ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƢỠNG GIẢNG VIÊN LÍ LUẬN CHÍNH
TRỊ
ĐÀO VĂN PHƢƠNG
ĐẢNG LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN TIẾN BỘ
VÀ CÔNG BẰNG XÃ HỘI TRONG LĨNH VỰC Y
TẾ
TỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂM 2006
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
HÀ NỘI – 2012
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƢỠNG GIẢNG VIÊN LÍ LUẬN CHÍNH
TRỊ
ĐÀO VĂN PHƢƠNG
ĐẢNG LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN TIẾN BỘ
VÀ CÔNG BẰNG XÃ HỘI TRONG LĨNH VỰC Y
TẾ
TỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂM 2006
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số: 60 22 56
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS.NGƢT. Ngô Đăng Tri
2.1.2. Chủ trương của Đảng về đẩy mạnh thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội
trong lĩnh vực y tế từ năm 2001 đến năm 2006 .................................................. 54
2.2. Quá trình chỉ đạo thực hiện......................................................................... 61
2.2.1.Tiến bộ xã hội trong lĩnh vực y tế từ năm 2001 đến năm 2006 ................. 61
2.2.2. Công bằng xã hội trong lĩnh vực y tế từ năm 2001 đến năm 2006 ........... 77
* Tiểu kết chương 2: ......................................................................................... 89
Chƣơng 3: NHẬN XÉT CHUNG VÀ CÁC KINH NGHIỆM CHỦ YẾU ... 91
3.1. Nhận xét chung........................................................................................... 91
3.1.1. Về các thành tựu và nguyên nhân ............................................................ 91
3.1.2. Về những hạn chế và nguyên nhân ........................................................ 102
3.2. Một số kinh nghiệm và các khuyến nghị ................................................... 106
3.2.1. Một số kinh nghiệm chủ yếu .................................................................. 106
3.2.2. Một số khuyến nghị cho hiện tại ............................................................ 114
* Tiểu kết chương 3: ....................................................................................... 118
KẾT LUẬN .................................................................................................... 119
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................... 122
DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
AIDS
: Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải
CNH, HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
DSKHHGĐ : Dân số kế hoạch hóa gia đình
GLP
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Tiến bộ và công bằng xã hội là một mục tiêu chiến lược của cách mạng xã
hội chủ nghĩa. Thực tiễn xây dựng đất nước thời kỳ đổi mới cho thấy thực hiện
các vấn đề xã hội và thực hiện mục tiêu tiến bộ, công bằng xã hội có ý nghĩa rất
quan trọng thể hiện bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta đang
xây dựng. Đại hội VI (1986) của Đảng đã coi “những mục tiêu xã hội là mục
đích của các hoạt động kinh tế” [33, tr.86]. Trên cơ sở quan điểm ấy, Đại hội
VII (1991), Đại hội VIII (1996), Đại hội IX (2001), Đại hội X (2006) của Đảng,
bên cạnh quan điểm chung về thực hiện mục tiêu tiến bộ và công bằng xã hội, đã
nêu lên các chủ trương và giải pháp thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội trong
các vấn đề xã hội cụ thể, trong đó có lĩnh vực y tế.
Quan điểm chung của Đại hội VIII là“Tăng trưởng kinh tế phải gắn liền
với tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và trong suốt quá trình
phát triển”[35, tr.113]. Chủ trương và giải pháp của Đại hội VIII về thực hiện
tiến bộ và công bằng xã hội trong lĩnh vực y tế là “tiếp tục củng cố hệ thống y tế
nhà nước; mở rộng, đa dạng hóa, nâng cao chất lượng, hiệu quả các dịch vụ
chăm sóc sức khỏe…; đổi mới công tác quản lý bệnh viện, kiện toàn hệ thống
khám chữa bệnh đủ sức đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng và đa dạng của nhân
dân…” [35, tr.116]. Quan điểm chung của Đại hội IX là “Tăng trưởng kinh tế đi
liền với phát triển văn hóa, từng bước cải thiện đời sống vật chất và tinh thần
nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ và cải thiện môi trường”
[36, tr.89]. Chủ trương giải pháp của Đại hội IX về thực hiện tiến bộ và công
bằng trong lĩnh vực y tế là “Thực hiện công bằng xã hội trong chăm sóc sức
2
năm 2006” để làm luận văn thạc sỹ, chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt
Nam .
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Liên quan đến vấn đề tiến bộ và công bằng xã hội nói chung cũng như vấn
đề tiến bộ và công bằng xã hội trong lĩnh vực y tế thời kỳ đổi mới có nhiều tập
thể và cá nhân quan tâm nghiên cứu, cụ thể như sau:
- Các công trình nghiên cứu về vấn đề tiến bộ và công bằng xã hội nói
chung có một số công trình đáng chú ý là:
Về tiến bộ xã hội, trong các công trình đã công bố, có các công trình đáng
chú ý là: GS Nguyễn Trọng Chuẩn (Chủ biên 2000), “Tiến bộ xã hội – một số lý
luận cấp bách”, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội; TS Nguyễn Hữu Vượng (2004),
“Tiến bộ xã hội trong kinh tế thị trường”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; Lê
Cao Đoàn (2001), “Triết lý phát triển – Quan hệ công nghiệp – nông nghiệp,
thành thị - nông thôn trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt
Nam”, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội…Bằng cách tiếp cận chung nhất, các tác
giả của các công trình nghiên cứu trên đã làm rõ khái niệm tiến bộ xã hội cũng
như những hệ thống tiêu chuẩn của tiến bộ xã hội trong thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Về công bằng xã hội, trong các công trình đã công bố, có một số công
trình đáng chú ý như: GS Phạm Xuân Nam (Chủ biên – 1997), “Đổi mới chính
sách xã hội: Luận cứ và giải pháp”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; TS Lê Bộ
Lĩnh (Chủ biên – 1998), “Tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở một số
nước châu Á và Việt Nam”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; ); GS Phạm Xuân
4
Nam (Chủ biên – 2001), “Triết lý về mối quan hệ giữa cái kinh tế và cái xã hội
trong phát triển”, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội; “Báo cáo phát triển con người
Việt Nam 2001” (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001) của Trung tâm khoa
Nguyễn Văn Tường, GS Đào Ngọc Phong (1999), “Những thay đổi của ngành y
tế trong thời kỳ đổi mới ở Việt Nam (1987 – 1998), Nxb Y học, Hà Nội….
Các công trình nghiên cứu trên bước đầu đã góp phần làm rõ một số vấn
đề như tăng trưởng kinh tế và công cuộc bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân;
các chiến lược cung cấp tài chính cho công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân; khả
năng tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe thiết yếu; các nhà cung ứng dịch vụ
công và tư vì lợi nhuận; cân đối giữa phòng bệnh và điều trị. Đồng thời, các công
trình bước đầu nêu lên một cách khái quát những kết quả, hạn chế, những cơ hội,
thách thức và các vấn đề đặt ra đối với hoạt động bảo vệ, chăm sóc, nâng cao sức
khỏe nhân dân theo hướng tiến bộ và công bằng xã hội.
Tuy nhiên, trong các công trình nghiên cứu trên, không có công trình nào
đi sâu nghiên cứu các chủ trương, sự chỉ đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam về
thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội trong lĩnh vực y tế một cách có hệ thống
trong thời kỳ đổi mới nói chung, giai đoạn 1996 - 2006 nói riêng.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận văn nhằm làm rõ quan điểm, chủ trương, sự chỉ đạo của
Đảng về thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội trong lĩnh vực y tế từ năm 1996
đến năm 2006; đánh giá những thành tựu và hạn chế của việc thực hiện tiến bộ
và công bằng xã hội trong lĩnh vực y tế của Đảng; bước đầu rút ra một số kinh
6
nghiệm và những vấn đề đặt ra nhằm nâng cao hiệu quả của công tác thực hiện
tiến bộ và công bằng xã hội trong lĩnh vực y tế giai đoạn cách mạng tiếp theo.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích trên, luận văn có các nhiệm vụ lớn sau:
- Tập hợp, hệ thống hóa tư liệu lịch sử về sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng
trong việc thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội trong lĩnh vực y tế từ năm 1996
đến năm 2006.
6. Đóng góp của luận văn
- Củng cố một cách hệ thống các tư liệu lịch sử về sự lãnh đạo, chỉ đạo của
Đảng trong việc thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội trong lĩnh vực y tế từ năm
1996 đến năm 2006.
- Góp phần đánh giá những kết quả, hạn chế, nguyên nhân của việc lãnh
đạo, chỉ đạo thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội trong lĩnh vực y tế từ năm
1996 đến năm 2006.
- Đúc kết những kinh nghiệm lịch sử và đề xuất một số khuyến nghị cần
giải quyết về lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội trong lĩnh
vực y tế ở giai đoạn tiếp theo.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục,
luận văn có ba chương:
Chƣơng 1: Đảng lãnh đạo thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội trong lĩnh
vực y tế từ năm 1996 đến năm 2001
8
Chƣơng 2: Đảng lãnh đạo đẩy mạnh thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội
trong lĩnh vực y tế từ năm 2001 đến năm 2006
Chƣơng 3: Nhận xét chung và các kinh nghiệm chủ yếu
9
Chƣơng 1
ĐẢNG LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN TIẾN BỘ VÀ CÔNG BẰNG XÃ
HỘI TRONG LĨNH VỰC Y TẾ TỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂM 2001
1.1. Sơ lƣợc về thực trạng tiến bộ và công bằng xã hội trong lĩnh vực y tế
chúng nhân dân. Ý nghĩa của sự sáng tạo ấy là thực hiện đầy đủ nguyên tắc công
bằng xã hội đi đôi với trình độ cao của phúc lợi xã hội.
Như vậy, tiến bộ xã hội là một khái niệm phản ánh sự vận động của xã hội
từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, là sự vận động của xã hội loài người
từ hình thái kinh tế - xã hội này lên hình thái kinh tế - xã hội khác cao hơn, hoàn
thiện hơn, cả về cơ sở hạ tầng kinh tế lẫn kiến trúc thượng tầng về pháp lý, chính
trị và hình thái ý thức xã hội. Lịch sử loài người nói chung bao giờ cũng vận
động theo hướng tiến bộ mà mỗi hình thái kinh tế - xã hội là một nấc thang của
tiến bộ xã hội.
Tiến bộ xã hội trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam có
những tiêu chí sau:
- Lực lượng sản xuất phát triển với hàm lượng khoa học ngày càng cao và
với quan hệ sản xuất phù hợp theo định hướng xã hội chủ nghĩa; kinh tế tăng
trưởng nhanh, có chất lượng cao và bền vững.
- Quyền làm chủ của nhân dân đối với mọi mặt của đời sống xã hội được
bảo đảm; nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân trong
sạch, vững mạnh. Dân chủ được phát huy, kỷ luật, kỷ cương được tôn trọng.
11
- Văn hóa, giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ được mở mang,
trình độ dân trí phát triển, quan hệ giữa con người với con người lành mạnh,
những thói hư, tật xấu và tệ nạn xã hội được đẩy lùi. Đây là thước đo trí tuệ và
đạo đức của tiến bộ xã hội.
- Môi trường sinh thái được bảo vệ và cải thiện.
- Con người có điều kiện từng bước phát triển về thể chất, trí tuệ, đạo đức,
nghề nghiệp; có cuộc sống ngày càng ấm no, tự do, hạnh phúc; được cống hiến
và hưởng thụ công bằng thành quả của sự phát triển.
Một xã hội vận động theo hướng đi lên chủ nghĩa xã hội phải là một xã hội
ngày càng giàu có về của cải vật chất, đem lại cho con người cuộc sống ngày
Theo quan điểm của các nhà kinh điển Mác – Lênin, dưới chủ nghĩa xã
hội, công bằng xã hội là sự ngang nhau giữa người với người trong xã hội chủ
yếu về phương diện phân phối sản phẩm xã hội theo nguyên tắc: cống hiến lao
động ngang nhau thì hưởng thụ ngang nhau. Khi đề cập tới nguyên tắc phân
phối dưới chủ nghĩa xã hội, chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Chủ nghĩa xã
hội là công bằng hợp lý: Làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, không làm
không hưởng. Những người già yếu hoặc tàn tật sẽ được nhà nước giúp đỡ, chăm
nom” [52, tr.176].
Như vậy, vào thời của mình, các nhà sáng lập chủ nghĩa xã hội khoa học
và chủ tịch Hồ Chí Minh chủ yếu nói về công bằng xã hội thể hiện tập trung ở
chế độ phân phối theo lao động dưới chủ nghĩa xã hội. Còn chế độ phân phối
trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội – tức là thời kỳ nằm ở nấc thang phát
13
triển thấp hơn so với thời kỳ chủ nghĩa xã hội – thì các ông chưa có đủ điều kiện
bàn tới. Đây chính là điều Đảng ta từng bước bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác
– Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh bằng những kết luận mới rút ra từ thực tiễn sinh
động của quá trình đổi mới toàn diện đất nước. Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ
X chỉ rõ: “Thực hiện chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả
kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác và thông qua
phúc lợi xã hội” [37, tr.77].
Ngày nay, công bằng xã hội được hiểu không chỉ giới hạn ở công bằng về
kinh tế - mặc dù đây là yếu tố nền tảng – mà còn là công bằng trong lĩnh vực
chính trị, pháp lý, văn hóa, xã hội… Công bằng xã hội là một giá trị cơ bản định
hướng cho việc giải quyết mối quan hệ giữa người với người trong tất cả các
lĩnh vực của đời sống xã hội theo nguyên tắc: Cống hiến về vật chất và tinh thần
ngang nhau cho sự phát triển xã hội thì được hưởng ngang nhau những giá trị
vật chất và tinh thần do xã hội tạo ra, phù hợp với khả năng hiện thực của đất
nước [28, tr.145]. Song, vì hoàn cảnh cụ thể của mỗi người khác nhau, cho nên
Những năm cuối thập niên 70 đầu thập niên 80 của thế kỷ XX, sau khi giải
phóng miền Nam, bên cạnh những thuận lợi cơ bản và những thành tựu bước đầu
giành được, nước ta cũng đứng trước nhiều khó khăn, thách thức mới. Trên thế
giới, trước sự tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học công nghệ, xu
thế toàn cầu hóa, chạy đua kinh tế, cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa xã hội và chủ
nghĩa tư bản có nhiều diễn biến phức tạp, hầu hết các nước xã hội chủ nghĩa lâm
vào khủng hoảng về kinh tế - xã hội. Ở trong nước, tư tưởng chủ quan, say sưa
15
với thắng lợi, nôn nóng muốn tiến nhanh lên chủ nghĩa xã hội trong một thời
gian ngắn dẫn đến việc bố trí sai cơ cấu kinh tế, cơ cấu đầu tư, cộng với khuyết
điểm của mô hình kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp, bộc lộ ngày càng
rõ, làm cho kinh tế - xã hội rơi vào trì trệ, khủng hoảng, đời sống nhân dân gặp
nhiều khó khăn. Nước ta lại bị các nước thù địch bao vây, cấm vận, chiến tranh
biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc xảy ra gây hậu quả rất nặng nề.
Trước tình hình đó, Đảng và nhân dân ta thấy không còn sự lựa chọn nào
khác là phải đổi mới, trước hết là đổi mới cách nghĩ, cách làm nhằm xây dựng
chủ nghĩa xã hội một cách hiệu quả hơn. Sau những tháng tìm tòi, thử nghiệm,
đấu tranh tư tưởng và tổng kết thực tiễn, đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
VI (12-1986), Đảng ta đã đưa ra đường lối đổi mới toàn diện, trên cơ sở đó lãnh
đạo nhân dân tiến hành công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đạt nhiều thành
tựu to lớn, quan trọng.
1.1.2.1. Một số chính sách về chính trị, kinh tế, xã hội và y tế liên quan đến sự
thay đổi của ngành y tế
Trước năm 1986, chúng ta gặp nhiều khó khăn trên các lĩnh vực, sản xuất
đình trệ, tăng trưởng thấp trên tất cả các ngành kinh tế, xã hội như nông nghiệp,
công nghiệp, xây dựng, giao thông vận tải, thiếu lương thực gay gắt, hàng năm
phải nhập từ 70 đến 80 vạn tấn gạo. Lạm phát tăng nhanh đầu những năm 1980,
Một số chủ trương đổi mới trong ngành y tế.
- Chính sách thu một phần viện phí.
17
Ngày 24/4/1989, theo quyết định số 45-HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng,
các cơ sở chữa bệnh trong hệ thống nhà nước được phép thu một phần viện phí
để cải thiện điều kiện phục vụ bệnh nhân.
Ngày 27/8/1994, Chính phủ ban hành Nghị định 95/CP; ngày 23/5/1995,
ban hành Nghị định 33/CP thay đổi một số điều khoản trong việc sử dụng viện
phí cho các hoạt động chăm sóc sức khỏe nhân dân.
Chính sách thu một phần viện phí đã tác động một cách đáng kể đến
ngành y tế, tăng nguồn ngân sách cho hoạt động của các bệnh viện, góp phần
nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, nâng cao tinh thần tham gia của cộng
đồng. Tuy nhiên, việc thu viện phí cũng chỉ là một giải pháp tình thế trong giai
đoạn trước mắt của thời kỳ quá độ, vì nó tạo nên sự mất công bằng trong chăm
sóc sức khỏe.
- Chính sách hành nghề y dược tư nhân.
Trên cơ sở quyết định số 45/HĐBT ngày 24/4/1989, ngày 29/4/1989 Bộ y
tế có quyết định số 217-BYT/QĐ ban hành quy chế về tổ chức và hoạt động của
y tế tư nhân và quy chế tổ chức mạng lưới kinh doanh thương mại thuốc chữa
bệnh thuộc khu vực tập thể và tư nhân.
Sau một thời gian thực hiện chủ trương đa dạng hóa các loại hình chăm
sóc sức khỏe, ngày 13/10/1993 Chủ tịch nước ký pháp lệnh hành nghề y dược tư
nhân số 26/LCTN.
Với những chính sách trên, các loại dịch vụ y tế tư nhân đã phát triển
mạnh mẽ. Hàng loạt phòng khám tư, bệnh viện tư, bệnh viện liên doanh, nhà
thuốc đã ra đời, tham gia tích cực vào công tác chăm sóc sức khỏe cho nhân dân,
đặc biệt là cung cấp các dịch vụ cơ bản tại cơ sở. Như vậy, ở Việt Nam đã hình
Tại tuyến cơ sở, trong giai đoạn đầu của thời kỳ đổi mới, số lượng cán bộ
y tế giảm, do nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân chính là do tình trạng nợ
đọng lương, hậu quả của sự thay đổi hệ thống hợp tác xã nông nghiệp.
Trên cơ sở tình hình ấy, Quyết định số 58/TTg ngày 3/2/1994 của Thủ
tướng Chính phủ đã phục hồi, củng cố mạng lưới y tế cơ sở, lương của cán bộ y
tế cơ sở đã được chi bằng ngân sách nhà nước. Vì thế, số trạm y tế đã tăng lên từ
9182 trạm (năm 1995) lên 9806 trạm (năm 1997). [93, tr.141].
Tại tuyến huyện, quận: Chủ trương thành lập trung tâm y tế quận, huyện
nhằm lồng ghép hoạt động để có thể huy động tối đa nguồn lực y tế rất hạn hẹp.
Mỗi trung tâm y tế bao gồm bệnh viện huyện, đội vệ sinh phòng dịch, đội sinh
đẻ kế hoạch hóa gia đình, đội y tế dự phòng, một phòng khám đa khoa. Trong
thời kỳ này không có sự thay đổi về các bệnh viện huyện. Nghị định 01/NĐCP
năm 1998 khẳng định mô hình trung tâm y tế huyện và quản lý y tế theo ngành
dọc.
Tại tuyến tỉnh và tuyến Trung ương: Không có thay đổi gì nhiều về mặt tổ
chức y tế. Tỷ lệ giường bệnh trên 10.000 dân thay đổi theo thời gian và giảm dần
trong năm 1996 – 1997. Tuy nhiên, hiệu suất sử dụng giường bệnh tăng lên
đáng kể.
Về cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế: Trong giai đoạn đầu của thời kỳ đổi
mới, trang thiết bị y tế tại các tuyến đa số là thiếu và cũ, đặc biệt là tuyến y tế xã,
phường. Trong khoảng từ năm 1993 đến năm 1996, nhu cầu hiện đại hóa các
trang thiết bị y tế và do sự hội nhập với các nước trong khu vực và các nước trên
thế giới, trang thiết bị y tế ở tuyến tỉnh và Trung ương đã tương đối đầy đủ, có
chất lượng tốt. Tại các tuyến huyện, xã được bổ sung nhiều và từng bước nâng
cấp.
20