chính sách của đảng và nhà nước về tôn giáo trường hợp phật giáo từ 1981 2008 - Pdf 33

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
************
PHẠM THỊ VƯỢNG

CHÍNH SÁCH CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC VỀ TÔN
GIÁO - TRƯỜNG HỢP VỚI PHẬT GIÁO TỪ NĂM 1981
ĐẾN NĂM 2008

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Lịch Sử Đảng
Mã số: 60 22 56

Người hướng dẫn: GS. TS Đỗ Quang Hưng

Hà nội, 2010


MỤC LỤC
Trang
Mở đầu ……………………………………………………………..

3

Chương 1: Tổng quan chính sách của Đảng và Nhà nước về tôn
giáo từ năm 1981 đến năm 2008 ………………………………......

9

1.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về tôn giáo …….......

9


18

1.2.1 Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo nói chung …………..

18

1.2.2 Hồ Chí Minh và Phật giáo ……………………………….

26

1.3 Vài nét về tình hình tôn giáo ở nước ta hiện nay ……………

30

1.4 Chính sách của Đảng và Nhà nước ta về tôn giáo

35

………………………….

…………...
1.4.1 Giai đoạn trước năm 1990 ……………………………….

35

1.4.2 Giai đoạn sau năm 1990 …………………………………

40


2.3.1 Về vấn đề Giáo hội ………………………………………

62

2.3.2 Về đường hướng và hành đạo của Phật giáo …………….

70

Chương 3: Giáo hội Phật giáo Việt Nam với chính sách của Đảng


Nhà

nước

77

………………………………………………………..
3.1 Xây dựng thống nhất tổ chức Giáo hội Phật giáo Việt Nam
từ

Trung

ương

đến

địa

phương

104

2


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội, là nhu cầu tinh thần của một bộ
phận nhân loại, gắn liền với sự vận động và phát triển của lịch sử loài người.
Tuy vậy, tôn giáo cũng là một vấn đề hết sức phức tạp và nhạy cảm. Nó ảnh
hưởng trực tiếp đến chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa của mỗi quốc gia.
Song không vì thế mà chúng ta “lờ đi”, lảng tránh hoặc không giải quyết triệt
để vấn đề tôn giáo. Ngược lại, nếu làm tốt công tác tôn giáo sẽ là một động
lực to lớn thúc đẩy xã hội phát triển, phát huy được những nhân tố tích cực,
tranh thủ được bộ phận có tín ngưỡng góp phần sức lực, trí tuệ vào sự nghiệp
chung của cách mạng.
Việt Nam là một quốc gia đa tôn giáo. Để thực hiện “đại đoàn kết dân
tộc”, củng cố hơn nữa mối quan hệ giữa dân tộc và tôn giáo, Đảng, Nhà nước
ta cần phải xây dựng và hoàn thiện chính sách tôn giáo. Pháp luật hoạt động
tôn giáo là công cụ quan trọng bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và tự
do không tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân; đồng thời là cơ sở pháp lý để
đấu tranh chống lại mọi âm mưu, hoạt động của thế lực thù địch lợi dụng tôn
giáo xâm phạm đến độc lập chủ quyền của đất nước.
Nhận thức được điều này, Đảng và Nhà nước Việt Nam rất chú trọng
đến việc hoàn thiện chính sách về hoạt động tôn giáo. Pháp luật về tôn giáo
trong những năm qua không ngừng được bổ sung, điều chỉnh và hoàn thiện
cho phù hợp với tình hình nước ta trong giai đoạn cách mạng mới. Khẳng
định sự trưởng thành của Đảng, Nhà nước trong lý luận và trong thực tiễn về

3

thể lực đế quốc, thực dân và bọn tay sai” [34, tr. 454.].
Do vậy, yêu cầu đặt ra cho Đảng và Nhà nước ta là cần phải hoàn thiện
chủ trương, đường lối chính sách của Đảng về vấn đề tôn giáo, cụ thể là đối

4


với Phật giáo, nhằm phát huy hơn nữa những truyền thống tốt đẹp sẵn có
trong mối quan hệ giữa Phật giáo và Đảng Cộng Sản Việt Nam, thúc đẩy sự
gắn bó hơn nữa giữa tôn giáo Phật giáo nói riêng trong khối đại đoàn kết dân
tộc.
Với tất cả những lý do trên, tôi đã lựa chọn đề tài “Chính sách của
Đảng và Nhà nước về tôn giáo - Trường hợp với Phật giáo từ năm 1981
đến năm 2008” làm luận văn Thạc sĩ, chuyên ngành Lịch sử Đảng của mình.

2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Tình hình tôn giáo Việt Nam tiếp tục diễn biến hết sức phức tạp và tiềm
ẩn nhiều yếu tố gây mất ổn định chính trị xã hội. Xây dựng chính sách tôn
giáo và thực hiện chính sách tôn giáo là yêu cầu của sự nghiệp đổi mới ở
nước ta. Khi Nghị quyết 24 ra đời, việc đi vào nghiên cứu tôn giáo, đề ra chủ
trương, chính sách tôn giáo ngày càng được Đảng và Nhà nước ta quan tâm.
Vì vậy, đã có rất nhiều công trình khoa học nghiên cứu mảng đề tài này. Tiêu
biểu như :
- “Tình hình và xu thế tôn giáo ở Việt Nam hiện nay - những vấn đề đặt
ra cho công tác quản lý và lãnh đạo” năm 2002 do GS. TS Lê Hữu Nghĩa làm
chủ nhiệm đề tài. Công trình đã nêu nên thực trạng và xu hướng biến động
của tôn giáo thế giới cũng như ở Việt Nam hiện nay. Đồng thời phân tích
công tác lãnh đạo và quản lý đối với vấn đề tôn giáo ở ta. Từ đó, công trình đề
xuất một số kiến nghị và phương hướng cho công tác quản lý và lãnh đạo của
Đảng và Nhà nước về tôn giáo.

chứa đựng nhiều tâm huyết của tác giả, có giá trị lý luận và thực tiễn rất cao.
Cụ thể về Phật giáo, cũng có rất nhiều cuốn sách, bài viết, cũng như các
tạp chí nghiên cứu về Phật giáo. Tuy nhiên, nội dung tập trung chủ yếu vào
trình bày quá trình du nhập và phát triển của đạo Phật ở Việt Nam, ảnh hưởng
của Phật giáo đến đời sống văn hoá tinh thần, giới thiệu nội dung của giáo lý
nhà phật, v.v. Năm 1988, cuốn sách “Tìm hiểu chính sách của Đảng và Nhà
nước đối với đạo Thiên Chúa Giáo” của Nguyễn Văn Đông, do nhà xuất bản
Thành phố Hồ Chí Minh ấn hành. Song chưa có một công trình chuyên khảo nào
nghiên cứu về chính sách của Đảng và Nhà nước đối với Phật giáo - một tôn
giáo chính và có ảnh hưởng lớn đến văn hoá Việt Nam. Chính sách của Đảng

6


với Phật giáo nói riêng, đều được đề cập trong các công trình kể trên nhưng chỉ
là một phần nội dung nhỏ, mà các tác giả nghiên cứu cùng với các tôn giáo khác.
Vì vậy, tôi mạnh dạn đi sâu vào đi sâu vào tìm hiểu, nghiên cứu chính sách của
Đảng và Nhà nước với riêng tôn giáo Phật giáo từ năm 1981 đến năm 2008.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Luận văn muốn làm sáng tỏ một số vấn đề sau:
- Tìm hiểu chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta, để thấy được sự
tiến bộ trong việc dần hoàn thiện pháp luật về hoạt động tôn giáo hiện nay.
- Tìm hiểu cụ thể chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta đối với
Phật giáo, đặc biệt là từ năm 1981.
- Quá trình lãnh đạo thực hiện chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà
nước đối với Phật giáo trong thực tiễn cách mạng Việt Nam.
3.2. Nhiệm vụ
Trên cơ sở nắm vững quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư
tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề tôn giáo, làm rõ đường lối, chính sách của

như một cơ sở lý luận quan trọng. Ngoài ra, trên cơ sở nghiên cứu các chỉ thị,
nghị quyết của Đảng, các văn bản pháp luật, các văn bản hưỡng dẫn áp dụng
pháp luật về hoạt động tôn giáo, hoạt động của Phật giáo.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Trong khi triển khai luận văn có sử dụng một số phương pháp sau:
- Phương pháp nghiên cứu lịch sử, phương pháp lôgíc: nhằm mô tả, làm
rõ vấn đề mang tính quy luật, tất yếu cần hoàn thiện chính sách về hoạt động
tôn giáo, cần thiết nghiên cứu về mối quan hệ giữa nhà nước và vấn đề tôn
giáo, cụ thể trong luận văn là chính sách tôn giáo của nhà nước với Phật giáo.
- Ngoài ra, người viết còn sử dụng phương pháp thống kê, phân tích, so
sánh, tổng hợp để đánh giá, nhận xét, rút ra ưu điểm, hạn chế trong quá trình
thực hiện chính sách.
6. Đóng góp của luận văn
Có cái nhìn khái quát, hệ thống quan điểm mácxít và tư tưởng Hồ Chí
Minh về tôn giáo nói chung, về tôn giáo Phật giáo nói riêng.
Tìm hiểu về chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước đã được đề cập
nhiều trong các cuốn sách, công trình nghiên cứu, bài viết, v.v. Song đây là

8


một đề tài chuyên sâu nghiên cứu về chính sách tôn giáo của Đảng với tôn
giáo Phật giáo. Nó có những ý nghĩa nhất định.
Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo, đóng góp một
phần nhỏ bé cho công tác nghiên cứu xây dựng chính sách tôn giáo Phật giáo.
Ngoài ra, luận văn cũng có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo
cho nghiên cứu khoa học, công tác giảng dạy.
7. Bố cục của luận văn
Luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo,
nội dung chính được chia làm 3 chương:

nữa nhưng con người không phải là sinh vật trìu tượng, ẩn náu đâu đó ngoài
thế giới. Con người là thế giới con người, là nhà nước, là xã hội. Nhà nước
ấy, xã hội ấy sản sinh ra tôn giáo, tức thế giới quan lộn ngược, vì bản thân
chúng là thế giới lộn ngược” [58, tr. 569 - 570]. Hay “Tôn giáo là tiếng thở
dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới không có trái tim, cũng
như nó là tinh thần của những trật tự không có tinh thần. Tôn giáo là thuốc
phiện của nhân dân” [58, tr. 570]. Ph. Ăngghen cho rằng: “Tôn giáo sinh ra từ
thời đại hết sức nguyên thủy… Do đó, những khái niệm tôn giáo ban đầu ấy
thường là chung cho một tập đoàn dân cư, cùng dòng máu, sau lại phân chia
ra, phát triển một cách riêng biệt ở mỗi dân tộc” [59, tr. 443]. Ph. Ăngghen

10


cũng đưa ra quan điểm của mình: “Tất cả mọi tôn giáo chẳng qua chỉ là sự
phản ánh hư ảo - vào trong đầu óc con người - của những lực lượng ở bên
ngoài chi phối cuộc sống hàng ngày của họ; chỉ là sự phản ánh trong đó
những lực lượng ở trần thế đã mang hình thức những lực lượng siêu trần thế”
[60, tr. 437]. Nó được coi là định nghĩa của chủ nghĩa Mác - Lênin về tôn
giáo.
Từ những quan điểm của C. Mác và Ph. Ăngghen cho thấy, tôn giáo là
một hình thái ý thức xã hội, phản ánh những tâm tư nguyện vọng, những ước
mơ của người dân lao động về một cuộc sống hạnh phúc, không có bất bình
đẳng, không có điều ác. Qua tôn giáo, mọi người đều có một cuộc sống ấm
no, tràn đầy tình yêu thương giữa con người với con người, được giải thoát
khỏi áp bức, bất công. Song những ước mơ đó lại không phải do người lao
động đấu tranh mà có được, mà do một đấng siêu nhiên ban cho nên nó chỉ là
một thế giới hạnh phúc tưởng tượng; đúng như C. Mác nói: “Tôn giáo là hạnh
phúc hư ảo của nhân dân”, là những “bông hoa giả” nhưng lại được quần
chúng tiếp nhận một cách hồ hởi, nhiệt tâm và đầy thỏa mãn. Đây chính là

Tôn giáo còn được M. Bertrand tiếp cận như một lực lượng xã hội:
“Một tôn giáo không chỉ là tập hợp những biểu tượng, những niềm tin, mà
còn là những thực hành có tính nghi thức và văn hóa. Nó cũng còn là một thể
chế xã hội, một tổ chức có tính chất của một cộng đồng” [34, tr. 130]. Một
học giả người Trung Quốc, tên Lữ Đại Cát, đưa ra định nghĩa: “Tôn giáo là sự
phản ánh hư ảo lực lượng chi phối cuộc sống hàng ngày của con người thành
một ý thức xã hội về lực lượng siêu trần thế, là một chỉnh thể văn hóa xã hội
tổng hợp những loại ý thức và hành vi này và làm cho nó quy phạm hóa” [34, tr.
131].
Đã có rất nhiều sách báo giải thích các luận điểm của chủ nghĩa Mác Lênin về tôn giáo, nhiều học giả đã nhận thức được đúng thực chất, cốt lõi
của luận điểm Mác - Lênin về tôn giáo nhưng có những quan điểm thậm chí
giải thích sai lệch, áp đặt, mang nặng tư tưởng “tả” khuynh, coi tôn giáo như
là một hiện tượng hoàn toàn tiêu cực, có khi còn nâng tôn giáo mang tính
phản động. Thực tế đã cho thấy, những luận điểm giải thích trên đã bị bác bỏ.
Quan điểm nhất quán của chủ nghĩa Mác - Lênin đối với tôn giáo, khắc phục
những mặt tiêu cực, hạn chế trong tôn giáo là yêu cầu khách quan của sự
nghiệp giải phóng con người, đấu tranh chống các thế lực xuyên tạc, lợi dụng
tôn giáo, đấu tranh thủ tiêu chế độ áp bức, bóc lột, xây dựng xã hội mới.

12


Nhưng điều đó không có nghĩa là gạt bỏ hoàn toàn tôn giáo, không kế thừa
những giá trị nhân bản tốt đẹp trong nó. Theo các ông, muốn thay đổi ý thức
xã hội phải thay đổi tồn tại xã hội; muốn xóa bỏ ảo tưởng ở con người phải
xóa bỏ nguồn gốc làm nảy sinh nhu cầu cần có ảo tưởng; muốn đẩy lùi về ước
mơ thiên đường bên kia, phải kiến tạo được thiên đường ở thế giới hiện hữu.
Quan điểm của Đảng và Nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo được thể hiện
rất rõ trong Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo (tháng 6 năm 2004) của nước
Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại Điều 3 như sau:

1.1.2. Về nguồn gốc của tôn giáo
Các nhà lý luận theo trường phái duy tâm thường cho rằng tôn giáo là cái
tự có, thần thánh là cái hữu hiệu ngoài thế giới vật chất hoặc cho rằng tôn giáo
“là thuộc tính vốn có trong ý thức con người mà không lệ thuộc vào hiện thực
khách quan; hay nói cách khác tôn giáo là sản phẩm mang tính nội sinh của ý
thức con người” [104, tr. 6 - 7].
Theo thuyết duy vật mácxít, thì những gì nằm trong ý thức con người,
kể cả tôn giáo, đều là sự phản ánh của thế giới vật chất. Tôn giáo là sự phản
ánh thế giới vật chất vào ý thức con người một cách đặc biệt song cũng không
nằm ngoài quy luật phát triển mang tính lịch sử, một hiện tượng thuộc kiến
trúc thượng tầng. Căn nguyên sự tồn tại của tôn giáo “là sự bất hợp lý trong
mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, giữa con người với con người,
khiến cho các lực lượng tự nhiên và xã hội trở thành một lực lượng có tính
“siêu tự nhiên”, kỳ thị và mù quáng đối với con người” [34, tr. 133]. Lấy chủ
nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng để lý giải nguồn gốc ra đời, quá trình hình
thành của tôn giáo.
Về nguồn gốc kinh tế - xã hội của tôn giáo, trong xã hội nguyên thủy,
do trình độ sản xuất thấp kém, con người cảm thấy yếu đuối và bất lực trước
thiên nhiên rộng lớn và huyền bí. Vì vậy, họ gán cho tự nhiên sức mạnh và
quyền lực to lớn, thần thánh hóa sức mạnh đó. Đồng thời với sự phụ thuộc
vào thiên nhiên, con người còn gặp phải sự tác động của xã hội như chiến
tranh giữa các bộ lạc,… càng làm gia tăng tâm lý sợ hãi cái chết. Đó là hình
thức tồn tại đầu tiên của tôn giáo. Theo C. Mác, hiện tượng tôn giáo nguyên
thủy là sản phẩm của nhận thức con người khi con người còn “tối tăm” về bản
thân mình và về thế giới tự nhiên.
Khi xã hội xuất hiện những giai cấp đối kháng, bên cạnh cảm giác yếu
đuối trước sức mạnh thiên nhiên, con người lại cảm thấy bất lực trước những

14


với tự nhiên, con người với con người được thể hiện qua tín ngưỡng tôn giáo.
Tín ngưỡng tôn giáo đã đáp ứng nhu cầu của một bộ phận nhân dân, góp phần

15


bù đắp những hụt hẫng trong cuộc sống, nỗi trống vắng trong tâm hồn, an ủi
vỗ về, xoa dịu lúc sa cơ lỡ vận. Vì thế mà tôn giáo dù chỉ là hạnh phúc hư ảo,
song người ta vẫn cần đến nó trong cuộc sống.
Như vậy, nguồn gốc của tôn giáo, theo chủ nghĩa Mác - Lênin, không
phải là thuộc tính vốn có trong ý thức con người, không phải là cái tự có, tồn
tại bên ngoài thế giới vật chất. Ngược lại, tôn giáo nằm trong thế giới vật chất,
nằm ngoài ý thức con người. Tôn giáo là hiện tượng xã hội xuất hiện bởi
nguồn gốc kinh tế - xã hội, nhận thức và tâm lý. Vì vậy, tôn giáo sẽ mất đi khi
những tồn tại làm cơ sở nảy sinh ra nó không còn nữa, đặc biệt là cơ sở kinh
tế - xã hội. Theo Mác, tôn giáo sẽ mất đi khi xã hội không còn giai cấp và áp
bức giai cấp, không còn bất bình đẳng, không còn tồn tại sự bóc lột giữa
người với người; khi mà con người không cần phải “trốn chạy” hiện thực để
tìm nguồn an ủi ở thế giới tâm linh, mà hài lòng với thế giới hiện hữu. Nói
cách khác, tôn giáo chỉ mất đi khi cơ sở kinh tế - xã hội của nó không còn.
Thủ tiêu chế độ bóc lột và xây dựng xã hội mới, xã hội chủ nghĩa, đó cũng là
nhiệm vụ của cách mạng.
Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, cơ sở kinh tế - xã hội không phải là điều
kiện duy nhất làm tiêu vong tôn giáo. Một số học giả cho rằng, đấy là sự hạn
chế lịch sử ở Mác, tiêu biểu như M. Bertrand: “Những người mácxít tin rằng
nhận thức ngày càng phát triển về các quan hệ xã hội, về nhân cách và một
cuộc thay đổi cách mạng về xã hội, có tác động trong đời sống thực tiễn của
con người và lâu dài sẽ thay đổi các trạng thái tinh thần nhưng bằng cách nào
và trong những giới hạn nào thì không thể nói chắc chắn một cách khách
quan” [34, tr. 134 - 135].

như vậy sẽ càng gây thêm chia rẽ trong quần chúng về vấn đề tôn giáo, mà
sức mạnh của ta là ở sự đoàn kết” [50, tr. 221]. Vì vậy, đấu tranh với tôn giáo
không có nghĩa là trực tiếp “tấn công” vào thần thánh, “truy kích” thượng đế,
mà đấu tranh với cái thế giới niềm vui tinh thần là tôn giáo, “chỉ đơn giản là
việc thức tỉnh sự tự giác”.
Người cũng chỉ rõ: cuộc đấu tranh về kinh tế, chính trị thắng lợi sẽ tạo
điều kiện cần thiết cho cuộc “cách mạng ý thức” để thủ tiêu toàn bộ tôn giáo.
Sự khác nhau giữa chủ nghĩa cộng sản và Thiên đường mà các tôn giáo hứa

17


hẹn là ở chỗ, tôn giáo hướng con người đến một thế giới trong tưởng tượng
còn những người cộng sản chủ trương xây dựng “thiên đường” ngay trong xã
hội hiện thực và do chính con người tạo ra. Chủ nghĩa Mác - Lênin luôn tôn
trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân, không xúc phạm, không
mưu toan ngăn cản, cấm đoán, không nhằm thủ tiêu quyền tự do tín ngưỡng,
tôn giáo: “Cách mạng vô sản nhất định sẽ đạt đến mục đích làm cho tôn giáo
thực sự trở thành một việc tư nhân đối với nhà nước”[49, tr. 175].
Tiếp cận vấn đề tôn giáo trên quan điểm mácxít, các nhà kinh điển của
chủ nghĩa Mác - Lênin có một cái nhìn biện chứng về tôn giáo, khắc phục
được những cái nhìn duy tâm thần học về tôn giáo hay duy vật vô thần của
Phơ - bách trước đó. Đó là những đóng góp to lớn, vĩ đại cho lịch sử nhân
loại. Từ đó, tôn giáo được tiếp cận dưới nhiều góc độ, trên mọi bình diện,
đúng như GS. Đỗ Quang Hưng nhận xét: “Công lao lớn của Mác và Ăngghen
là các ông đã đâm thủng tấm bình phong “tôn giáo” để thực sự có một cái
nhìn duy vật biện chứng, đó là việc chuyển phê bình thuần túy tôn giáo thành
việc phê bình thực tại dưới mặt đất, coi đó không phải là chuyện thuần học
trên trời và luận đề con người sáng tạo ra tôn giáo phải trở thành nguyên tắc
tiên quyết cho phương pháp luận mácxít về tôn giáo” [34, tr. 518]. Tôn giáo điều khó hiểu nhất trong những điều khó hiểu của con người, dần được chủ

điển của chủ nghĩa Mác - Lênin luôn tôn trọng và đảm bảo quyền tự do tín
ngưỡng tôn giáo và không tự do tín ngưỡng tôn giáo của nhân dân, người
cộng sản không tuyên chiến với tôn giáo; khắc phục những hạn chế của tôn
giáo là nhiệm vụ của cuộc cách mạng, là quá trình gắn liền với quá trình cải
tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới; phân biệt giữa nhu cầu tín ngưỡng tôn
giáo chính đáng của quần chúng nhân dân với những hành vi lợi dụng tín
ngưỡng tôn giáo cho mục đính chính trị.
1.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo
1.2.1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo nói chung
Ở Người có lĩnh hội đầy đủ và sâu sắc cốt lõi quan điểm của chủ nghĩa
Mác - Lênin về tôn giáo, đồng thời cũng tiếp thu những giá trị tốt đẹp của các
tôn giáo. Hồ Chí Minh là sự kết hợp hài hòa và kỳ diệu mặt tốt đẹp nhất của
con người “trần thế” với các giá trị tư tưởng nhân bản của tôn giáo: “Hình ảnh

19


của Hồ Chí Minh đã hoàn chỉnh với sự kết hợp đức khôn ngoan của Phật,
lòng bác ái của Chúa, triết học của Mác, thiên tài cách mạng của Lênin và tình
cảm của một người chủ gia tộc” [24, tr. 19].
Chúng ta dễ dàng nhận ra những nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ
Chí Minh về tín ngưỡng, tôn giáo là: đoàn kết tôn giáo, hòa hợp dân tộc, tôn
trọng và đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và không tự do tín
ngưỡng, tôn giáo của nhân dân. Đó cũng chính là tư tưởng xuyên suốt và chủ
đạo của Người về vấn đề tôn giáo thuở sinh thời.
Chủ nghĩa thực dân Pháp xâm lược nước ta, chúng chủ trương ái mộ
Công giáo, nhằm mục đích khoét sâu mối bất hòa của đồng bào các tôn giáo,
phân biệt giữa bộ phận Kitô giáo và không Kitô giáo. Chống lại âm mưu thâm
độc của thực dân, Chính phủ ta, mà điển hình là Hồ Chí Minh kiên quyết vạch
rõ bộ mặt phản động, lợi dụng tôn giáo của thực dân Pháp. Mặt khác, “Hồ Chí

quan văn hóa khác… Chính quyền, quân đội và đoàn thể phải tôn trọng tín
ngưỡng, phong tục, tập quán của đồng bào”9[65, tr. 152]. Trong lễ công khai
ra mắt Đảng Lao động Việt Nam năm 1951, Hồ Chí Minh đã thay mặt Đảng
tuyên bố: “Chúng tôi xin nói thêm hai điểm, nói rõ để tránh mọi sự có thể
hiểu lầm: Một là, vấn đề tôn giáo thì Đảng Lao động Việt Nam hoàn toàn tôn
trọng quyền tự do tín ngưỡng của mọi người”[65, tr. 183]. Kế đến là Sắc lệnh
197 - SL do Hồ Chí Minh ký, ngày 19 tháng 12 năm 1953, với những quy
định rất rõ ràng về phần tài sản thuộc quyền sở hữu của các tổ chức tôn giáo,
khẳng định Chính phủ không chỉ tôn trọng mà còn đảm bảo quyền tự do tín
ngưỡng, tôn giáo của nhân dân.
Vào thời điểm năm 1954, các thế lực thù địch và tay sai ra sức dụ dỗ
cưỡng ép đồng bào Công giáo di cư từ Bắc và Nam. Nhiều đồng bào do bị
địch lừa phỉnh và do không hiểu rõ đường lối chính sách tôn giáo của Chính
phủ cách mạng, nên đã nghe theo địch. Trước tình hình đó, Hồ Chủ Tịch đã
viết nhiều bài báo nói rõ quan điểm của Đảng về vấn đề tôn giáo. Trong Thư
chúc mừng đồng bào Công giáo trong dịp Noen (1954), Người một lần nữa
khẳng định: “Tôi xin nhắc lại cho đồng bào rõ: Chính phủ ta thật thà tôn trọng
tín ngưỡng tự do. Đối với những giáo hữu đã nhầm di cư vào Nam, Chính phủ
đã ra lệnh cho địa phương giữ gìn cẩn thận ruộng vườn, tài sản của những
đồng bào ấy và sẽ giao trả lại cho những người trở về” [103, tr. 38].

21


Thêm một bước tiến, ngày 14 tháng 6 năm 1955, Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã ký Sắc lệnh 234/SL về vấn đề tôn giáo. Điều 1 của Sắc lệnh khẳng định:
“Chính phủ đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng và tự do thờ cúng của nhân dân.
Không ai được xâm phạm đến quyền tự do ấy. Mọi người Việt Nam đều có
quyền tự do theo một tôn giáo nào hoặc không theo một tôn giáo nào”. Đồng
thời chỉ rõ: “Khi truyền bá tôn giáo, các nhà tu hành có nhiệm vụ giáo cho tín

Việt Nam thời kỳ năm 1945 đến năm 1947 cũng phải thừa nhận: “Về phần
tôi, phải nói rằng chưa bao giờ tôi có cớ để nhận thấy nơi các chương trình
của Cụ Hồ một dấu vết nào, dù rất nhỏ, của sự công kích, đa nghi hoặc chế
giễu một tôn giáo bất kỳ nào” [13, tr. 13].
Vượt lên trên sự kỳ thị tôn giáo, Hồ Chí Minh thấy ở các ý thức hệ và
tôn giáo khác nhau có nhiều điểm tương đồng: “Học thuyết của Khổng Tử có
ưu điểm của nó là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân. Tôn giáo Giêsu có ưu điểm
của nó là lòng nhân ái cao cả. Chủ nghĩa Mác có ưu điểm của nó là phương
pháp làm việc biện chứng. Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm của nó, chính
sách của nó phù hợp với nước ta. Khổng Tử, Giêsu, Mác, Tôn Dật Tiên chẳng
có những điểm chung đó sao? Họ đều muốn mưu hạnh phúc cho loài người,
mưu phúc lợi cho xã hội. Nếu hôm nay họ còn sống trên đời này, nếu họ hợp
lại một chỗ, tôi tin rằng họ nhất định chung sống với nhau rất hoàn mỹ như
những người bạn thân thiết. Tôi cố gắng làm người học trò nhỏ của các vị
ấy”[83, tr. 45]. Điều này thể hiện rất rõ quan điểm tôn trọng sự khác biệt, đề
cao tính tương đồng. Người luôn tìm thấy mẫu số chung làm nền tảng cho tư
tưởng đoàn kết toàn dân, đoàn kết tôn giáo là độc lập dân tộc, xây dựng một
nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, mọi người đều có cuộc sống ấm no,
hạnh phúc, vừa kính Chúa vừa yêu nước, phụng sự Tổ quốc và phục sự nhân
dân. Theo quan điểm của Hồ Chí Minh, một người dân Việt Nam có thể vừa
là một người dân Việt Nam yêu nước, đồng thời cũng là một tín đồ chân
chính. Đối với một người có tôn giáo thì đức tin tôn giáo và lòng yêu nước
không hề mâu thuẫn với nhau. “Đức Phật đại từ, đại bi, cứu khổ cứu nạn,
muốn cứu chúng sinh ra khỏi khổ nạn, Người phải đấu tranh diệt lũ ác ma.
Nay đồng bào ta đoàn kết hi sinh của cải xương máu, kháng chiến đến cùng
để đánh tan bọn thực dân phản động, để cứu dân ra khỏi khổ nạn, để giữ
quyền thống nhất và độc lập Tổ quốc. Thế là chúng ta làm theo lòng đại từ đại
bi của Đức Phật Thích Ca, kháng chiến để đưa giống nòi ra khỏi cái khổ ải nô
lệ”[64, tr. 197]. Còn “Chúa Cơ Đốc hi sinh để cứu loài người khỏi ách nô lệ
và đưa loài người về hạnh phúc, bình đẳng, bác ái, tự do. Chúng ta kháng

khoăn, mặc cảm của đồng bào tôn giáo, đồng thời đập tan luận điệu xuyên tạc
của kẻ thù.
Hồ Chí Minh cũng rất quan tâm đến công tác tuyên truyền, giáo dục
cán bộ làm công tác tôn giáo. Trong Bài nói chuyện tại lớp bồi dưỡng cán bộ
về công tác Mặt trận, Người dặn dò: “Phải đoàn kết chặt chẽ giữa đồng bào

24


Trích đoạn Chính sách của Đảng và Nhà nước ta về tôn giáo Giai đoạn sau năm 1990
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status