TIỂU LUẬN: Phân tích tính hiệu quả và công bằng của dự thảo luật thuế nhà, đất 2010 - Pdf 11


TIỂU LUẬN

Phân tích tính hiệu quả và công bằng
của dự thảo luật thuế nhà, đất 2010 Đề tài: Phân tích tính hiệu quả và công bằng của dự thảo luật thuế nhà, đất 2010

Page 1

MỤC LỤC
DANH SÁCH NHÓM 3
PHẦN MỞ ĐẦU 4
1. Mục tiêu nghiên cứu 4
2. Phương pháp nghiên cứu 4
3. Tính cấp thiết của đề tài 5
CHƯƠNG 1. THẤT BẠI THỊ TRƯỜNG NHÀ ĐẤT VIỆT NAM 6
1.1 Thực trạng thuế nhà, đất Việt Nam thời gian qua 6
1.2 Diễn biến thị trường bất động sản Việt Nam thời gian qua 10
CHƯƠNG 2. DỰ THẢO LUẬT THUẾ NHÀ, ĐẤT VÀ CÁC VĂN BẢN PHÁP
LUẬT LIÊN QUAN 12
2.1 Quyền sử dụng đất, quyền sử dụng nhà ở 12
2.1.1 Quyền sử dụng đất 12
2.1.2 Quyền sở hữu nhà ở 12

Page 3

DANH SÁCH NHÓM

1. Đồng Quang Nhật K09.401.0073
2. Bùi Thị Bích Thảo K09.401.0093
3. Dương Minh Triết K09.401.0113
4. Bùi Lê Bảo Khanh K09.401.0051
5. Phạm Thị Thiên Thư K09.401.0102
6. Phạm Thị Huyền Trâm K09.401.0110 Đề tài: Phân tích tính hiệu quả và công bằng của dự thảo luật thuế nhà, đất 2010

Page 4

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Mục tiêu nghiên cứu
Thấy được thất bại thị trường nhà đất Việt Nam và sự cần thiết của sự can thiệp
của Chính phủ.
Phân tích được tính hiệu quả và công bằng của dự thảo thuế nhà, đất 2010(đây

liên quan vì những mục tiêu đó. Tuy chỉ là bản dự thảo, nhưng nó thể hiện quyết tâm
của Chính Phủ nhằm đảm bảo tính hiệu quả và công bằng của thị trường nhà đất Việt
Nam.
Đề tài của nhóm được nghiên cứu nhằm phân tích những hạn chế trong tính hiệu
quả và công bằng của dự thảo luật thuế nhà, đất năm 2010. Bên cạnh đó, nhóm góp ý
xây dựng dự thảo với mong muốn thị trường nhà đất Việt Nam hoạt động công bằng và
hiệu quả.
Đề tài: Phân tích tính hiệu quả và công bằng của dự thảo luật thuế nhà, đất 2010

Page 6

CHƯƠNG 1. THẤT BẠI THỊ TRƯỜNG NHÀ ĐẤT VIỆT NAM
1.1 Thực trạng thuế nhà, đất Việt Nam thời gian qua
Thứ nhất, tình hình thực thế cho thấy mức thu thuế nhà đất còn quá thấp, chưa đủ
thúc đẩy việc sử dụng đất có hiệu quả, tạo nguồn thu bền vững cho ngân sách nhà
nước. Cụ thể, thuế sử dụng đất nông nghiệp và thuế nhà đất tại VN tương tự với thuế
bất động sản ở các nước. Thuế sử dụng đất nông nghiệp được miễn giảm từ năm 2003
và tiếp tục miễn giảm đến năm 2020, nguồn thu khác chỉ phụ thuộc vào quỹ đất phi
nông nghiệp. Tuy nhiên, nguồn thu từ tiền giao đất, cho thuê đất và bán nhà thuộc sở
hữu nhà nước (chiếm phần lớn nguồn thu từ đất) lại không được xem là bền vững,
khoản thu này chỉ nhận được một lần khi giao dịch, không mang tính lâu dài do quỹ đất

Thu thuế
đất
510
568
647
705
824
999
1.531
1.325
Tổng thu
từ bất
động sản
12.513
20.390
20.891
24.35
0
42.133
47.785
51.788
51.030
Tổng thu
ngân
sách nhà
nước
158.05
7
198.614
238.687

2,79%
3,10%
2,90
%
1,96%
2,09%
2,96%
2,60%
Tỷ trọng
thuế đất/
ngân
sách nhà
nước
0,32%
0,29%
0,27%
0,24
%
0,25%
0,23%
0,35%
0,29%
Tỷ trọng
thuế
đất/GDP
0,08%
0,08%
0,08%
0,07
%

xếp hạng lên đô thị loại cao hơn.
Thứ tư, việc xác định mức thuế đất quy định dựa vào mức thuế sử dụng đất nông
nghiệp đã dẫn đến việc xác định thuế gặp nhiều khó khăn. Điều 7 Pháp lệnh sửa đổi bổ
sung Pháp lệnh thuế nhà, đất ngày 19/5/1994 quy định: “Đối với đất ở, đất xây dựng
công trình thuộc thành phố, thị xã, thị trấn, mức thuế đất bằng 3 lần đến 32 lần mức
thuế sử dụng đất nông nghiệp của hạng đất cao nhất trong vùng… Đối với đất ở, đất
xây dựng công trình thuộc vùng ven đô thị, ven trục giao thông chính, mức thuế đất
bằng 1,5 đến 2,5 lần mức thuế sử dụng đất nông nghiệp của hạng đất cao nhất trong
vùng…”. Quy định như trên vừa không thể hiện được tính độc lập của loại thuế này
vừa không đảm bảo tính toán thuế một cách chính xác, hợp lý, không đảm bảo công
bằng bởi phải dựa vào việc xác định hạng đất theo Luật thuế sử dụng đất nông nghiệp.
Trên thực tế, quy định phân hạng đất tại Luật thuế sử dụng đất nông nghiệp năm 1993
về mặt hình thức là rất khoa học, tuy nhiên trên thực tế, việc phân hạng đất thường
Đề tài: Phân tích tính hiệu quả và công bằng của dự thảo luật thuế nhà, đất 2010

Page 9

mang tính chất đối phó, áp đặt theo ý chí chủ quan của các cơ quan quản lý (ngay cả
khi muốn tính toán chính xác để phân hạng thì điều kiện kỹ thuật, nhân lực, vật lực
cũng còn nhiều hạn chế). Từ đó, khi xác định mức thuế đất cũng dẫn đến bất cập tương
tự đã thường xuyên xảy ra với đất nông nghiệp (ví dụ: trong trường hợp cùng một khu
đất nhưng thuộc hai địa phương khác nhau thì mức thuế áp dụng sẽ khác nhau do việc
xác định hạng đất nông nghiệp ở hai địa phương không đồng nhất).
Áp dụng căn cứ tính thuế nhà, đất trên cơ sở tính thuế của thuế sử dụng đất nông
nghiệp cũng là nguyên nhân chủ yếu làm cho tỷ lệ động viên thuế nhà, đất quá thấp so
với thuế sử dụng đất nông nghiệp vì quy định mức thuế đất cao nhất là bằng 32 lần
mức thuế sử dụng đất nông nghiệp, không phản ánh được giá trị thật mà đất ở, đất xây
dựng công trình mang lại. Giá đất ở, đất xây dựng công trình cao hơn rất nhiều so với
đất nông nghiệp và những lợi nhuận mà nó mang lại có khi gấp hàng trăm lần đất nông
nghiệp. Theo kết quả tổng hợp của cơ quan thuế, năm 2000, tỷ lệ động viên vào đất ở,

thời hạn chế đáng kể vai trò phân phối lại thu nhập của loại thuế này. Thực tế, cùng với
sự tăng trưởng kinh tế, phân hoá giàu nghèo ngày càng rõ nét hơn, thể hiện ở việc có
rất nhiều biệt thự, ngôi nhà giá trị được xây dựng. Nếu có sự phân hoá hợp lý, việc thu
thuế đối với nhà không những đem lại nguồn thu cho ngân sách mà còn đảm bảo thực
hiện mục tiêu công bằng xã hội.
Thêm vào đó, thuế nhà, đất mới chỉ được tồn tại dưới hình thức pháp lý là Pháp
lệnh, chưa thể hiện được đầy đủ tầm quan trọng của sắc thuế này. Chế độ miễn giảm
quy định trong văn bản pháp luật cũng tạo nên những tiêu cực, chủ quan khi đánh giá,
xem xét. Chi phí quản lý thuế nhà, đất được đánh giá là khá cao trong khi công tác
hành thu lại không hiệu quả, kết quả thu thấp, đóng góp không nhiều vào tổng số thu
thuế chung của nhà nước.

Đề tài: Phân tích tính hiệu quả và công bằng của dự thảo luật thuế nhà, đất 2010

Page 11

1.2 Diễn biến thị trường bất động sản Việt Nam thời gian qua
Như đã thấy ở trên, mức thu thuế đối với đất đai tại Việt Nam thấp và do nhiều bất
cập nên hiệu quả sử dụng BẤT ĐỘNG SẢN tại Việt Nam chưa cao. Hiện tượng đất bỏ
hoang, quy hoạch treo, dự án kéo dài còn phổ biến, đặc biệt là đất đô thị. Tại các thành
phố lớn như Hà Nội và TP.HCM, do bị tác động bởi hiện tượng đầu cơ nên dẫn đến
nhiều nhà bỏ hoang, không đưa vào sử dụng, gây lãng phí quỹ đất. Đến nay vẫn chưa
có cơ quan thống kê hoặc đề tài nghiên cứu nào đưa ra số nhà, đất và dự án bất động
sản bị bỏ hoang, chưa đưa vào khai thác. Tuy nhiên, theo khảo sát của Bộ Tài Chính
năm 2008, cho biết 38%-70% các căn hộ mới tại Hà Nội được thực hiện bởi các nhà
đầu cơ, nhiều chuung cư, căn hộ và biệt thự bỏ trống trong thời gian dài, có khi lên đến
10 năm. Tại TP.HCM, giai đoạn 2004-2010, thành phố đã thu hồi 80/1437 dự án do
không triển khai hoặc triển khai chậm, chiếm 10% diện tích đất được giao.
Bên cạnh đó, thị trường bất động sản phát triển không ổn định, giá cả bất động sản
tăng giảm bất thường làm ảnh hưởng đến phát triển chung của nền kinh tế. Các chỉ số

quyền sử dụng đất; quyền được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất:
1. Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê,
cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất; thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng
quyền sử dụng đất theo quy định khi có các điều kiện sau đây:
a) Có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;
b) Đất không có tranh chấp;
c) Quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án;
d) Trong thời hạn sử dụng đất.
2. Người sử dụng đất được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất theo quy định.
2.1.2 Quyền sở hữu nhà ở
Theo điều 21 (Luật Nhà ở 2005), quyền của chủ sở hữu nhà ở là:
Đề tài: Phân tích tính hiệu quả và công bằng của dự thảo luật thuế nhà, đất 2010

Page 13

1. Chiếm hữu đối với nhà ở.
2. Sử dụng nhà ở.
3. Bán, cho thuê, cho thuê mua, tặng cho, đổi, để thừa kế, cho mượn, cho ở nhờ, uỷ
quyền quản lý, thế chấp nhà ở thuộc sở hữu của mình theo quy định của pháp luật.
4. Bảo trì, cải tạo, phá dỡ hoặc xây dựng lại nhà ở và sử dụng không gian của nhà ở
phù hợp với quy hoạch xây dựng, kiến trúc và các quy định của pháp luật có liên quan.
5. Khiếu nại, tố cáo những hành vi vi phạm quyền sở hữu nhà ở hợp pháp của mình.
6. Yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp mới, cấp đổi, cấp lại Giấy chứng nhận
quyền sở hữu nhà ở, xác nhận những thay đổi sau khi cấp giấy chứng nhận theo quy
định của Luật này.
7. Thực hiện các quyền khác theo quy định của pháp luật.
2.2 Pháp lệnh thuế nhà, đất 1992
2.2.1 Những quy định chung
Tổ chức, cá nhân có quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đất ở, đất xây dựng công
trình, gọi chung là chủ nhà đất, đều phải nộp thuế nhà đất. Trong trường hợp còn có sự

2- Đối với đất: 0,5% giá trị thuế/năm
Đối với đất ở thuộc vùng nông thôn, mức thuế đất ở được quy định như sau:
1- Ở vùng đồi trọc, đá sỏi, mức thuế đất ở bằng mức thuế nông nghiệp cùng hạng
trong vùng;
2- Ở vùng trung du, đồi núi, mức thuế đất ở bằng 1,5 lần mức thuế nông nghiệp
cùng hạng đất trong vùng;
3- Ở vùng đồng bằng, mức thuế đất ở bằng 2 lần mức thuế nông nghiệp cùng
hạng đất trong vùng; riêng ở vùng đồng bằng sông Hồng, đồng bằng sông Cửu Long và
ven các đường quốc lộ, tỉnh lộ, mức thuế đất ở bằng 3 lần mức thuế nông nghiệp cùng
hạng đất trong vùng.
4- Đất ở mà sử dụng vào sản xuất nông nghiệp thì được tính thuế đất bằng mức
thuế nông nghiệp cùng hạng đất trong vùng.
2.2.3 Miễn, giảm thuế
Đề tài: Phân tích tính hiệu quả và công bằng của dự thảo luật thuế nhà, đất 2010

Page 15

Những người thuộc diện được phân phối nhà ở theo chế độ của Nhà nước,
nhưng chưa được phân phối mà có nhà thuộc quyền sở hữu của mình, thì được miễn
thuế nhà đất đối với phần diện tích nhà, đất tương đương với tiêu chuẩn quy định của
Nhà nước.
Những trường hợp sau đây được xét miễn, giảm thuế nhà đất:
1- Nhà xây dựng bằng vật liệu dễ hư hỏng;
2- Nhà hư hỏng phải sửa chữa mà chi phí vượt quá một nửa giá tính thuế nhà;
3- Nhà mới xây dựng trong vòng 3 năm đầu;
4- Nhà xưởng của các xí nghiệp quốc doanh;
5- Nhà đất cơ quan Nhà nước quản lý cho cán bộ, công nhân viên chức Nhà nước thuê;
6- Nhà đất của các đối tượng nộp thuế khó khăn do thiên tai, dịch hoạ, tai nạn bất ngờ.
Thủ tục, thẩm quyền quyết định việc xét giảm thuế, miễn thuế nhà đất do Hội
đồng bộ trưởng quy định.

nhà ở, quyền sử dụng đất thuộc đối tượng chịu thuế quy định tại Điều 2 Luật này thì
pháp nhân mới là người nộp thuế.
2.3.2 Căn cứ tính thuế, định hướng, khai, tính và nộp thuế
2.3.2.1 Giá tính thuế
1. Giá tính thuế đối với nhà ở được xác định bằng diện tích nhà ở chịu thuế nhân với
giá tính thuế của 1m2 nhà ở. Trong đó:
a) Diện tích nhà ở chịu thuế là toàn bộ diện tích sàn xây dựng (kể cả diện tích công
trình phụ, diện tích ban công kèm theo nếu có) của một căn hộ chung cư hoặc nhà ở
theo Giấy chứng nhận, trường hợp chưa được cấp Giấy chứng nhận thì diện tích nhà ở
chịu thuế là diện tích thực tế xây dựng.
b) Giá tính thuế của 1m2 nhà ở được xác định theo tỷ lệ phần trăm trên đơn giá 1m2
nhà ở xây dựng mới của nhà ở cùng loại (kể cả trường hợp sử dụng nhà ở để cho thuê
hoặc kinh doanh) do Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy định.
Chính phủ quy định cụ thể tỷ lệ phần trăm đối với từng loại nhà ở.
Đề tài: Phân tích tính hiệu quả và công bằng của dự thảo luật thuế nhà, đất 2010

Page 17

c) Trường hợp có quyền sở hữu nhiều nhà ở thì giá tính thuế là tổng giá trị các nhà ở
chịu thuế.
2. Giá tính thuế đối với đất được xác định bằng diện tích đất chịu thuế nhân với giá của
1m2 đất:
a) Diện tích đất chịu thuế là diện tích đất ghi trong Giấy chứng nhận, trường hợp chưa
được cấp Giấy chứng nhận thì diện tích đất chịu thuế là diện tích đất thực tế đang sử
dụng.
Trường hợp có quyền sử dụng nhiều thửa đất ở thì diện tích chịu thuế là tổng diện tích
các thửa đất ở có quyền sử dụng.
b) Giá của 1m2 đất chịu thuế là giá đất theo mục đích sử dụng đất do Uỷ ban nhân dân
tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy định, cụ thể như sau:
- Trường hợp đã có Giấy chứng nhận (kể cả trường hợp sử dụng đúng mục đích hoặc

thuế
Diện tích đất chịu thuế
(m2)
Thuế suất
(%)
1
Diện tích trong hạn mức
0.03
2
Phần diện tích vượt hạn mức nhưng không quá 3 lần hạn
mức
0.06
3
Phần diện tích vượt trên 3 lần hạn mức
0.09

3. Đất ở nhà nhiều tầng nhiều hộ ở, nhà chung cư: Áp dụng mức thuế suất là 0,03%.
4. Đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp: Áp dụng mức thuế suất là 0,03% đối với
đất được sử dụng và 0,06% đối với đất sử dụng sai mục đích và chưa sử dụng.
2.3.3 Miễn, giảm thuế
2.3.3.1 Miễn thuế
Miễn thuế cho các trường hợp sau:
1. Đất của dự án đầu tư thuộc lĩnh vực đặc biệt khuyến khích đầu tư; dự án đầu tư tại
địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; dự án đầu tư thuộc lĩnh vực
khuyến khích đầu tư tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn.
2. Đất của cơ sở thực hiện xã hội hoá đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục,
dạy nghề, y tế, văn hoá, thể thao, môi trường.
Đề tài: Phân tích tính hiệu quả và công bằng của dự thảo luật thuế nhà, đất 2010

Page 19

nhà ở từ 20% đến 50% tổng giá trị đất, nhà ở chịu thuế.
4. Nhà ở, đất ở của hộ gia đình, cá nhân tại các xã, phường, thị trấn thuộc địa bàn có
điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn ngoài đối tượng quy định tại khoản 4 Điều
9 Luật này; Nhà ở, đất ở của người dân tộc thiểu số ở các xã, phường, thị trấn thuộc địa
bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn.
5. Đất sử dụng để sản xuất, kinh doanh của hợp tác xã;
6. Các trường hợp khác theo quy định của Chính phủ.
2.3.3.3 Nguyên tắc miễn thuế, giảm thuế
1. Người nộp thuế được hưởng cả miễn thuế và giảm thuế thì được miễn thuế; trường
hợp người nộp thuế được hưởng nhiều mức giảm thuế khác nhau thì được hưởng mức
giảm cao nhất.
2. Người nộp thuế chỉ được miễn thuế hoặc giảm thuế tại một nơi duy nhất (nơi người
nộp thuế lựa chọn).
3. Nhà, đất thuộc dự án đầu tư được miễn thuế, giảm thuế thì thực hiện theo từng dự án
đầu tư.
4. Miễn thuế, giảm thuế chỉ áp dụng trực tiếp đối với người nộp thuế và chỉ tính trên số
tiền thuế phải nộp theo quy định của Luật này.

Đề tài: Phân tích tính hiệu quả và công bằng của dự thảo luật thuế nhà, đất 2010

Page 21

CHƯƠNG 3. PHÂN TÍCH TÍNH HIỆU QUẢ VÀ CÔNG BẰNG CỦA DỰ
THẢO LUẬT THUẾ NHÀ, ĐẤT 2010
3.1 Tính hiệu quả
3.1
-
hiện nay cơ quan quản lý nhà, đất chưa xác định được mỗi hộ gia đ
công chứng và lúc đó cơ quan thuế mới kiểm soát được. Hiệ
khích giao dịch ngầm và khiến các chủ đầu tư, người mua BĐS trì hoãn làm giấy tờ sở

20536
33925
38202
41712
Nguồn: Tổng cục Thống kê
- Tại Điểm b khoản 1 Điều 6 của Dự thảo luật quy định giá tính thuế của 1m
2
nhà
ở được xác định theo tỷ lệ phần trăm trên đơn giá 1m
2
xây dựng của nhà mới cùng loại
Đề tài: Phân tích tính hiệu quả và công bằng của dự thảo luật thuế nhà, đất 2010

Page 22

do UBND cấp tỉnh quy định. Có ý kiến cho rằng, cách tính thuế đối với nhà như quy
định của Dự thảo luật: giao toàn quyền cho UBND cấp tỉnh quyết định dựa trên đơn giá
xây dựng mà không quy định trong luật các tiêu chí định giá như tiêu chí về vị trí, địa
thế là chưa đầy đủ và chưa phù hợp với thực tế vì: Thứ nhất, việc xác định giá tính thuế
đối với nhà ở ngoài việc dựa vào đơn giá xây dựng, cần tính đến các yếu tố cấu thành
giá trị nhà như vị trí, địa thế của từng căn nhà. Thứ hai, hiện nay trong quá trình định
giá nhà để đền bù, giải phóng mặt bằng thì giá đền bù cũng được xác định dựa trên các
yếu tố như vị trí, địa thế của nhà. Vì vậy, nếu quy định như Dự thảo luật sẽ không bảo
đảm tính nhất quán trong việc định giá nhà. Và dễ tạo cơ hội xảy ra tiêu cực tham
nhũng…
-
Nhà ở: Áp dụng thuế suất theo biểu thuế lũy tiến từng phần như sau:

3
Trên 1.200
0,1
Đề tài: Phân tích tính hiệu quả và công bằng của dự thảo luật thuế nhà, đất 2010

Page 23

Trong đó: Hạn mức diện tích đất làm căn cứ tính thuế là hạn mức công nhận đất ở theo
quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp: Áp dụng một mức thuế suất là 0,05%/năm.
- Theo quy định trên : Thứ nhất việc chia 3 bậc (trong hạn mức và vượt hạn mức) đối với
nhà ở sẽ không áp dụng triệt để nguyên tắc nhà giá trị càng cao phải chịu thuế càng
cao, và như vậy NSNN sẽ mất một khoản tiền mà đáng lẽ ra phả ừ những
người giàu có. Ví dụ khoản thuế phải nộp của ngôi nhà có giá trị 1,2 tỷ bằng thuế phải
nộp của ngôi nhà có giá trị 15 tỷ , 100 tỷ. Sẽ không hiệu quả nếu không thu thuế cao
hơn đối với những ngôi nhà có giá trị cao hơn nhiều…Thứ hai việc chia 2 bậc (trong
hạn mức và vượt hạn mức) đối với đất ở theo diện tích làm cho thuế phải nộp của đất
mặt tiền bằng thuế phải nộp của miếng đất trong hẻm cùng diện tích. NSNN lại mất
thêm một khoản thu từ việc thu thuế cao hơn đối với đất mặt tiền. Và cũng tương tự
như đối với thuế suất đất nhà ở thì tiền thuế thu được của người có diện tích đất gấp
100 lần hạn mức cũng bằng thuế ừ người có diện tích bằng hạn mức.
- Mặt khác về vấn đề thuế suất áp dụng đối với nhà ở: dự thảo đưa ra áp dụng mức thuế
suất 0% đối với nhà giá trị 600 triệu, còn trên 600 triệu là 0.03%. Trong điều kiện hiện
nay, mức 600 triệu đồng có thể phù hợp với loại nhà dành cho người có thu nhập thấp,
nhưng về lâu dài thì mức này không phù hợp với sự thay đổi của giá thị trường do
những yếu tố như lạm phát, thay đổi về thu nhập trong tầng lớp dân cư; sự khác biệt
mang tính khu vực khu vực và vùng miền v.v. Tại các thành phố lớn nơi tập trung
nhiều dự án nhà ở, chung cư v.v. thì mức thuế suất 0.03% là tương đối nhỏ so với nhà
chung cư có giá trị thương mại lớ ện nay thường có mức giá
sàn 10 triệu/m

ngân hàng của người nộp thuế.
3.1.3 Chưa có công cụ chống đầu cơ
Mức thuế suất thuế đất đai càng cao bao nhiêu thì việc đầu cơ đất càng ít đem
lại ít lợi nhuận bấy nhiêu. Do thuế suất thuế đất đai gần bằng 100% giá trị thuê đất,
việc đầu cơ đất có lợi nhuận là điều không thể có, vì giá bán đất ngày càng giảm đi

Trích đoạn Phương hướng xây dựng Luật thuế nhà, đất
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status