Tài liệu LUẬN VĂN: Nguồn gốc, bản chất của lợi nhuận và vai trò của lợi nhuận trong nền kinh tế thị trường - Pdf 10


LUẬN VĂN:

Nguồn gốc, bản chất của lợi nhuận
và vai trò của lợi nhuận trong nền
kinh tế thị trườn


sự hiểu biết có hạn chế nên bài của em còn có những thiếu sót và sai lầm, vì thế em rất
mong được sự xem xét đánh giá và bổ xung của thầy, đem lại cho em thêm hiểu biết về vấn
đề này để bài viết sau được tốt hơn. Phần II. Nội dung
a. NGuồn gốc, bản chất và sự hình thành của lợi nhuận
I. Quan điểm của tư bản về vấn đề này
Chủ nghĩa trọng thương : Họ coi tiền tệ là cơ bản đánh giá cao vai trò của tiền tệ,
cho rằng đó là nội dung của của cải xã hội, là tiêu chuẩn để đánh giá sự giàu có của mỗi
quốc gia, quốc gia càng có nhiều tiền thì càng giàu có. Và múon có tiền thì phải phát triển
thương mại, trong đó đặc biệt là ngoại thương và phải xuất khẩu. Lợi nhuận là do lưu thông
đem lại là kết quả của việc “ mua rẻ bán đắt, mua ít bán nhiều ”.
ở Anh nó có các đại biểu xuất sắc : William Stayod dựa trên lý thuyết giá trị lao
động, trong tác phẩm “ giá cả đắt đỏ ”, ông đi tìm nguyên nhân của nạn giá cả đắt đỏ thời đó
và ông cho rằng kiếm tiền phải thông qua lưu thông buôn bán, nên đề nghị các nhà nước
quy định tỷ giá hối đoái và bắt các thương nhân nước ngoài đến Anh phải tiêu hết tiền trước
khi về nước, đó là sự tăng xuất khẩu để thu về, ông còn đề nghị nhà nước can thiệp vào kinh
tế nhà là nhà nước độc quyền buôn bán tiền tệ và kiểm soát các thương nhân nước ngoài.
Thomas Mun ( 1571 – 1641 ) cho rằng của cải là sản phẩm dư thừa được sản xuất ra
trong nước sau khi đã thoả mãn nhu cầu tiêu dùng song phải được chuyển thành tiền thông
qua thị trường nước ngoài, tư tưởng đó thể hiện trong tác phẩm “ Bảng đân đối thương mại
”. Ông coi tiền là tiêu chuẩn cho sự giàu có của mỗi quốc gia, mà muốn có nhiều tiền thì
phải thông qua thương mại, phát triển thương mại, chú trọng đến ngoại thương đặc là xuất
khẩu thì xuất siêu cao hơn nhập siêu, tăng cường xuất khẩu hàng thành phẩm, không bán
nguyên liệu mà thực hiện khâu trung gian mua nguyên vật liệu ở nước khác rẻ rồi bán ra đắt
hơn. Ông cũng coi và khuyến khích xuất khẩu tiền là một thủ đoạn thương mại mà thương

cũng coi địa tô là khoản khấu trừ vào sản phẩm lao động, còn về lợi tức - ông cho rằng
người có tiền có thể có hai cách thu nhập : một mặt mua ruộng đất để hưởng tiền tô, mặt
khác cho vay để hưởng lợi tức, lợi tức là phát sinh của địa tô.
Adam Smith ( 1723 – 1790 ) cho rằng mọi lao động đều sản xuất ra hàng hoá nên đều
quyết định giá trị hàng hoá. Ông coi giá trị của hàng hoá gồm tiền công, lợi nhuận địa tô, lợi
nhuận là khoản khấu trừ thứ 2 vào sản phẩm của công nhân làm thuê, về địa tô ông coi đây

là khoản khấu trừ đầu tiên vào sản phẩm lao động, với quan điểm này ông phần nào cũng
nêu được mầm mống của quan hệ bóc lột.
David Ricardo ( 1772 – 1823 ), ông coi lợi nhuận là khoản khấu trừ thứ hai vào sản
phẩm của công nhân, ông phân tích lợi nhuận gắn liền với tiền lương công nhân, tiền lương
thấp thì lợi nhuận cao và ngược lại. Về địa tô ông coi đây là khoản khấu trừ thứ nhất vào sản
phẩm lao động của công nhân, phần mà nhà tư bản phải trả cho chủ sở hữu ruộng đất phần
lợi nhuận siêu ngạch dưới hình thái điạ tô.
Trường phái trọng nông ở Pháp : Với đại biểu xuất sắc Kene, Tuyêcgô họ coi chỉ
có lao động trong nông nghiệp mới tạo ra sản phẩm thuần tuý, còn lao động trong công
nghiệp tạo ra những sản phẩm quan trọng nhưng không tạo ra sản phẩm thuần tuý nên chỉ
có lao động trong nông nghiệp mới là lao động sản xuất, lao động sinh lời, còn trong công
nghiệp nó không phải là lao động sản xuất nên nó không sinh lời ( vì lao động trong nông
nghiệp tạo ra chất mới, còn trong công nghiệp chỉ chế biến cái có sẵn mà thôi ).
Đối với nhà kinh tế chính trị học tiểu tư sản như Xixi, Xmođi, Pơruđông họ cho rằng
tiền lương phụ thuộc vào tích luỹ và quan hệ cung cầu trên thị trường lao động. Về lợi
nhuận ông coi đó là khoản khấu trừ vào khoản lao động của công nhân lao động làm thuê,
địa tô đó cũng là khoản khấu trừ vào sản phẩm lao động của công nhân.
Tóm lại các nhà kinh tế chính trị học ở giai đoạn này có nhiều quan điểm khác nhau
về lợi nhuận, họ đứng trên thế giới duy vật máy móc hay duy tâm để xem xét về vấn đề lợi
nhuận, nhưng mà lại không nêu ra được cái bản chất, nguồn gốc và quá trình tạo ra lợi
nhuận, giá trị thặng dư, và các hình thức biểu hiện cụ thể của nó. Chỉ đến K.Marx điều này
mới được làm rõ.
II. Quan điểm của CácMác về vấn đề lợi nhuận

= T + t
t là giá trị thặng dư ( m ), trong lưu thông vẫn không thấy được giá trị thặng dư
được tạo ra từ đâu. Vì vậy Mác đã chuyển đối tượng nghiên cứu từ trong lưu thông sang
lĩnh vực ngoài lưu thông.
Đối với hàng hoá ở ngoài lưu thông tức là quá trình sử dụng, sau một thời gian sử
dụng nhất định thì giá trị sử dụng và giá trị của hàng hoá đều mất đi. Còn đối với tiền tệ ở
ngoài lưu thông, tiền cất trữ để dành, nằm yên một chỗ nó không thể sinh sôi nảy nở được.
Vậy Mác kết luận ở ngoài lưu thông cũng không tìm thấy nguồn gốc tạo ra giá trị thặng dư.
Lần thứ hai Mác trở lại lưu thông và phát hiện ra một điều bí mật trong lưu thông là
người có tiền, nhà tư bản phải tìm đến một thứ hàng hoá đặc biệt để mua mà thứ hàng hoá
đó sau khi sử dụng không những giá trị mà giá trị sử dụng không mất đi mà nó lại tạo ra một
lượng giá trị lớn hơn giá trị bản thân nó, đó là hàng hoá sức lao động. Hàng hoá sức lao
động cũng giống như các hàng hoá khác có giá trị nhưng đó là phía trị hao phí sức lao động

xã hội cần thiết để sản xuất ra sức lao động, là những tư liệu sinh hoạt để nuôi sống bản thân
và gia đình anh ta, kể cả các chi phí đào tạo tay nghề, nhu cầu về tinh thần, tôn giáo…Còn
giá trị sử dụng có đặc tính đặc biệt khác với các hàng hoá khác là sau một thời gian tiêu
dùng sức lao động không những giá trị và giá trị sử dụng của nó không mất đi mà ngược lại
càng sử dụng thì giá trị và giá trị sử dụng càng tăng lên vì tay nghề của công nhân càng
thành thạo hơn, cao hơn nên năng suất sẽ cao hơn do đó càng làm tăng lượng tiền ứng ra
ban đầu của nhà tư bản.
Sau khi biến tiền của mình thành tư bản, tức là đã mua được hàng hoá sức lao động
và tư liệu sản xuất thì nhà tư bản tiến hành quá trình sản xuất tạo ra giá trị thặng dư, đây là
mục tiêu, là động lực cho hoạt động sản xuất của nhà tư bản. Họ tiến hành sản xuất trong
các nhà máy với tư cách là ông chủ còn công nhân là người làm thuê, họ bắt công nhân kết
hợp sức lao động với tư liệu sản xuất mua trước đó để tạo ra sản phẩm theo kế hoạch của
nhà tư bản. Để làm rõ quá trình bóc lột sức lao động, chiếm lấy giá trị thặng dư của nhà tư
bản mà do công nhân là ra đáng lẽ ra phải thuộc về mình nhưng lại không được gì. Mác dựa
trên giả định khoa học và kết hợp với trừu tượng hoá để đi sâu vào nghiên cứu nền kinh tế :
( giả định giá cả ổn định trao đổi mua bán ngang giá, nền kinh tế không có ngoại thương ).

Tổng = 16đ Tổng = 20đ

Khi tiêu thụ xong 10kg sợi nhà tư bản thu được một lượng tiền lớn hơn lượng tư bản
ứng ra ban đầu ( là 4đ ) tức là đã có lợi nhuận, có lãi, lượng chênh lệch đó là do giá trị sức
lao động của công nhân làm ra so với tiền lương mà nhà tư bản đã trả cho họ.
Vậy bản chất của giá trị thặng dư là do bóc lột sức lao động công nhân
1ngày lđ 8h
0 4 8
4giờ đầu người công nhân tạo ra một lượng giá trị bằng tiền lương mà nhà tư bản trả
cho họ, còn 4 giờ là lao động không công, tạo ra giá trị thặng dư và bị nhà tư bản chiếm
đoạt. Đến đây ta thấy rõ bản chất, nguồn gốc, quá trình tạo ra giá trị thặng dư và công thức
của tư bản bây giờ trở thành : T – H – SX…- H
/
- T
/
như vậy giá trị thặng dư được tạo ra
trong quá trình sản xuất tức là ngoài lưu thông nhưng đồng thời nó cũng lại là do lưu thông
sinh ra, nghĩa là nhà tư bản ứng, tư bản ra trước để mua sức lao động thuê công nhân ở trong
lưu thông và sau đó tiến hành quá trình sản xuất, bóc lột sức lao động, lấy phần giá trị dôi ra
và giá trị thặng dư.

Vậy : “ Giá trị thặng dư là giá trị mới dôi ra ngoài giá trị sức lao động do công nhân
tạo ra và bị nhà tư bản chiếm không ”. Sản xuất ra giá trị thặng dư chỉ là qúa trình tạo ra giá
trị được kéo dài quá cái thời điểm mà ở đó giá trị sức lao động do nhà tư bản trả và được
hoàn lại bằng vật ngang giá mới.
Tỷ suất giá trị thặng dư là tỷ số tính theo phần trăm giữa giá trị thặng dư và tư bản
khả biến cần thiết để sản xuất ra giá trị thặng dư đó, tức là tỷ số theo đó tư bản khả biến tăng
thêm giá trị m
/
= m . 100%

sinh ra từ v, nhưng khi xuất hiện K thì cơ cấu giá trị thặng dư và thực chất bóc lột của
CNTB đã bị che đậy, nhà tư bản khẳng định rằng giá trị thặng dư được đẻ ra từ toàn bộ vốn
ứng trước và khẳng định dưới chế độ TBCN không có bóc lột lao động “ Kẻ có của, người
có công, máy móc sinh lời ”. Khi giá trị thặng dư được xem là do tư bản ứng trước sinh ra
thì nó mang một hình thức biến tướng mới Mác gọi đó là lợi nhuận ( p ), nên cơ cấu giá trị
của sản phẩm là K + p. Giữa giá trị thặng dư và lợi nhuận có điểm giống nhau là chúng đều
được sinh ra từ lao động làm thuê của công nhân, nhưng giá trị thặng dư nêu ra được nguồn
gốc bóc lột của CNTB là lao động không công của người công nhân làm thêm, còn lợi
nhuận ( p ) lại không nói lên điều đó.
Lợi nhuận là động lực thúc đẩy các nhà tư bản tham gia vào hoạt động sản xuất kinh
doanh, nhưng họ quan tâm hơn cả là đến tỷ suất lợi nhuận

Tỷ suất lợi nhuận là tỷ số tính theo phần trăm giữa giá trị thặng dư nhà tư bản bóc lột
được so với số tư bản ứng trước mà nhà tư bản bỏ ra. Tỷ suất giá trị thặng dư m
/
nói lên
trình độ bóc lột của nhà tư bản, còn tỷ suất lợi nhuận thì mách bảo cho nhà tư bản nên đầu
tư vào đâu thì có lợi nhất. Vì trong xã hội có nhiều nhà tư bản khác nhau nên có sự cạnh
tranh giữa họ trong việc đâù tư sản xuất sao cho lợi nhuận là cao nhất. Từ đó hình thành ra
tỷ suất lợi nhuận bình quân nó “ là tỷ số tính theo phần trăm giữa tổng giá trị thặng dư
trong xã hội tư bản và tổng tư bản xã hội đầu tư vào tất cả các lĩnh vực, các ngành của nền
sản xuất TBCN ”.
4. Các hình thức biểu hiện của giá trị thặng dư :
Tư bản thương nghiệp là một bộ phận của tư bản công nghiệp tác rời làm chức năng
thực hiện chuyểnn các hàng hoá và dịch vụ do tư bản công nghiệp sản xuất ra công thức
%100.
/
v
c
m

đủ…Trong khi đó lại có một số nhà tư bản khác đang cần vốn để sản xuất vì vậy xuất hiện
quan hệ vay mượn. Nhà tư bản đi vay sau khi vay được vốn thì tiến hành sản xuất bóc lột
sức lao động làm thuê để thu được giá trị thặng dư. Nhưng do cơ chế cạnh tranh dưới chủ
nghĩa tư bản là quy luật tỷ suất lợi nhuận bình quân nền nhà tư bản đi vay chỉ thu được lợi
nhuận bình quân mà thôi. Nhờ vốn đi vay mà họ thu được lợi nhuận bình quân nên họ phải
trả cho nhà tư bản có vốn cho vay một phần của lợi nhuận bình quân đó, phần này được gọi
là lợi tức cho vay. Vậy lợi tức cho vay là một phần của lợi nhuận bình quân mà nhà tư bản
đi vay trả cho nhà tư bản cho vay, vì nhà tư bản cho vay đã nhường quyền sử dụng vốn của
mình trong một thời gian nhất định cho nhà tư bản khác.
Tư bản ngân hàng và lợi nhuận ngân hàng : Tư bản ngân hàng cũng giống như tư
bản công nghiệp, thương nghiệp ứng tiền ra để xây dựng nhà cửa, cơ sở hạ tầng để kinh
doanh tiền tệ. Nó có chức năng giao dịch kinh doanh tiền tệ, nghĩa là nhận bất cứ tiền gửi
của mọi đối tác trong nền kinh tế với điều kiện sau một thời gian nhất định phải hoàn trả lại
vốn và kèm theo lơị tức tiền gửi cho người có vốn, sau đó họ lại đem tiền đó cho các đối tác
khác trong nền kinh tế đang cần vốn vay, với điều kiện phải hoản trả lại vốn đúng thời hạn
và kèm theo lợi tức cho vay cho ngân hàng. Thường thì lợi tức cho vay bao giờ cũng lớn

hơn lợi tức tiền gửi. Sự chênh lệch đó là phần tiền lời mà nhà tư bản ngân hàng nhận được,
Mác gọi đó là lợi nhuận ngân hàng. Tư bản ngân hàng và tư bản cho vay giống nhau ở chỗ
đều kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, nhưng khác nhau là vốn của tư bản ngân hàng là vốn
hoạt động giống với của tư bản công nghiệp, còn vốn của tư bản cho vay là vốn nhàn dỗi,
vốn tạm thời. Nhưng dù khoản tiền thu được do vốn đem lại dưới hình thức lợi tức cho vay
và lợi nhuận ngân hàng đều có nguồn gốc từ giá trị thặng dư mà nhà tư bản đi vay bóc lột
sức lao động của công nhân, lấy một phần trong lợi nhuận bình quân của mình trả cho nhà
tư bản cho vay mà thôi, còn tư bản ngân hàng nó cũng thu được một lợi nhuận bình quân vì
nó là tư bản hoạt động , tư bản chức năng.
Tư bản kinh doanh ruộng đất và địa tô tư bản chủ nghĩa : Trong xã hội một số
nhà tư bản có vốn không tham gia vào kinh doanh trong công nghiệp, thương nghiệp, ngân
hàng… mà họ bỏ vốn ra thuê ruộng đất của địa chủ và thuê công nhân sau đó tiến hành sản
xuất kinh doanh trong nông nghiệp bóc lột sức lao động công nhân để thu giá trị thặng dư.

nhuận. Vậy muốn hoạt động có hiệu quả và tồn tại được thì nhà tư bản phải nhất thiết thực
hiện 3 giai đoạn đó của hoạt động sản xuất kinh doanh. Mọi nhà tư bản đều tìm mọi cách
làm tăng lượng giá trị thặng dư lên mức cao nhất có thể được, đặc biệt là tìm cách để đáp
ứng yêu cầu đó ở trong quá trình sản xuất bóc lột tuyệt đối và tương đối người làm thuê. Lợi
nhuận chính là động lực, là mục tiêu, miếng mồi béo bở hấp dẫn kích thích các nhà tư bản
hăng say hơn tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh, và dùng mọi biện pháp, mọi thủ
đoạn cũng như việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào để nhằm đạt được mục tiêu đó. Dù nhà
tư bản tìm kiếm lợi nhuận dưới hình thức nào đi nữa ( lợi nhuận của TB công nghiệp, lợi
nhuận thương nghiệp của tư bản thương nghiệp, lợi nhuận ngân hàng, lợi tức cho vay, địa
tô… ) thì nó đều là sự bóc lột sức lao động của công nhân mà có và cũng từ trong quá trình
sản xuất, tiêu thụ sức lao động mà nó tạo ra lợi nhuận; đó cũng chính là bản chất là nguồn
gốc của lợi nhuận, điều này nó nói nên bản chất bóc lột chỉ chạy theo lợi nhuận của chế độ
tư bản chủ nghĩa khác hẳn so với chế độ xã hội chủ nghĩa. Đồng thời lợi nhuận cũng là một
yếu tố kích thích cho sản xuất xã hội, cho nền kinh tế, cho xã hội phát triển. Vì vậy nghiên
cứu vai trò của lợi đối với nước ta trong nền kinh tế thị trường, trong công cuộc công nghiệp
hoá - hiện đại hoá xây dựng đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa, tạo ra một xã hội
công bằng văn minh… là điều rất quan trọng được đặt vào một trong những nhiệm vụ hàng
đầu của đất nước ta hiện nay.

B. Vai trò của lợi nhuận đối với nền kinh tế thị trường nói chung và đối với Việt
Nam nói riêng :
1. Trong nền kinh tế thị trường lợi nhuận là thúc đẩy các doanh nghiệp, các công ty,
các thành phần kinh tế và cả tư nhân nữa… tham gia vào hoạt động kinh tế nhằm thu được
lợi nhuận và càng được nhiều lợi nhuận hơn thì càng tốt.
Lịch sử phát triển của xã hội loài người cũng là sự phát triển các hình thái kinh tế xã
hội từ thấp đến cao, từ nền kinh tế tự nhiên trong xã hội nguyên thuỷ và phong kiến vì nó
mang tính tự cung tự cấp. Đến khi chủ nghĩa tư bản ra đời thì kinh tế hàng hoá mới giữ vai
trò chi phối đời sống kinh tế xã hội, lúc này mới thực sự là nền kinh tế hàng hoá, đồng thời
là nền kinh tế thị trường. Hàng hoá và thị trường là hai mặt không thể tách rời nhau đã có
hàng hoá thì phải có trao đổi mua bán tức là có thị trường; nền kinh tế hàng hoá vận hành

Với ý nghĩa đặc biệt, vai trò của lợi nhuận quyết định sự sống còn của mỗi doanh
nghiệp, mỗi công ty, cũng như tính tất yếu của nó trong nền kinh tế thị trường, đã đặt ra
một áp lực liên tục và lâu dài buộc người cầm đầu mọi doanh nghiệp cạnh tranh phải áp
dụng thêm nhiều biện pháp tiết kiệm và nâng cao hiệu quả vào công cuộc sản xuất kinh
doanh, dù cho các biện pháp này được áp dụng vào bất kỳ giai đoạn sản xuất nào rồi. Trong
thời kỳ thịnh vượng phương pháp này được thực hiện nhằm làm tăng thêm lợi nhuận nữa,
trong thời kỳ không mấy lạc quan thì phương pháp này giúp họ đủ sức đương đầu với cạnh
tranh, còn thời kỳ lỗ, họ càng lỗ lực thực hiện chúng để may ra còn có cơ hội sống được tồn
tại được. Vì lợi nhuận có thể không những mất đi hết mà công ty còn nhanh chóng bị lỗ đi
nữa là khác, họ dốc hết sức mình để thoát ra khỏi tai nạn. Xuất phát từ mối quan hệ giữa chi
phí sản xuất và giá cả trong nền kinh tế thị trường thì lợi nhuận không được làm tăng thêm
nhờ việc tăng giá cả vì có cạnh tranh nên có giá cả chung ( trừ ở một số công ty độc quyền,
nhưng nó không bao giờ xảy ra trong một thời kỳ lâu dài ), mà ngược lại lợi nhuận được tạo
ra bằng cách áp dụng các biện pháp tích kiệm nâng cao hiệu quả sản xuất để giảm bớt chi
phí sản xuất. Lợi nhuận còn chỉ ra cho chúng ta biết mặt hàng được sản xuất trong tình
huống tiết kiệm tài nguyên nhất, mà còn cho ta biết được phương thức sản xuất nào tiết
kiệm nhất trong xã hội. Những câu hỏi này được mọi người giải đáp không cứ chủ nghĩa xã
hội hay chủ nghĩa tư bản, chúng phải được giải quyết bởi một hệ thống có ý thức. Bởi vì có
quá nhiều sản phẩm và dịch vụ phải được sản xuất nên các vấn đề này được giải quyết bằng
cơ chế lời – lỗ trong nền kinh doanh tự do cạnh tranh sẽ ưu việt hơn bất cứ cơ chế nào khác.
Khuynh hướng hạ thấp chi phí sản xuất bởi vì nó phản ánh vai trò của cơ chế lời – lỗ, vì
cùng một loại sản phẩm nếu nhà sản xuất nào có chi phí thấp hơn thì thu được nhiều lợi
nhuận hơn và ngược lại. Vai trò của lợi nhuận trong việc thưởng và khích lệ sản xuất mặt

hàng có phẩm chất tốt hơn cũng như cải tiến sản phẩm lại được mọi người công nhân hơn là
việc hiểu lợi nhuận được sinh ra trong quá trình sản xuất, trong quá trình sử dụng sức lao
động làm thuê của công nhân.
Kết quả cuối cùng của việc sản xuất kinh doanh là các nhà sản xuất tính nên sản xuất
cái gì ? sản xuất như thế nào ? số lượng bao nhiêu ? cho ai ? điều đó cũng chỉ là để nhằm
thu được lợi nhuận cao nhất, lợi nhuận là động lực thúc đẩy họ theo đuổi vào nền kinh tế thị

Để sử dụng đúng các lợi ích kinh tế đó thì đòi hỏi trước hết ta phải hiểu rõ bản chất của lợi
ích kinh tế cũng như những đặc trưng chủ yếu của nó.
Mỗi một hình thái kinh tế xã hội gồm nhiều lợi ích kinh tế phức tạp. Trong đó lợi ích
kinh tế có ý nghĩa quyết định nhất, các lợi ích kinh tế được quy định bởi quan hệ sản xuất
của mỗi chế độ xã hội trong đó quan hệ đối với tư liệu sản xuất có vai trò chi phối hệ thống
lợi ích kinh tế. “ Lợi ích kinh tế là những quan hệ kinh tế phản ánh những nhu cầu những
động cơ khách quan về sự hoạt động của các giai cấp, nhóm xã hội hay từng người lao động
riêng biệt, do quan hệ sản xuất quyết định. Đặc trưng cơ bản của lợi ích kinh tế là hình thức
biểu hiện của quan hệ kinh tế và quy luật kinh tế. Lợi ích kinh tế là phạm trù kinh tế khách
quan nó chỉ xuất hiện khi những người sản xuất có quan hệ kinh tế với nhau, nó là sản
phẩm của những quan hệ kinh tế là hình thức vốn có bên trong, hình thức tồn tại và biểu
hiện các quan hệ kinh tế , không có lợi ích kinh tế nằm ngoài những quan hệ kinh tế. Quan
hệ kinh tế mang tính khách quan, luôn tồn tại trong vận động, hình thức vận động của các
quy luật kinh tế do nó trực tiếp sinh ra, quy luật kinh tế chỉ có thể tác động thông qua con
người mà biểu hiện là ở lợi ích kinh tế. Như vậy lợi ích kinh tế vừa có tính chất khách quan
lại vừa mang màu sắc chủ quan. Tính chủ quan là ở chỗ biến các tác động khách quan của
quy luật kinh tế thành động cơ hành động kinh tế của con người. Nói cách khác lợi ích kinh
tế là sự thống nhất biện chứng giữa nhân tố khách quan và nhân tố chủ quan cho nên nó trở
thành động lực mạnh mẽ bên trong nền kinh tế phải nắm vững và thực hiện tốt hệ thống lợi
ích kinh tế khách quan.
Lợi ích kinh tế bao giờ cũng mang tính chất lịch sử và tính giai cấp. Mỗi một xã hội
có một hệ thống lợi ích kinh tế riêng của mình, nó thể hiện bản chất của từng xã hội. Trong
điều kiện nền kinh tế nước ta hiện nay.
Lợi ích kinh tế là động lực thúc đẩy mọi tiến bộ kinh tế. Nó biểu hiện các quan hệ
kinh tế, nó có vai trò là một động lực mạnh mẽ đối với nền kinh tế. Mỗi xã hội khác nhau
nên vai trò động lực của lợi ích kinh tế cũng biểu hiện khác nhau, như trong giai đoạn

CNTB tự do cạnh tranh thì lợi nhuận siêu ngạch là động lực thúc đẩy các nhà tư bản áp
dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất, nâng cao năng suất lao động, điều này đã làm
cho nền sản xuất phát triển.

nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư bản nhà nước , kinh tế tư nhân, hộ gia đình, tiểu thương, tiểu
chủ…. Trong đó thành phần kinh tế nhà nước và tập thể được ưu tiên và coi là mục tiêu
chính của nền kinh tế, vì trong điều kiện lâu dài thì lợi ích toàn xã hội ( lợi ích nhà nước )
đóng vai trò chủ đạo, bởi vì lợi ích này thể hiện những mục đích và nhiệm vụ phát triển tiến
bộ của xã hội và nó cũng bao gồm cả những lợi ích kinh tế căn bản của tập thể những người
lao động và của mỗi thành viên trong xã hội. Sự thống nhất giữa các nhóm lợi ích cân bằng
trong xã hội là sự thống nhất biện chứng, nếu không có lợi ích toàn dân thì cũng không thể
có lợi ích căn bản của cá nhân và tập thể được. Ngược lại nếu không chú ý và thực hiện lợi
ích cá nhân thì không thể thực hiện được một cách đầy đủ nhất lợi ích kinh tế của xã hội nói
chung hay tập thể những người lao động nói riêng. Quan hệ biện chứng giữa lợi ích toàn
dân, lợi ích tập thể và lợi ích cá nhân phản ánh những quan hệ kinh tế chủ yếu nhất trong
thời kỳ quá độ. Sự tồn tại của lợi ích này là điều kiện tồn tại của lợi ích kia và ngược lại,
không có một lợi ích nào tồn tại một cách tách rời riêng rẽ. Thực tế mỗi một chủ thể kinh tế
đồng thời có cả nhóm 3 lợi ích cơ bản trên, nó được thực hiện một cách gián tiếp hoặc trực
tiếp, phục vụ cho chính nó và cho người khác, cho xã hội, cho cộng đồng.
- Nền kinh tế Việt Nam từ năm 1986 đến nay và vấn đề lợi nhuận.
Đại hội VII của Đảng đã chỉ rõ : “ Lợi ích của mỗi người, của toàn xã hội gắn bó hữu
cơ với nhau, trong đó lợi ích cá nhân là động lực trực tiếp ”. Nhưng sự khác nhau căn bản
giữa nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường ở nước ta với
nền kinh tế thị trường ở các nước tư bản chủ nghĩa là nó mang bản chất xã hội chủ nghĩa, nó
không thuần tuý chỉ chạy theo lợi nhuận là cái đích cuối cùng của CNTB mà nó còn kết
hợp với lợi ích của xã hội, của cộng đồng, của toàn dân, của con người nói chung. Đó là sự
kết hợp hài hoà giữa các lợi ích kinh tế nhằm thúc đẩy đất nước vừa phát triển về mặt kinh
tế và vừa phát triển về mặt xã hội.
Điều trên được thực hiện thông qua sự quản lý của nhà nước đối với kinh tế và đối
với xã hội. Đối với kinh tế nhà nước quản lý vĩ mô và thực hiện chức năng kinh tế quản lý
các xí nghiệp của mình, thông qua pháp luật về kinh tế nhà nước tạo điều kiện môi trường
cho các xí nghiệp phát triển và đồng thời cũng hỗ trợ nỗ lực bằng các kế hoạch các chính
sách kinh tế, tạo ra một sự tăng trưởng ổn định về kinh tế. Đi đôi với việc phát triển kinh tế


Kết luận
Trong điều kiện nền kinh tế thế giới đang đẩy mạnh quá trình giao lưu hợp tác giữa
các nước với nhau, mở rộng thị trường tạo thành thị trường quốc tế, thị trường giữa các
nước, các khu vực như ở Châu Âu có thị trường Châu Âu, ở Đông Nam á có ASEAN
…. Vì vậy hiện nay bất kỳ một quốc gia nào muốn phát triển về kinh tế được phải
chuyển sang nền kinh tế thị trường, phải mở cửa nền kinh tế nhập vào với nền kinh tế vào
thị trường thế giới. Nền kinh tế thị trường thị trường nó tạo ra tính năng động cho các doanh
nghiệp, các quốc gia trong hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm thu được lợi nhuận cao
nhất, nó cũng là cơ hội cho mọi quốc gia trong hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm thu
được lợi nhuận cao nhất; nó cũng là cơ hội cho mọi quốc gia đưa những tiến bộ khoa học kỹ
thuật vào nước mình và nó cũng có nhưng điều không lợi cho các doanh nghiệp các quốc
gia yếu, kém phát triển không thể cạnh tranh nổi. Lợi nhuận lại có vai trò rất quan trọng
trong cạnh tranh nền kinh tế thị trường, nó là động cơ thúc đẩy các doanh nghiệp các quốc
gia theo đuổi để tìm kiếm. Nghiên cứu vấn đề về lợi nhuận có một ý nghĩa quan trọng đối
với nước ta trong thời kỳ quá độ, tham gia vào nền kinh tế thị trường thế giới giúp ta nhập
các tiến bộ, các thành tựu của thế giới vào trong nước để đẩy nhanh quá trình công nghiệp
hoá hiện đại hoá, quá trình xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Mặt khác
nó còn phát huy được thế mạnh kinh tế của đất nước, có nghĩa là đi sâu vào sản xuất kinh
doanh ngành mũi nhọn của mình dựa trên điều kiện về nguồn tài nguyên khoáng sản và lao
động mà các nước khác không có, như ở Việt Nam hiện nay với dân số trẻ có một tiềm năng
về lao động lớn cho nên việc sản xuất trong các ngành may mặc, cao su, lúa gạo… được coi
là thế mạnh để xuất khẩu thu ngoại tệ về cho đất nước. ở nước ta đã có một thời kỳ nền
kinh tế phát triển trì trệ do việc áp đặt cơ chế kế hoạch tập trung quan liêu bao cấp quá lâu,
nó không còn phù hợp với điều kiện hiện tại của đất nước và hoàn cảnh bên ngoài của thế
Tài liệu tham khảo 1.Lịch sử các học thuyết kinh tế ( Trường ĐHKTQD )
2. Kinh tế Chính trị tập I, II ( ĐHKTQD )
3. Tư bản quyển I tập 1, quyển III tập 1,2, 3 ( Lý luận giá trị thặng
dư, lý luận lợi nhuận )
4. Kinh tế học của P. Samuellson, của Daved Bedd
5. Một số tài liệu khác :
Tạp chí số 2 ; số 13
1995 8 – 1996 Mục lục

Phần I : Đặt vấn đề
Nêu ra ý nghĩa, tầm quan trọng của việc nghiên cứu đề tài này, cơ sở phương
pháp luận và phạm vi nghiên cứu của để tài
Phần II : Nội dung
A. Nguồn gốc, bản chất và sự hình thành của lợi nhuận
I. Quan điểm của Tư sản về vấn đề này :
- Quan điểm Chủ nghĩa Trọng thương
- Quan điểm của trường phái Cổ điển
- Quan điểm của trường phái Trọng Nông
- Quan điểm của các nhà kinh tế chính trị học tiểu tư sản

13
16
21
Trang


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status