LUẬN VĂN:
Đường lối chính sách của Đảng và Nhà
nước với việc quản lý và kinh doanh của
doanh nghiệp
Lời nói đầu
Trong những năm gần đây, với nhận thức về vai trò quan trọng của các thành phần
kinh tế, trong đó các doanh nghiệp chiếm vị trí quan trọng trong sự phát triển của nền
kinh tế đất nước là bộ phận chủ yếu cấu thành nền kinh tế quốc dân đã phát triển rộng
khắp cả nước, đóng góp đáng kể vào phát triển kinh tế, huy động các nguồn lực xã hội
vào sản xuất kinh doanh, tạo thêm việc làm, cải thiện đời sống nhân dân, tăng ngân sách
Nhà nước, góp phần giữ vững ổn định chính trị xã hội của đất nước. Trước tình hình đó
Đảng và Nhà nước đã đưa ra nhiều biện pháp và chính sách nhằm tạo điều kiện thuận lợi
2. Vai trò của doanh nghiệp trong nền kinh tế quốc dân
+ Khai thác mọi nguồn tiềm năng nội bộ trong nước và ngoài nước, ứng dụng khoa
học công nghệ, tổ chức sản xuất và quản lý tiên tiến để tạo ngày càng nhiều sản phẩm
dịch vụ đa dạng chất lượng cao, giá thành hạ nhằm thoả mãn tốt nhất nhu cầu trong nước
và xuất khẩu.
+ Hạch toán kinh tế bảo đảm kinh doanh có lãi.
+ Làm tròn nghĩa vụ nộp thuế và các khoản nộp ngân sách theo pháp luật.
+ Nâng cao trình độ văn hoá, chuyên môn đảm bảo việc làm, không ngừng cải
thiện đời sống người lao động.
+ Bảo vệ tài nguyên môi trường, giữ vững an ninh chính trị làm tròn nghĩa vụ quốc
phòng.
+ Doanh nghiệp là đơn vị kinh tế cơ bản, là tế bào của nền kinh tế quốc dân, nơi
trực tiếp quản lý và sử dụng các nguồn nhân lực sản xuât, nơi trực tiếp thử nghiệm và
thực hiện mọi chủ trương chính sách kinh tế xã hội của Đảng, pháp luật của Nhà nước,
nơi giải quyết việc làm đào tạo con người.
+ Doanh nghiệp là nơi sản xuất hàng hoá, trực tiếp tạo ra sản phẩm, dịch vụ và mọi
của cải vật chất, nơi gắn sản xuất với thị trường, nơi tạo ra nguồn tích luỹ cho ngân sách
và để tái sản xuất cho doanh nghiệp.
3. Sự cần thiết quản lý Nhà nước đến với doanh nghiệp.
3.1. Do doanh nghiệp có vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế nước ta nên
Nhà nước cần quản lý đối với doanh nghiệp nhằm đảm bảo :
+ Hoạt động của doanh nghiệp theo định hướng của kế hoạch Nhà nước.
+ Hạn chế hoạt động tự phát, cạnh tranh không lành mạnh, hạn chế rủi ro, sự phá
sản của doanh nghiệp.
+ Hoạt động đúng pháp luật, thực hiện tốt những nhiệm vụ cơ bản và phát huy vai
trò của doanh nghiệp trong nền kinh tế quốc dân.
Trong cơ chế thị trường doanh nghiệp được quyền tự chủ kinh doanh không có
Chương II
Đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước với việc quản lý và kinh doanh của
doanh nghiệp
I. Chính sách thương mại
1. Những cải cách chính sách thương mại
Chính sách "mở cửa" thương mại và đầu tư trực tiếp nước ngoài là một trong những
yếu tố quan trọng trong việc đổi mới kinh tế, góp phần vào sự phát triển nhanh chóng
nền kinh tế. Các biện pháp đổi mới chủ yếu có liên quan đến thương mại quốc tế và đầu
tư trực tiếp nước ngoài được áp dụng như bộ phận cho quá trình đổi mới kinh tế, gồm các
biện pháp như: ban hành và sửa đổi bổ sung luật đầu tư trực tiếp nước ngoài, quy định
các loại thuế xuất khẩu nhập khẩu đặc biệt gần đây nhất chính phủ ra Nghị định
57/1998/NĐ - CP ngày 31/7/1998 được ban hành để hướng dẫn chi tiết thi hành luật
thương mại trong các hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, gia công và đại lý mua bán hàng
hoá với nước ngoài. Theo Nghị định này tất cả các loại hình doanh nghiệp được tham gia
hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu trong phạm vi giấy phép kinh doanh mà không cần phải
có giấy phép xuất khẩu hoặc nhập khẩu.
2. Những điều kiện mới cho việc tham gia xuất nhập khẩu
Nhờ có những chính sách cải cách kinh tế, kể từ năm 1991 cho đến nay nhiều doanh
nghiệp đã được phép xuất khẩu các sản phẩm do chính họ sản xuất và đã được phép nhập
khẩu các đầu vào trung gian cần thiết cho quá trình sản xuất của mình. Nghị định
57/1998/NĐ - CP Là một bước tiến lớn trong quá trình tự do hóa thương mại mà Đảng
và Nhà nước đã tạo ra cho tất cả các doanh nghiệp.
Trước đây khi chưa có Nghị định 57 của Chính phủ các doanh nghiệp không đáp
ứng các điều kiện về xuất nhập khẩu, nếu muốn xuất khẩu sản phẩm của mình thì phải uỷ
thác thông qua các doanh nghiệp được phép chuyên doanh xuất nhập khẩu.Tuỳ từng
trường hợp cụ thể mà các khoản phí dịch vụ xuất khẩu mà doanh nghiệp không được
phép xuất khẩu trả cho doanh nghiệp chuyên doanh xuất nhập khẩu dao động từ 5% đến
10% và doanh nghiệp uỷ thác xuất khẩu còn chịu nhiều rủi ro do bị tiết lộ thông tin mật
5. Kiểm soát xuất nhập khẩu bằng các biện pháp thuế quan
Thuế xuất nhập khẩu là cơ chế chủ yếu để điều tiết hoạt động thương mại và sự vận
hành của nền kinh tế. Đối với Việt Nam cũng như các nước có nền kinh tế kém phát
triển, thuế xuất nhập khẩu là một nguồn thu chủ yếu của ngân sách, nét đặc trưng của
thuế xuất nhập khẩu Việt Nam là thuế xuất nhập khẩu có xu hướng tăng lên ở mức rất
cao và tỏ ra rất phức tạp, số lượng thuế xuất nhập khẩu tối đa của Việt Nam còn cao hơn
rất nhiều so với các nước khác trong khu vực. Trên lý thuyết thuế nhập khẩu cao được sử
dụng làm cơ chế bảo hộ công nghiệp trong nước khỏi sự cạnh tranh từ nước ngoài.
Nhưng trên thực tế. các ngành công nghiệp dự kiến được bảo hộ lại không được bảo hộ vì
các hàng rào thuế quan cao đã làm cho các ngành công nghiệp ít có khả năng cạnh tranh
trên thị trường quốc tế vì rốt cuộc ngành công nghiệp này sẽ lại phải cạnh tranh với hàng
nhập lậu của nước ngoài, bởi vì thuế quan cao chính là nguyên nhân làm cho nạn buôn
lậu tấn công.
Như vậy, việc bảo hộ bằng hàng rào thuế quan cao hoàn toàn không đem lại lợi ích
cho các doanh nghiệp trong nước. Vì thế cách duy nhất để giảm nguy cơ cạnh tranh với
hàng lậu bằng cách giảm mức thuế quan xuống bằng hoặc thấp hơn mức thuế quan hiện
đang được áp dụng phổ biến ở các nước trong khu vực. Hơn nửa việc giảm mức “bảo hộ”
bằng thuế quan cao còn tạo điều kiện để các doanh nghiệp trong nước nhanh chóng có
khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
II. chính sách tiền tệ tín dụng
Trong những năm gần đây, Chính phủ Việt Nam nhận được sự đánh giá cao của
cộng đồng tài chính quốc tế về các biện pháp quản lý vĩ mô hợp lý, việc ban hành các
loại thuế mới kết hợp với chính sách “mở cửa” thương mại và đầu tư, Việt Nam đã được
mức tăng trưởng cao với tỷ lệ lạm phát thấp. Điều này đã đem lại lợi ích cho tất cả cách
ngành và các doanh nghiệp.
Theo quy định hiện hành có liên quan đến chính sách tín dụng các doanh nghiệp, kể
cả doanh nghiệp ngoài quốc doanh đã có thể tiếp cận với các nguồn vốn tín dụng. Tuy
Hiện nay ở Việt Nam, áp dụng một loại thuế suất duy nhất cho lợi nhuận của tất cả
các doanh nghiệp không phân biệt phương thức và bản chất kinh doanh, với mức thuế
thống nhát là 32%.
Từ những phân tích về thuế ở trên có thể nói rằng đối với các doanh nghiệp có quy
mô nhỏ cần được có chính sách khuyến khích ưu đãi về thuế trong thời gian tới.
IV. chính sách đất đai
Việc cải cách đất đai có ảnh hưởng quan trọng đối với phát triển công nghệ và các
doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Quyền sử dụng đất được thể chế hoá và được xác nhận
bằng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy này có thể sử dụng làm vật thế chấp cho
các khoản vốn vay và tín dụng. Việc công nhận quyền sử dụng đất còn tuỳ thuộc vào
thẩm quyền sử dụng còn tuỳ thuộc vào thẩm quyền của các cấp chính quyền. Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất có ảnh hưởng quan trọng đến các doanh nghiệp ngoài quốc
doanh. Hiện tại có rất ít các doanh nghiệp nhất là các doanh nghiệp ngoài quốc doanh có
giấy chứng nhận này.
Những tồn tại của vấn đề đất đai như quy hoạch quyền sử dụng đất, thuế đất, đánh
giá giá trị thị trường của đất, giao đất, thuê đất, khai thông vấn đề đất đai còn giúp lành
mạnh hoạt động tín dụng.
Tóm lại, các vấn đề liên quan đến đất đai đang là một thách thức lớn đối với doanh
nghiệp đặc biệt là các doanh nghiệp có quy mô nhỏ.
+ Rất khó có được đất dùng cho mục đích đầu tư.
+ Hệ thống xét duyệt của Chính phủ đối với việc thực hiện các quyền sử dụng đất là
phức tạp và rắc rối, không có hiệu quả kinh tế và tạo cơ hội cho các hành vi trục lợi và
các hành vi lạm dụng khác.
+ Nếu các quyền sử dụng đất phục vụ cho các mục đích thương mại và công nghiệp
không được quy định một cách rõ ràng và các điều kiện dùng đất để thế chấp không được
nới lỏng các doanh nghiệp ngoài quốc doanh không thể phát triển một cách đúng đắn.
Hiện nay các doanh nghiệp này đang buộc phải thực hiện các thủ tục và quy định không
khởi xướng là hoàn toán đúng đắn. Vấn đề đặt ra hiện nay là cần làm rõ thêm về quan
điểm chính sách và nhất là tìm ra các giải pháp phát triển doanh nghiệp vì mục tiêu phát
triển mạnh mẽ nền kinh tế đất nước trong giai đoạn mới - giai đoạn công nghiệp hoá, hiện
đại hoá.
II. sự phát triển của các doanh nghiệp và những trở ngại
Nền kinh tế Việt Nam hiện nay đang trong thời kỳ quá độ sang kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa, ở đó tồn tại nhiều hình thức sở hữu, nhiều trình độ phát
triển thuộc nhiều phương thức sản xuất khác nhau đan xen nhau. Tạo nên sự đa dạng
trong cơ cấu các hình thức kinh tế thời kỳ quá độ. Trong đó các doanh nghiệp đã và sẽ
đóng vai trò rất quan trọng trong sự phát triển kinh tế đất nước. Trong công cuộc đổi mới
kinh tế vừa qua ở Việt Nam, trong khi chủ trương xây dựng nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa đã coi trọng sự phát triển của các doanh nghiệp và điều đó đã
đem lại những thành công đáng kể.
Tuy nhiên, chủ trương khuyến khích phát triển các doanh nghiệp vẫn còn nhiều tồn
tại và vướng mắc. Trong các cấp lãnh đạo và quản lý Nhà nước về chủ trương, chính sách
còn thể hiện sự phân biệt đối xử, dành lợi thế cho các doanh nghiệp Nhà nước gây phiền
hà cho các doanh nghiệp ngoài quốc doanh.
Những hạn chế nói trên đã gây ra nhiều hậu quả: Sự hoài nghi về tính nhất quán của
chủ trương, đường lối chính sách với việc tổ chức thực hiện, giữa lời nói và việc làm ,
chưa tạo được lòng tin vững chắc cho nhà doanh nghiệp và sự đồng thuận xã hội đối với
đường lối chủ trương của Đảng. Vì vậy muốn cho các thành phần kinh tế trong đó có
doanh nghiệp phát triển lâu dài và ổn định thì Đảng và Nhà nước phải đưa ra chủ trương,
chính sách cụ thể sát hợp với thực tế, loại bỏ những chính sách quy định không còn phù
hợp Tạo môi trường pháp lý và môi trường kinh tế xã hội lành mạnh cho các hình thức
kinh tế phát triển.
III. phương hướng và giải pháp phát triển
1. Phương hướng phát triển
kinh tế không được phản ánh một cách đúng mức và đầy đủ. Đây là một trong những trở
ngại trong việc phát huy các nguồn lực cho phát triển hiện nay. Như vậy giải pháp về
hoàn thiện môi trường pháp lý trước tiên là phải tiến tới ban hành một luật doanh nghiệp
chung cho mọi khu vực kinh tế, chi phối và điểu chỉnh hoạt động của các pháp nhân kinh
tế không phụ thuộc vào hình thức sở hữu để đảm bảo cho chúng cùng tồn tại, phát triển
và bình đẳng trước pháp luật.
Để đảm bảo cho sự bình đẳng giữa các khu vực kinh tế, trong đó có doanh nghiệp
ngoài việc có một luật doanh nghiệp chung cần có thêm đạo luật về chống độc quyền
trong kinh doanh, và đạo luật bảo vệ quyền sở hữu. Hai đạo luật này ra đời sẽ thể
hiệnđầy đủ đường lối kinh tế đổi mới của Đảng và Nhà nước, đồng thời để cho các doanh
nghiệp yên tâm bỏ vốn đầu tư lâu dài phục vụ chiến lược phát triển theo hướng công
nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước.
Để hoàn thiện về quản lý Nhà nước đối với các doanh nghiệp thì phải hoàn thiện cơ
sở pháp lý tinh giản thủ tục đăng ký kinh doanh, củng cố hệ thống tổ giám sát hoạt động
của doanh nghiệp liên quan đến 3 cơ quan quản lý Nhà nước trước tiên là ngành kế hoạch
và đầu tư, ngành thuế và ngành ngân hàng.
2.2. Biện pháp khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào các ngành nghề thúc đẩy
kinh tế phát triển.
Muốn khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào các lĩnh vực sản xuất chế biến, đầu tư
thiết bị công nghệ hiện đại cần phải có các chính sách ưu đãi, bao gồm: Chính sách tín
dụng ngân hàng như hỗ trợ thông qua tín dụng trung hạn dài hạn, chính sách thuế khuyến
khích đầu tư bằng việc miễn giảm thuế cho các ngành công nghiệp truyền thống của các
địa phương, những ngành thu hút nhiều lao động, chính sách khuyến khích sản xuất hàng
xuất khẩu, chính sách hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực.
2.3. Biện pháp hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực
Hiện nay các doanh nghiệp nhất là các doanh nghiệp có quy mô nhỏ có trình độ
quản lý thấp kém, đội ngũ công nhân tay nghề thấp nên gặp nhiều khó khăn trong tổ chức
12
I. Quan điểm của đảng và Nhà nước về việc phát triển doanh nghiệp 12
II. sự phát triển của các doanh nghiệp và những trở ngại 12
III. phương hướng và giải pháp phát triển 13
1. Phương hướng phát triển 13
2. Giải pháp phát triển cho các doanh nghiệp 14