Đường lối cách mạng của Đảng cộng sản Việt Nam Nhóm 01
Luận văn
Đề tài: Phân tích quan điểm Phát triển nhanh, hiệu
quả và bền vững; tăng trưởng kinh tế đi đôi với
thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi
trường tự nhiên, bảo tồn đa dạng sinh học
1
Đường lối cách mạng của Đảng cộng sản Việt Nam Nhóm 01
Mục lục
Mục lục 2
2
Đường lối cách mạng của Đảng cộng sản Việt Nam Nhóm 01
BÁO CÁO MÔN ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN
VIỆT NAM
Đề tài:
“Phân tích quan điểm: Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững; tăng trưởng
kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường tự
nhiên, bảo tồn đa dạng sinh học”
DANH SÁCH NHÓM 01
STT HỌ VÀ TÊN LỚP MÃ SINH VIÊN
1 TRẦN NGỌC HÙNG QTKD D 54 543064
2 VŨ THỊ HUYỀN (Nhóm trưởng) KTC 54 541341
3 HOÀNG VĂN LỘC KTC 54 541351
4 NGUYỄN THỊ MẾN KTC 54 541249
5 NGÔ THỊ HỒNG NHUNG KTC 54 541367
6 BÙI THỊ BÍCH PHƯỢNG KTB 54 541258
7 ĐẶNG THỊ THU TRANG KTC 54 541391
8 NGUYỄN THỊ MINH TRANG KTC 54 541392
3
Đường lối cách mạng của Đảng cộng sản Việt Nam Nhóm 01
kỳ đổi mới đất nước, nhóm chúng em xin tìm hiểu đề tài: “Phân tích quan điểm:
Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững; tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện
tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường tự nhiên, bảo tồn đa dạng sinh
học”. Trong quá trình tìm hiểu, phân tích, nhóm không tránh khỏi những khuyết
điểm. Chúng em rất mong nhận được sự góp ý của cô để bài làm được hoàn thiện hơn
nữa.
Chúng em xin chân thành cảm ơn!
II. NỘI DUNG
II.1. Một số khái niệm
Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững
Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững là phát triển đáp ứng nhu cầu của hiện tại
mà không làm ảnh hưởng đến khả năng đáp ứng đầy đu rnhu cầu của thế hệ tương lai.
Phát triển bền vững phải bảo đảm có sự phát triển kinh tế hiệu quả, xã hội công bằng
và môi trường được bảo vệ, gìn giữ. Để đạt được điều này, tất cả các thành phần kinh
5
Đường lối cách mạng của Đảng cộng sản Việt Nam Nhóm 01
tế - xã hội, nhà cầm quyền, các tổ chức xã hội phải bắt tay nhau thực hiện nhằm
mục đích dung hòa 3 lĩnh vực chính: Kinh tế - xã hội – môi trường.
Công bằng xã hội:
Theo quan điểm của các nhà kinh điển Mác-Lenin, dưới công bằng xã hội, công
bằng xã hội là sự ngang bằng nhau giữa người và người trong xã hội chủ yếu về
phương diện phân phối sản phẩm xã hội theo nguyên tắc: cống hiến lao động ngang
nhau thì hưởng thụ ngang nhau. Công bằng xã hội là một giá trị cơ bản định hướng
cho việc giải quyết mối quan hệ giữa người với người trong tất cả các lĩnh vực của
đời sống xã hội theo nguyên tắc: cống hiến về vật chất và tinh thần ngang nhau cho sự
phát triển xã hội thì được hưởng ngang nhau những giá trị vật chất và tinh thần do xã
hội tạo ra, phù hợp với khả năng thực hiện của đất nước.
Tiến bộ xã hội:
Là 1 khái niệm phản ánh sự vận động của xã hội từ thấp đến cao, từ đơn giản đến
phức tạp, là sự vận động của loài người từ hình thái kinh tế - xã hội này lên tới hình
mục tiêu cơ bản của công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa là xây dựng một nền kinh tế xã
hội chủ nghĩa cân đối và hiện đại; bước đầu xây dựng cơ sở vật chất và kỹ thuật của
chủ nghĩa xã hội. Đó là mục tiêu cơ bản, lâu dài, phải thực hiện qua nhiều giai đoạn.
Sau năm 1986 Đảng và nhà nước ta đã nhấn mạnh: Phát triển theo định hướng XHCN
đòi hỏi phải kết hợp chặt chẽ tăng trưởng kinh tế với công bằng và tiến bộ xã hội. Đại
hội VII đã nhấn mạnh “Tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã
hội, phát triển văn hoá, bảo vệ môi trường”.
Xây dựng xã hội ở nước ta thực chất là nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội
công bằng dân chủ, văn minh.Để thực hện mục tiêu đó, trước hết kinh tế phải phát
triển nhanh, hiệu quả, bền vững. chỉ có như vậy mới có khả năng xóa đói giảm nghèo,
nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, phát triển văn hóa, giáo dục, y tế,
rút ngắn khoảng cách chênh lệch ở các vùng với nhau.
Mặt khác, tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội có mối quan hệ chặt chẽ,
tác động lẫn nhau. Mỗi bước tăng trưởng kinh tế lại tạo ra điều kiện để thực hiện tiến
7
Đường lối cách mạng của Đảng cộng sản Việt Nam Nhóm 01
bộ và công bằng xã hội cao hơn nữa. Vì vậy cần “thực hiện tiến bộ và công bằng xã
hội ngay trong từng bước và từng chính sách phats triển”. điều đó đòi hỏi phải kết
hợp các mục tiêu kinh tế với các mục tiêu xã hội trong phạm vi cả nước, ở từn lĩnh
vực, địa phương, thực hiện tốt các chính sách xã hội trên cơ sở phát triển kinh tế, gắn
quyền lợi nghĩa vụ, cống hiến, hưởng thụ, tạo động lực mạnh mẽ và bền vững hơn cho
phát triển kinh tế xã hội.
Sự phát triển nhanh, hiệu quả bền vững có quan hệ chặt chẽ với bảo vệ môi trường tự
nhiên và bảo tồn đa dạng sinh học. Môi trường tự nhiên và sự đa dạng sinh học là môi
trường sống và hoạt động kinh tế của con người. Bảo vệ môi trường tự nhiên và bảo
tồn đa dạng sinh học chính là bảo vệ điều kiện sống của con người và cũng là nội
dung của sự phát triển bền vững. Nếu môi trường bị ô nhiễm, tài nguyên bị cạn kiệt,
rừng bị tàn phá, đất bị xói mòn và tình trạng sa mạc hoá, biến đổi khí hậu, nguy cơ
nước biển dâng… làm thu hẹp không gian sinh tồn của con người chẳng những tác
động tiêu cực đến cuộc sống hiện tại mà còn đe doạ sự phát triển của các thế hệ tương
hợp. Thể chế kinh tế thị trường, chất lượng nguồn nhân lực, kết cấu hạ tầng vẫn là
những điểm cản trở sự phát triển. Nền tảng để Việt Nam trở thành nước công nghiệp
theo hướng hiện đại chưa được hình thành đầy đủ. Vẫn đang tiềm ẩn những yếu tố
gây mất ổn định chính trị - xã hội và đe dọa chủ quyền quốc gia.
Trên cơ sở phân tích khoa hoc các điều kiện đó, Đảng ta nêu ra các quan điểm
mới chỉ đạo quá trình thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong điều
kiện mới. Một trong những quan điểm khá quan trọng của Đảng về công nghiệp hóa,
hiện đại hóa thời kỳ đổi mới là: “Phát triển nhanh, hiệu quả, bền vững; tăng trưởng
kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường tự nhiên
bảo tồn đa dạng sinh học”.
II.3. Một số chính sách, chương trình cụ thể nhằm thực hiện quan điểm trên.
Chương trình 134
Chương trình 134 là tên thông dụng của Chương trình hỗ trợ đất sản xuất, đất
ở, nhà ở và nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó
khăn mà Chính phủ Việt Nam áp dụng từ năm 2004 nhằm mục đích đẩy nhanh tiến độ
9
Đường lối cách mạng của Đảng cộng sản Việt Nam Nhóm 01
xóa nghèo cho các hộ dân tộc thiểu số ở Việt Nam. Sở dĩ gọi là Chương trình 134 vì
số hiệu của Quyết định của Thủ tướng chính phủ Việt Nam phê duyệt chương trình
này là 134/2004/QĐ-TTg.
Chương trình 135
Chương trình phát triển kinh tế xã hội các xã đặc biệt khó khăn vùng dân tộc
thiểu số và miền núi (hay đọc là: "chương trình một-ba-năm"), là một trong các
chương trình xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam do Nhà nước Việt Nam triển khai từ
năm 1998. Chương trình được biết đến rộng rãi dưới tên gọi Chương trình 135 do
Quyết định của Thủ tướng Chính phủ Việt Nam phê duyệt thực hiện chương trình này
có số hiệu văn bản là 135/1998/QĐ-TTg. Theo kế hoạch ban đầu, chương trình sẽ kéo
dài 7 năm và chia làm hai giai đoạn; giai đoạn 1 từ năm ngân sách 1998 đến năm
2000 và giai đoạn 2 từ năm 2001 đến năm 2005. Tuy nhiên, đến năm 2006, Nhà nước
Việt Nam quyết định kéo dài chương trình này thêm 5 năm, và gọi giai đoạn 1997-
sung 65 vạn hecta;
Giai đoạn 2006-2010: trồng mới 2 triệu hecta.
Tổng vốn đầu tư dự kiến là 31.650 tỷ đồng.
Chính sách tăng cường cán bộ cho các xã thuộc huyện nghèo.
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã ký ban hành Quyết định số 08/2011/QĐ-TTg
ngày 26/01/2011 về việc tăng cường cán bộ cho các xã thuộc huyện nghèo để thực
hiện Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP ngày 27/12/2008 của Chính phủ về Chương
trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo. Người được bố
trí vào chức danh Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã (PCTX) được lựa chọn từ cán bộ,
công chức tỉnh, huyện và từ trí thức trẻ tình nguyện là đối tượng của Dự án thí điểm
11
Đường lối cách mạng của Đảng cộng sản Việt Nam Nhóm 01
tuyển chọn 600 tri thức trẻ ưu tú có trình độ đại học tăng cường về làm PCTX thuộc
62 huyện nghèo đươc Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.
Chính sách hỗ trợ tiền điện cho hộ nghèo:
Định mức hỗ trợ: 30.000 đồng/tháng/hộ, thời gian thực hiện chính sách bắt đầu
từ 01/3/2011; Việc hỗ trợ được thực hiện theo phương thức chi trả bằng tiền trực tiếp
cho hộ nghèo trên địa bàn theo định kỳ hàng quý (30.000 đồng/hộ/tháng x 3 tháng =
90.000 đồng), riêng tháng 3/2011 được chi trả cùng quý II/2011.
Hỗ trợ xuất khẩu nông sản:
Đối với sản phẩm gạo: Hỗ trợ lãi suất thu mua lúa gạo trong vụ thu hoạch, hỗ trợ
lãi suất cho doanh nghiệp xuất khẩu gạo, hỗ trợ lãi suất xuất khẩu gạo trả chậm, bù lỗ
cho doanh nghiệp xuất khẩu gạo, thưởng xuất khẩu.
Đối với mặt hàng cà phê: Hoàn phụ thu, bù lỗ cho tạm trữ cà phê xuất khẩu, bù
lỗ cho doanh nghiệp xuất khẩu cà phê, hỗ trợ lãi suất tạm trữ, thưởng xuất khẩu.
Luật bảo vệ môi trường
Luật bảo vệ môi trường được ban hành lần đầu tiên vào ngày 10 tháng 1 năm 1994 và
sửa đổi bổ sung năm 2005. Nhằm mục đích nâng cao hiệu lực quản lý Nhà nước và
trách nhiệm của chính quyền các cấp, các cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức
xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi cá nhân trong việc bảo vệ môi trường nhằm
đại, nội hàm của công bằng xã hội được bổ sung, mở rộng và phát triển đáng kể. Điều
này thể hiện ở nội dung quan trọng nhất của công bằng xã hội không phải là công
bằng về phân phối thu nhập mà là công bằng về cơ hội phát triển. Từ đó dẫn tới một
nhận thức mới về công bằng xã hội là quy vấn đề công bằng xã hội về cơ hội phát
triển và năng lực thực hiện cơ hội, nội hàm của công bằng xã hội sẽ phải bao hàm cả
công bằng sự công bằng trong việc phân phối các cơ hội và điều kiện thực hiện cơ
hội. Trong xã hội, khi một chủ thể có cơ hội phát triển bình đẳng với các chủ thể khác
thì có nghĩa là chủ thể ấy có cơ sở bền vững để đạt được và duy trì một cách vững
13
Đường lối cách mạng của Đảng cộng sản Việt Nam Nhóm 01
chắc sự công bằng trong thu nhập. Tác động của tăng trưởng kinh tế với việc giải
quyết vấn đề công bằng và tiến bộ xã hội ở nước ta có thể xem xét trên các mặt sau:
A. Tăng trưởng kinh tế với vấn đề giải quyết việc làm
Giải quyết việc làm cho người lao động gắn với sự phát triển của thị trường lao
động, có tác động không chỉ đối với sự phát triển kinh tế, mà còn góp phần giải quyết
một vấn đề cấp thiết và cơ bản là chuyển đổi cơ cấu lao động đáp ứng yêu cầu đòi hỏi
của nền kinh tế hiện nay. Đó là tiền đề quan trọng để sử dụng có hiệu quả nguồn lao
động xã hội; là yếu tố quyết định để phát huy nhân tố con người, ổn định và phát triển
kinh tế, làm lành mạnh xã hội, đáp ứng nguyện vọng chính đáng và yêu cầu bức xúc
của nhân dân.
Sau 25 năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, vấn đề lao động, việc làm ở nước
ta đã từng bước được giải quyết theo hướng tuân theo quy luật khách quan của kinh tế
hàng hóa và thị trường lao động, góp phần đưa nền kinh tế nước ta phát triển đạt được
những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử. Hằng năm nước ta có khoảng 1,7 triệu
người bước vào độ tuổi lao động, số lượng lao động tăng hằng năm khoảng 2%/năm.
Năm 2000 nước ta có 37,6 triệu lao động, năm 2005 là 42,5 triệu và năm 2006 là
43,35 triệu. Số lao động được giải quyết việc làm bình quân hằng năm khoảng 1,5 đến
1,6 triệu người. Tỷ lệ thất nghiệp thành thị giảm từ 5,88% năm 1996 xuống còn
5,31% năm 2005 và đến năm 2006 còn 4,82%. Tuy nhiên vùng nông thôn tỷ lệ thiếu
việc làm vẫn ở mức khá cao, nhất là ở khu vực đồng bằng.
có 20 tỉnh, thành phố được công nhận đạt chuẩn quốc gia. Một số tỉnh và thành phố
đã bắt đầu thực hiện PCGD bậc trung học (bao gồm THPT, THCN và dạy nghề). Số
năm đi học bình quân của cư dân 15 tuổi trở lên tăng liên tục từ 4,5 (vào năm 1990)
lên 6,34 (vào năm 2000) và đến năm 2003 là 7,3. Bình đẳng giới trong giáo dục tiếp
tục được đảm bảo. Đây là những thành tựu quan trọng, nhất là khi so sánh với các
nước có trình độ phát triển kinh tế và thu nhập tính theo đầu dân tương đương hoặc
cao hơn nước ta.
Về đào tạo nhân lực: Tỷ lệ lao động qua đào tạo từ 13% năm 1998 đã tăng lên trên
23% năm 2003. Chất lượng nguồn nhân lực đã có chuyển biến tích cực. Trong những
15
Đường lối cách mạng của Đảng cộng sản Việt Nam Nhóm 01
thành tựu tăng trưởng kinh tế của đất nước hơn 10 năm qua có phần đóng góp rất
quan trọng của đội ngũ lao động, mà tuyệt đại đa số được đào tạo ở trong nước. Nước
ta cũng đã bắt đầu chủ động đào tạo được nguồn nhân lực phục vụ xuất khẩu lao
động.
Về bồi dưỡng nhân tài: việc đào tạo, bồi dưỡng học sinh, sinh viên có năng khiếu
đã được chú trọng và đạt được những kết quả rõ rệt. Nhà nước và một số ngành, địa
phương đã dành một phần ngân sách để triển khai chương trình đào tạo cán bộ trình
độ cao (thạc sĩ, tiến sĩ) trong các lĩnh vực khoa học, công nghệ, quản lý v.v. ở các
nước tiên tiến. Số cán bộ này, sau khi tốt nghiệp đã trở về nước công tác và bắt đầu
phát huy tác dụng.
Tỷ lệ chi phí cho giáo dục ở Việt Nam 2000-2005
Năm
2000 2002 2003 2004 2005
Tổng chi cho giáo
dục(1000tỷ)
23,219 34,088 37,552 54,223 68,968
Tỷ lệ chi/GDP(%) 5,3 7,8 6,1 7,6 8,3
Tỷ lệ NS cho giáo
dục/GDP
động ứng phó với biến đổi khí hậu. Bên cạnh đó thì vấn đề bảo tồn đa dạng sinh học
cũng được Đảng và Nhà nước ta quan tâm mà điển hình là hệ thống vườn quốc gia
như: vườn quốc gia Cúc Phương, vườn quốc gia Cát Bà, Cát Tiên, Bạch Mã, Ba Vì…
Hệ thống vườn quốc gia này không chỉ là những kho báu với nhiều loài động vật quý
hiếm như bò tót, voi châu Á, gà lôi hồng tía, vượn đen má vàng mà còn là kiểu rừng
nguyên sinh tiêu biểu cho hệ sinh thái rừng ẩm nhiệt đới thấp với nhiều loại gỗ quý
như: gõ, giáng hương, trắc, cẩm lai cùng nhiều loại cây cổ thụ hàng chục người ôm
không xuể. Đây chính là môi trường sống quan trọng và có ý nghĩa nhất đối với việc
bảo tồn sự đa dạng sinh học, bao gồm cả những loài đang bị đe dọa tuyệt chủng, có
giá trị nổi bật toàn cầu theo quan điểm cả về khoa học lẫn bảo tồn.
II.4.3. Những mặt hạn chế
17
Đường lối cách mạng của Đảng cộng sản Việt Nam Nhóm 01
Trong những năm qua, tuy nước ta đã đạt được những thành quả quan trọng như
đánh giá trên đây, song vẫn còn không ít yếu kém và khuyết điểm về tăng trưởng kinh
tế, công bằng và tiến bộ xã hội cũng như việc kết hợp tăng trưởng kinh tế với công
bằng và tiến bộ xã hội ở Việt Nam. Những thành tựu đạt được chưa tương xứng với
tiềm năng. Chất lượng, năng suất, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp.
Tăng trưởng kinh tế còn dựa nhiều vào các yếu tố phát triển theo chiều rộng, chậm
chuyển sang phát triển theo chiều sâu. Huy động và hiệu quả sử dụng các nguồn lực
còn hạn chế; lãng phí, thất thoát còn nhiều; hiệu quả đầu tư thấp. Tiêu hao nguyên
liệu, năng lượng còn rất lớn. Việc khai thác và sử dụng tài nguyên chưa thật hợp lý và
tiết kiệm. Các cân đối kinh tế vĩ mô chưa thật vững chắc, bội chi ngân sách, thâm hụt
cán cân thương mại còn lớn, lạm phát còn cao. Môi trường sinh thái nhiều nơi bị ô
nhiễm nặng.
Tăng trưởng kinh tế tuy đạt cao và tương đối ổn định song chưa bền vững và chất
lượng tăng trưởng thấp. Năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, của các doanh nghiệp và
của sản phẩm còn thấp. Theo đánh giá của diễn đàn kinh tế thế giới (WEF), nguyên
nhân chủ yếu dẫn đến thứ hạng năng lực cạnh tranh (GCI) của Việt Nam thấp là nạn
tham nhũng, bộ máy hành chính kém hiệu quả, kết cấu hạ tầng chưa thích hợp, lực
nghiệp vụ của một bộ phận còn thấp. Một số hiện tượng tiêu cực trong giáo dục chậm
được giải quyết. Tình trạng dạy thêm, học thêm tràn lan tồn tại từ nhiều năm nay, có
những biểu hiện tiêu cực nhưng chưa tìm được giải pháp cơ bản để ngăn chặn có hiệu
quả. Bệnh thành tích đã tác động đến quá trình giảng dạy, học tập, đánh giá học sinh,
cũng như công tác quản lý giáo dục, và đây là một trong những nguyên nhân làm cho
việc đánh giá tình hình giáo dục, nhất là về chất lượng, chưa phản ánh hết thực chất.
Về y tế: Chất lượng dịch vụ y tế chưa đáp ứng nhu cầu ngày càng cao và đa dạng
của nhân dân. Điều kiện chăm sóc y tế cho người nghèo, vùng sâu, vùng xa, vùng dân
tộc thiểu số còn nhiều khó khăn. Đầu tư của Nhà nước cho y tế còn thấp, phân bổ và
sử dụng nguồn lực chưa hợp lý y tế cơ sở vừa yếu, vừa thiếu nên không điều trị
19
Đường lối cách mạng của Đảng cộng sản Việt Nam Nhóm 01
được những bệnh khó. Hầu hết người dân đều có tư tưởng đưa người bệnh vượt tuyến
về các chuyên khoa, các viện ở Trung ương gây nên tình trạng quá tải cho tuyến trên,
trong khi đó các thầy thuốc tuyến dưới hầu như không có việc, kỹ năng chuyên môn
cũng vì thế mai một, giảm sút.
Về môi trường: Chất lượng môi trường đang tiếp tục xấu đi gây ảnh hưởng tiêu cực
đến sức khỏe và đời sống của nhân dân. Ô nhiễm đất, nước, không khí đang lan rộng,
có nơi ở mức độ trầm trọng, không những tại các khu công nghiệp, khu đô thị dân cư
đông đúc mà cả ở những vùng nông thôn. Tài nguyên thiên nhiên bị khai thác tràn lan,
quá mức, thiếu sự kiểm soát. Nguồn nước mặt, nước ngầm nhiều nơi bị suy thoái, cạn
kiệt, đã xuất hiện các ’’dòng sông chết’’. Đa dạng sinh học tiếp tục bị suy giảm, gây
mất cân bằng sinh thái ở nhiều nơi. Biến đổi khí hậu đã gây ra triều cường, lũ, lụt,
mưa, bão với cường độ ngày càng lớn, diễn biến phức tạp, khó lường. Lịch sử của
ngành khí tượng chưa bao giờ thấy hiện tượng lượng mưa trong một ngày gần bằng
lượng mưa của cả một năm như ở miền Trung nước ta trong năm vừa qua. Hàng năm,
chúng ta phải hứng chịu hàng chục cơn bão, mưa lũ làm chết hàng trăm người, gây
thiệt hại hàng chục nghìn tỷ đồng. Thành quả xây dựng và phát triển của địa phương
trong nhiều năm chỉ sau một đợt thiên tai có thể biến mất nếu không dự báo đúng và
có biện pháp ứng phó kịp thời. Những vấn đề nêu trên nếu không có giải pháp cấp
văn hoá, củng cố quốc phòng, an ninh, tăng cường quan hệ đối ngoại, thực hiện tốt hai
nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Phát triển, nâng cao chất lượng
giáo dục và đào tạo, chất lượng nguồn nhân lực; phát triển khoa học, công nghệ và
kinh tế tri thức. Tập trung giải quyết vấn đề việc làm và thu nhập cho người lao động,
nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Tạo bước tiến rõ rệt về thực
hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm an sinh xã hội, giảm tỉ lệ hộ nghèo; cải
thiện điều kiện chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân. Tiếp tục xây dựng nền văn hoá Việt
21
Đường lối cách mạng của Đảng cộng sản Việt Nam Nhóm 01
Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá tốt đẹp
của dân tộc đồng thời tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại.
Bốn là,bảo vệ môi trường, chủ động phòng tránh thiên tai, ứng phó có hiệu quả với
biến đổi khí hậu. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng thân thiện với môi trường,
tiếp cận mô hình ’’tăng trưởng xanh’’ đã được đề cập trong Chiến lược phát triển KT
- XH giai đoạn 2010 - 2020 và Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ
lên CNXH. Chúng ta cần kết hợp hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm an sinh
xã hội với BVMT, ứng phó với BĐKH; xây dựng năng lực nội sinh nhằm sử dụng và
phát triển các công nghệ tiết kiệm tài nguyên, nguyên liệu, năng lượng, thân thiện với
môi trường, phát triển kinh tế xanh vì đây là động lực chủ yếu, làm thay đổi cơ cấu
kinh tế, thúc đẩy quá trình cải cách và tái cấu trúc kinh tế chuyển dịch cơ cấu kinh tế
của đất nước ta.
Năm là,tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh; giữ vững ổn định chính trị - xã
hội, độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, trật tự an toàn xã hội; ngăn
chặn, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch; triển
khai đồng bộ, toàn diện, hiệu quả các hoạt động đối ngoại, tích cực, chủ động hội
nhập quốc tế.
22
Đường lối cách mạng của Đảng cộng sản Việt Nam Nhóm 01
III. KẾT LUẬN
Việt Nam đang trên con đường công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước với nền
2. Giáo trình Kinh tế chính trị Mác-Lênin - NXB chính trị Quốc gia 2006.
3. Giáo trình kinh tế phát triển - NXB Lao động - xã hội, Hà Nội 2006.
4. Văn kiện Đại hội ĐCSVN lần thứ VI, VII, VIII, IX, X. NXB Sự thật, Hà Nội.
5. www.tailieu.vn
6. www.tailieuhay.vn
7. www.google.com
24