười”, khi nhắc đến chuyện “ở trên
thuyền cũng có lúc vợ chồng con cái chúng tôi sống hòa thuận, vui vẻ”.
Mụ thương con và hiểu chồng, mụ cố gắng chắt lọc lấy hạnh phúc chứ
nhất quyết không li hôn với gã chồng vũ phu.
Đặc biệt, khát khao hạnh phúc được Xuân Quỳnh thể hiện mãnh liệt
thông qua hình tượng “són” và “em”. “Em” trăn trở, giàu lòng trắc ẩn,
day dứt về tình yêu chính vì “em” luôn tìm kiếm hạnh phúc trọn vẹn
“Bồi hồi trong ngực trẻ”. Yêu say đắm, tha thiết, nhưng khát khao tình
yêu đích thực, khát khao hạnh phúc vẫn luôn thường trực trong trái tim
người phụ nữ.
Trong văn học, hình tượng người phụ nữ không mới mẻ nhưng dưới
nợ. Mị đã muốn chết nhưng rồi không thể, nắm lá ngón hái về đành vứt
xuống đất. Mị muốn thoát khỏi nhà Thống lí, Mị đã khóc nhiều đêm
liền, nhưng rồi nước mắt cũng cạn, Mị đành “lùi lũi như con rùa nuôi
trong xó cửa”, chỉ còn biết thả mình theo tiếng sáo để trở về ngày xưa
cũ, khi Mị còn tự do. Sức sống tiềm tàng của Mị tạo nên một ấn tượng
khó phai về người con gái này, cô câm lặng nhưng không cam tâm chết.
Thế nhưng trong đêm cởi trói cho A Phủ, cũng như bao lần Mị thổi lửa
hơ tay hơ lưng giữa đêm để lưu giữ hơi nồng nơi tâm hồn; nhưng đêm
nay giọt nước mắt A Phủ đã khiến Mị trỗi dậy lòng thương người, đã
hâm nóng và thổi lên ngọn lửa trong tâm hồn Mị. Không còn gương mặt
“buồn rười rượi”, gương mặt Mị giờ sáng bừng lên quyết liệt. Mị giống
như vị cứu tinh cứu lấy không chỉ cuộc đời A Phủ mà còn cứu lấy chính
mình.
Cũng ra đời trong kháng chiến chống Pháp nhưng thị trong “Vợ nhặt”
không giống Mị. Thị xuất hiện với vẻ ngoài xấu xí, cái miệng chua ngoa
nhưng lại trở nên rụt rè khi về tới nhà Tràng. Mang thân vợ nhặt về làm
dâu nhà người, thị đã đối xử với mẹ con Tràng bằng tất cả lòng biết ơn
và tình yêu của mình: thị quét tước sân vườn sạch sẽ, kín đầy ang nước,
phơi cả đống quần áo đã vắt khươm mươi niên ở góc nhà. Thị không
một lời oán trách khi và vào miệng miếng cháo cám chát xít và nghẹn
bứ. Ở thị, tôi thấy một người phụ nữ sắc sảo trước thời cuộc, đảm đang,
cam chịu và sẵn sàng chia sẻ yêu thương giữa những ngày đói kém nhất.
Thị mang đến một làn gió mới tươi mát thổi vào tâm hồn Tràng, cụ Tứ
và cả người dân xóm ngụ cư.
Bông “hoa dọc chiến hào” Xuân Quỳnh lại mang đến chút tự tình lãng
mạn trong những năm tháng chống Mỹ ác liệt bằng bài thơ “Sóng”.
niềm riêng, nhưng đều là những gì đẹp nhất, dịu dàng nhất, thuần khiết
nhất. Mị đại diện cho tuổi trẻ, cho sức sống tiềm tàng dù bị đày đọa thân
xác, cho cả tình yêu thương con người vô bờ bến bất chấp mọi nguy
hiểm, thậm chí cả cái chết. Thị- vợ anh Tràng- trong những tháng ngày
đói khát nhất của dân tộc lại tỏa sáng vẻ đẹp tâm hồn với sự sắc sảo mà
dịu hiền, mạnh mẽ chọn cho mình chỗ dựa qua ngày đói bất chấp dị
nghị. Có lẽ Thị sẽ trở thành một người mẹ tốt với bản năng sẵn có của
một người mẹ, Thị sẽ yêu thương con mình như yêu thương Tràng và bà
cụ Tứ- những người đã cứu vớt đời Thị. Xuân Quỳnh trong nỗi đau đổ
vỡ tình yêu, đã mạnh mẽ sẵn sàng bất chấp quan niệm cũ để tìm hạnh
phúc riêng. Và với vẻ đẹp mẫu tính sáng ngời, cũng giống như Quỳ
trong “Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành”, Nguyễn Minh Châu
khắc họa người đàn bà hàng chài với tình thương yêu vô bờ bến, đức hy
sinh và sự nhẫn nhục, cam chịu để chiến đấu với giặc đói giặc dốt bao
vây. Những người phụ nữ ấy không quá đẹp ở ngoại hình nhưng lại
khiến người đọc bị thuyết phục bởi vẻ đẹp nhân cách. Sẽ còn là Từ trong
truyện ngắn “Đời thừa” của Nam Cao, là chị Chiến trong “Những đứa
con trong gia đình” là bà cụ Tứ mẹ Tràng trong “Vợ nhặt”… Trong mọi
lứa tuổi, mọi tầng lớp, mọi giai đoạn lịch sử, ta đều bắt gặp những người
phụ nữ “anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang” như Bác Hồ từng
nói. Vẻ đẹp phụ nữ Việt Nam đã, đang và sẽ còn tỏa sáng trong suốt
chiều dài lịch sử dân tộc.
Phụ nữ giống như những bông hoa, mỏng manh nhưng không kém phần
kiên cường, có đóa hoa đẹp về màu sắc nhưng có đóa hoa lại ngát hương
thơm, nhưng tất cả đều có chung một nhiệm vụ đó là nuôi dưỡng sức
sống cho cuộc đời, luôn hết mình khoe sắc và giữ gìn giống nòi cho