ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
----------------------------
NGUYỄN THỊ HUYÊN
QUÁ TRÌNH LÃNH ĐẠO CHUYỂN
DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ CỦA ĐẢNG Ở HUYỆN THUẬN THÀNH
(BẮC NINH) TỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂM 2010
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
Hà Nội, 2013
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
----------------------------
NGUYỄN THỊ HUYÊN
QUÁ TRÌNH LÃNH ĐẠO CHUYỂN
DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ CỦA ĐẢNG Ở HUYỆN THUẬN THÀNH
(BẮC NINH) TỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂM 2010
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số: 602256
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
Hà Nội, 2013
3
Chƣơng 2: ĐẢNG BỘ HUYỆN THUẬN THÀNH LÃNH ĐẠO ĐẨY
MẠNH CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN
TƢ NĂM 2000 ĐẾN NĂM 2010 ................................................................ 61
2.1. Đảng bộ huyện Thuận Thành lãnh đạo đẩy mạnh chuyển dịch
CCKT từ năm 2000 đến năm 2005 ........................................................ 61
2.1.1. Chủ trương đẩy mạnh chuyển dịch CCKT của Đảng bộ huyện
Thuận Thành từ năm 2000 đến năm 2005 .......................................... 61
2.2. Quá trình chỉ đạo thực hiện chuyển dịch CCKT từ năm 2000 đến năm
2005 ...................................................................................................... 66
2.2. Thuận Thành tích cực chuyển dịch CCKT theo hƣớng công nghiệp
hoá, hiện đại hoá từ năm 2005 đến năm 2010 ....................................... 77
2.2.1. Đảng bộ huyện Thuận Thành chủ trương chuyển dịch CCKT: 77
2.2.2. Quá trình lãnh đạo chuyển dịch CCKT và những kết quả đạt
được của Đảng bộ huyện Thuận Thành từ năm 2005 đến năm 2010 82
Chƣơng 3: NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM
3.1. Nhận xét ........................................................................................... 94
3.1.1. Thành tựu .................................................................................. 94
3.1.2. Hạn chế .................................................................................... 105
3.2. Kinh nghiệm................................................................................... 108
KẾT LUẬN ............................................................................................... 112
TÀI LIỆU THAM KHẢO........................................................................ 115
4
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
đại hóa.
Tuy nhiên, trước yêu cầu phải đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa,
“phấn đấu đến năm 2020, nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp
theo hướng hiện đại” như mục tiêu của Đảng đề ra, thì tốc độ và chất lượng
chuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyện còn nhiều vấn đề bất cập. Mặc dù tỷ
trọng công nghiệp và dịch vụ có tăng lên, tỷ trọng nông nghiệp giảm đáng kể
trong CCKT ngành, nhưng cơ cấu lao động lại chuyển dịch không tương
xứng. Tỷ trọng lao động làm trong nông nghiệp còn lớn, số lao động chuyển
sang làm công nghiệp và dịch vụ tuy có tăng lên nhưng chủ yếu làm các công
việc giản đơn, năng suất và thu nhập thấp. Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế chưa
tương xứng với tiềm năng của huyện, hơn nữa còn bộc lộ những hạn chế, mặt
trái trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Có thể nói, chuyển dịch cơ cấu
kinh tế của Thuận Thành vẫn còn nhiều vấn đề chưa được làm rõ.
Để góp phần đánh giá đúng thực trạng và giải quyết những vấn đề còn
tồn tại trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyện Thuận Thành, tôi
chọn đề tài “Quá trình lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Đảng ở huyện
Thuận Thành (Bắc Ninh) từ năm 1996 đến năm 2010” làm luận văn thạc sỹ
Lịch sử chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Từ khi đổi mới cho đến nay, ở nước ta đã có nhiều công trình, đề tài
nghiên cứu xoay quanh vấn đề chuyển dịch CCKT, có thể chia thành mấy
nhóm công trình nghiên cứu sau:
1. Nhóm sách, công trình nghiên cứu viết về các vấn đề chung trong
chuyển dịch CCKT bao gồm:
6
- Tác giả Ngô Đình Giao (chủ biên) với “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế quốc dân”, NXB Chính
- Tác giả Nguyễn Xuân Long với “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
nghiệp nông thôn tỉnh Khánh Hòa theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại
hóa”, NXB Nông nghiệp, Hà Nội, 2003.
- Tác giả Nguyễn Trung Quế với “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
thôn vùng đồng bằng sông Hồng”, NXB Nông nghiệp, Hà Nội, 1995.
Các tác giả đã đánh giá thực trạng về chuyển dịch CCKT ở nông thôn
mỗi vùng, miền cụ thể đồng thời nêu lên những định hướng chủ yếu trong
phát triển kinh tế, chuyển dịch CCKT ở nông thôn trên cơ sở chỉ ra được tiềm
năng, thế mạnh của từng vùng.
3. Nhóm sách là Luận văn, luận án liên quan đến đề tài nghiên cứu:
- Ngô Thái Hà, “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngoại thành theo hướng đô
thị hóa ở huyện Từ Liêm”, Luận văn thạc sỹ, Đại học quốc gia Hà Nội, 2006.
- Võ Văn Minh, “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn huyện Lương
Sơn – Hòa Bình”, Luận án PTS bảo vệ tại Học viên Chính trị Quốc gia Hồ
Chí Minh năm 2004.
- Nguyễn Văn Triệu, “Đảng bộ tỉnh Hà Tây lãnh đạo chuyển dịch cơ
cấu kinh tế (1991-2006)”, Luận văn thạc sỹ, Trường Đại học Khoa học xã hội
và Nhân văn Hà Nội, 2009.
Nhóm công trình nghiên cứu trên đã làm rõ quá trình vận dụng đường
lối, quan điểm của Trung ương, của Đảng trong thực tiễn lãnh đạo chuyển
dịch CCKT ở từng địa phương. Các tác giả đi sâu phân tích, đánh giá những
thành tựu và hạn chế, nêu lên một số kinh nghiệm trong quá trình lãnh đạo
chuyển dịch CCKT của Đảng bộ.
8
4. Nhóm luận văn nghiên cứu về những vấn để liên quan đến chuyển
dịch CCKT ở tỉnh Bắc Ninh, ở huyện Thuận Thành:
- Tác giả Nguyễn Xuân Đương: “Giải pháp khuyến khích doanh nghiệp
của Trung ương, của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh trong lãnh đạo thực hiện chuyển
dịch CCKT ở địa phương từ năm 1996 đến năm 2010.
- Trên cơ sở những lý luận và thực tiễn, luận văn phân tích, đánh giá
bước đầu những thành tựu và hạn chế của quá trình chuyển dịch CCKT ở
Thuận Thành từ năm 1996 đến năm 2010.
- Nêu lên một số kinh nghiệm lãnh đạo của Đảng bộ huyện Thuận
Thành trong lãnh đạo chuyển dịch CCKT từ năm 1996 đến năm 2010.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Trình bày một cách hệ thống chủ trương của Đảng bộ huyện Thuận
Thành vận dụng đường lối của Trung ương và của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh về
lãnh đạo chuyển dịch CCKT từ năm 1996-2010.
- Phân tích quá trình chỉ đạo thực hiện chuyển dịch CCKT của Đảng bộ
huyện Thuận Thành, nêu những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân của
những thành tựu, hạn chế đó.
- Đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm thúc đẩy quá trình chuyển
dịch CCKT theo hướng đúng đắn, tích cực.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Các chủ trương và sự chỉ đạo thực hiện của Đảng bộ huyện Thuận
Thành trong chuyển dịch CCKT, những số liệu cụ thể cho thấy thực trạng
chuyển dịch CCKT trên địa bàn huyện từ năm 1996 đến năm 2010.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Nghiên cứu quá trình Đảng bộ huyện Thuận Thành lãnh,
chỉ đạo chuyển dịch CCKT từ năm 1996 đến năm 2010.
10
- Về thời gian: Nghiên cứu những vấn đề liên quan đến chuyển dịch
CCKT từ năm 1996 đến năm 2010.
- Về không gian: Địa bàn huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.
12
NỘI DUNG
Chương 1: ĐẢNG BỘ HUYỆN THUẬN THÀNH LÃNH ĐẠO
CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ TỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂM 2000
1.1. Cơ sở lý luận về CCKT và chuyển dịch CCKT
1.1.1. Khái niệm về CCKT:
Có nhiều định nghĩa khác nhau khi luận bàn về CCKT. Theo Từ điển
Bách khoa Việt Nam, xuất bản năm 2003: “CCKT là tổng thể các ngành, lĩnh
vực, bộ phận kinh tế có quan hệ hữu cơ tương đối ổn định hợp thành” [tr 40,
35]. Giáo trình chính sách kinh tế-xã hội của Trường Đại học Kinh tế Quốc
dân viết: “CCKT của nền kinh tế quốc dân là hình thức cấu tạo bên trong của
nền kinh tế quốc dân, đó là tổng thể các quan hệ chủ yếu về số lượng và chất
lượng tương đối ổn định của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong một
hệ thống tái sản xuất xã hội với những điều kiện kinh tế xã hội nhất định…”
[36, tr. 41].
Theo C.Mác: CCKT của xã hội là toàn bộ những quan hệ sản xuất phù
hợp với quá trình phát triển nhất định của các lực lượng sản xuất vật chất [13,
tr. 53]. Mác đồng thời nhấn mạnh, khi phân tích cơ cấu phải chú ý đến cả hai
khía cạnh là chất lượng và số lượng, cơ cấu chính là sự phân chia về chất và
tỷ lệ về số lượng của những quá trình sản xuất xã hội. Như vậy, cơ cấu kinh tế
là một hệ thống bao gồm các ngành, lĩnh vực, bộ phận kinh tế có quan hệ hữu
cơ tương đối ổn định hợp thành.
“CCKT mang tính khách quan được hình thành trên cơ sở trình độ phát
triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội, sự tăng trưởng của
các yếu tố cấu thành nền kinh tế. CCKT là một hệ thống động, các yếu tố
trong CCKT vận động trong mối quan hệ hữu cơ tác động ràng buộc lẫn nhau:
giai đoạn sau phát triển cao hơn giai đoạn trước” [28, tr 6].
14
sự phân công lao động xã hội ngày càng sâu rộng thì tỷ lệ dịch vụ trong
CCKT ngày càng lớn.
Cơ cấu theo đơn vị hành chính, lãnh thổ (cơ cấu vùng kinh tế) thể hiện
sự phân công lao động trên lãnh thổ với lợi thế về điều kiện tự nhiên, kinh tếxã hội của mỗi vùng, hình thành các vùng chuyên môn hóa, đa dạng hóa
nhằm khai thác có hiệu quả nguồn nhân lực và tiềm năng kinh tế trong vùng,
mang lại giá trị kinh tế. Cơ cấu vùng kinh tế gắn chặt chẽ với cơ cấu ngành
kinh tế, hợp thành hai mặt của một quá trình phát triển.
Cơ cấu thành phần kinh tế phản ánh sự tồn tại của các hình thức sở
hữu. Nếu như phân công lao động sản xuất đã là cơ sở hình thành cơ cấu
ngành và cơ cấu lãnh thổ - vùng, thì chế độ sở hữu là cơ sở hình thành cơ cấu
thành phần kinh tế. Cơ cấu thành phần kinh tế cũng là nhân tố tác động đến cơ
cấu ngành kinh tế và cơ cấu vùng - lãnh thổ. Sự tác động đó là biểu hiện sinh
động của mối quan hệ giữa các loại cơ cấu trong nền kinh tế. Loại cơ cấu này
phản ánh các mối quan hệ giữa con người trong quá trình sản xuất, trong đó
nổi bật là quan hệ sở hữu đối với các tư liệu sản xuất. Mô hình chung về số
lượng thành phần kinh tế trong nền kinh tế các nước bao gồm: kinh tế nhà
nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân, kinh tế hỗn hợp. Tỷ lệ giữa các thành
phần kinh tế này thường không giống nhau. Điều này tạo ra tính đặc thù trong
chiến lược phát triển kinh tế của mỗi quốc gia cũng như trong mỗi giai đoạn
phát triển của từng quốc gia.
CCKT đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế của
mỗi quốc gia, là nhân tố cơ bản quyết định sự tồn tại, phát triển kinh tế các
nước. Một nền kinh tế muốn tăng trưởng phát triển thì phải hợp lý, tiên tiến,
đáp ứng nhu cầu đặt ra của thời đại, không có một nền kinh tế nào chỉ dựa vào
nông nghiệp, công nghiệp hay dịch vụ. CCKT hợp lý cho phép khai thông, tạo
động lực cho việc khai thác có hiệu quả nguồn lực trong ngoài nước.
16
hướng sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế theo các mục tiêu kinh tế - xã hội
đã xác định cho từng thời kỳ phát triển.
1.2. Những căn cứ để xác định chuyển dịch CCKT ở huyện Thuận
Thành
1.2.1. Điều kiện tự nhiên và kinh tế, xã hội của huyện Thuận Thành
1.2.1.1. Điều kiện tự nhiên
- Vị trí địa lý:
Thuận Thành là huyện thuộc tỉnh Bắc Ninh nằm trong vùng đồng bằng
Bắc Bộ, có tọa độ địa lý từ 1050 32’ 10-105055’10’ kinh độ Đông; 20054’00’’21007’10’’ vĩ độ Bắc.
+ Phía Bắc giáp huyện Tiên Du và Quế Võ - tỉnh Bắc Ninh.
+ Phía Nam giáp huyện Văn Lâm tỉnh Hưng Yên và huyện Cẩm Giàng
- tỉnh Hải Dương.
+ Phía Đông giáp huyện Gia Bình và Lương Tài - Bắc Ninh).
+ Phía Tây giáp huyện Gia Lâm – Hà Nội.
Huyện Thuận Thành có 18 đơn vị hành chính, diện tích tự nhiên là
11.971,01 ha, có quốc lộ 38 nối liền thành phố Bắc Ninh (Là trung tâm kinh
tế, chính trị, văn hoá, xã hội của tỉnh Bắc Ninh) với quốc lộ 5. Việc đầu tư
xây dựng cầu Hồ và mở rộng nâng cấp quốc lộ 38 trở thành tuyến đường
chiến lược thông thương với Hải Dương, Hưng Yên và đặc biệt là thành phố
Hải Phòng, nơi có cảng quốc tế và khu công nghiệp tập trung có ý nghĩa quan
trọng góp phần đẩy nhanh quá trình chuyển dịch CCKT của vùng.
Trung tâm huyện cách thị xã Bắc Ninh 15 km về phía Bắc, cách thủ đô
Hà Nội 25km theo hướng Tây Nam. Thuận Thành có 4 tuyến đường tỉnh lộ đi
qua, với chiều dài 42,7km, trong đó tỉnh lộ 280 tuyến Phố Núi - Hồ dài 5km,
tỉnh lộ 281 Lương Tài-Nguyệt Đức dài 6,7km, tỉnh lộ 282 tuyến Nông trường
Toàn Thắng - Cao Đức dài 14km, tỉnh lộ 283 tuyến Hồ - Song Liễu dài 22km,
17
Tổng số giờ nắng trong năm dao động từ 1.530 - 1.776 giờ, trong đó
tháng có nhiều giờ nắng trong năm là tháng 7, tháng có ít giờ nắng là tháng 1.
Hàng năm có 2 mùa gió chính: Gió mùa Đông Bắc và gió mùa Đông
Nam. Gió mùa Đông Bắc thịnh hành từ tháng 10 năm trước đến tháng 3 năm
sau, gió mùa Đông Nam thường xảy ra từ tháng 4 đến tháng 9 mang theo hơi
ẩm, gây mưa rào.
Nhìn chung, Thuận Thành có điều kiện khí hậu thuận lợi cho phát triển
nền nông nghiệp đa dạng và phong phú. Mùa Đông với khí hậu khô, lạnh làm
cho vụ Đông trở thành vụ chính có thể trồng được nhiều loại cây rau màu
ngắn ngày cho giá trị cao và xuất khẩu.
- Tài nguyên đất
Đất là tài nguyên tự nhiên vô cùng quý giá, không thể tái tạo được và bị
giới hạn về mặt không gian. Muốn có một phương án quy hoạch sử dụng đất
hợp lý, trước hết phải nắm vững tài nguyên đất cả về số lượng và chất lượng.
Theo kết quả điều tra xây dựng bản đồ thổ nhưỡng huyện Thuận Thành
tỷ lệ 1/10.000, toàn huyện có 4 nhóm đất và 17 đơn vị đất cấp III.
Theo số liệu thống kê của Phòng Địa chính huyện Thuận Thành, tổng
diện tích đất tự nhiên tính đến năm 2010 của huyện là 11.791,01 ha, trong đó
đất nông nghiệp sản xuất nông nghiệp chiếm tới 58,39%, đất nuôi trồng thủy
sản chiếm 3.59%, đất nông nghiệp khác chiếm 0.87%, đất ở đô thị chiếm
0.58%, đất ở nông thôn chiếm 10,57%, đất chuyên dùng chiếm 18.37%, đất
phi nông nghiệp khác chiếm 7.09%, đất chưa sử dụng chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ
0.52%. Như vậy, diện tích đất chủ yếu được sử dụng cho sản xuất nông
nghiệp. Tuy nhiên diện tích này biến động theo xu hướng giảm dần qua các
năm.
Qua 3 năm (từ năm 2008 đến năm 2010), diện tích đất sản xuất nông
nghiệp giảm từ 60.73% xuống còn 58.39%. Nguyên nhân là do chuyển mục
19
1.2.1.2. Điều kiện kinh tế và xã hội:
Nền kinh tế huyện trong thời gian qua có bước tăng trưởng khá, tốc độ
phát triển kinh tế huyện năm 2010 đạt 17,48 %, cơ cấu kinh tế chuyển dịch
theo hướng tiến bộ; tăng dần tỷ trọng ngành CN- TTCN và thương mại-dịch
vụ, giảm dần tỷ trọng ngành NN.
- Dân số - Lao động
Dân số huyện Thuận Thành năm 2010 là 145.189 người, mật độ dân số
khá cao vào khoảng 1.231 người/km2 (mật độ của cả tỉnh Bắc Ninh là 1.226
người/km2). Tốc độ tăng bình quân trong 2 năm (2008- 2010) là 100,4%.
Lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế của huyện Thuận
Thành mỗi năm tăng thêm khoảng 1- 2 nghìn người. Tổng lao động của huyện
năm 2008 là 88.229 và tăng lên 90.082 năm 2010 với tốc độ bình quân là
102.1%. Trong cơ cấu lao động huyện Thuận Thành, lao động trong ngành
nông nghiệp còn chiếm tỷ trọng cao, năm 2008 chiếm 63.7% tổng lao động,
đến năm 2009 giảm xuống còn 58.6% và năm 2010 giảm xuống còn 53.6%.
Lao động phi nông nghiệp năm 2008 là 32028 người, chiếm 36.3%, đến năm
2009 tăng lên chiếm 41.4% và đến năm 2010 tăng lên là 41798 người, chiếm
46.4%. Có sự chuyển dịch cơ cấu lao động như vậy là do quá trình chuyển
dịch cơ cấu kinh tế, chuyển một phần đất nông nghiệp sang phát triển đô thị,
công nghiệp, dịch vụ.
- Cơ sở vật chất kỹ thuật
Đây là một yếu tố rất quan trọng, vừa phục vụ cho đời sống nhân dân
vừa là điều kiện để thúc đẩy phát triển sản xuất, chuyển dịch CCKT.
* Về giao thông.
- Đường trung tâm huyện lỵ, đường nhánh và đường khu vực có chiều
dài 24.27 km đang được đầu tư xây dựng tại trung tâm huyện. Hiện nay đã
hoàn thành xây dựng đường Bờ Nam Kênh Bắc, đường huyện lộ 1, đang triển
21
70, 80 (thế kỷ trước) nên đến nay phần lớn đã xuống cấp. Trong những năm
qua, huyện đã tập trung huy động các nguồn kinh phí, dự án đầu tư nâng cấp,
xây dựng mới được một số công trình như: Trạm bơm Nghi Khúc, Trạm bơm
Đại Đồng Thành tưới tiêu chủ động, phục vụ việc thâm canh, phát triển sản
xuất NN.
- Về hạ tầng thương mại: Các chợ nông thôn trên địa bàn huyện về cơ
bản đã đáp ứng được nhu cầu giao lưu hàng hoá. Những năm gần đây, huyện
đã tập trung huy động các nguồn vốn ngân sách và các nguồn vốn dự án đầu tư
cải tạo, nâng cấp một số chợ như chợ Mão Điền, chợ Chẹm, chợ Hồ, chợ Vàng
và một chợ trung tâm của huyện...
- Hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ văn hoá, giáo dục, y tế, phúc lợi cộng
đồng: Hệ thống trường phổ thông trung học, trung học cơ sở và các trường
tiểu học nhìn chung đã được đầu tư xây dựng khá kiên cố, đáp ứng cơ bản
việc dạy và học; Trong đó 18/18 xã, thị trấn đã có trường học cao tầng, trường
học mầm non hầu hết đang còn là nhà tạm, một phần bán kiên cố nhưng chưa
đủ tiêu chuẩn.
Toàn huyện có 1 bệnh viện và 1 phòng khám đa khoa khu vực cùng 18
trạm y tế xã, thị trấn 100% nhà bán kiên cố. Có 16 xã đạt tiêu chuẩn y tế cơ
sở.
Cơ sở hạ tầng văn hoá, thể thao, phúc lợi, quản lý nhà nước trong
những năm qua đã được quan tâm đầu tư, song nhìn chung vẫn chưa đáp ứng
được yêu cầu, đặc biệt là hệ thống thuộc tuyến xã chủ yếu vẫn đang còn thiếu.
- Tài nguyên nhân văn
Huyện Thuận Thành là một vùng đất cổ, hình thành và phát triển sớm
từ những năm thuộc thiên nhiên kỷ thứ nhất. Với bề dày lịch sử của mình,
Thuận Thành là miền quê của chùa tháp, đền miếu, quê hương của lễ hội và
sinh hoạt văn hoá dân gian nổi tiếng. Các di tích được xếp hạng với các công
23
Đảng, chính quyền địa phương trong cả nước phải quan tâm lãnh đạo, phải
tìm tòi xây dựng được một CCKT hợp lý theo hướng CNH, HĐH”.
CNH, HĐH bao gồm hai vấn đề cơ bản là: Áp dụng rộng rãi tiến bộ
khoa học kỹ thuật và công nghệ sản xuất mới vào các ngành kinh tế; xác lập
CCKT phát triển hợp lý, có hiệu quả và ngày càng hiện đại. Do đó, chuyển
dịch CCKT và CNH, HĐH có mối quan hệ biện chứng, gắn bó với nhau và
thúc đẩy nhau cùng phát triển. Chuyển dịch CCKT theo hướng hiện đại hóa
tạo điều kiện thuận lợi và là một trong những nội dung cốt lõi của CNH,
HĐH. CCKT vừa là nguyên nhân vừa là kết quả của quá trình CNH, HĐH và
ngược lại CNH, HĐH tạo tiền đề vật chất – kỹ thuật và là con đường, phương
hướng, mục tiêu thúc đẩy chuyển dịch CCKT từ một nền kinh tế phổ biến là
sản xuất nhỏ, manh mún, nông nghiệp là chủ yếu sang một nền kinh tế công
nghiệp hiện đại, có năng suất lao động cao, thúc đẩy sự phát triển toàn bộ nền
kinh tế quốc dân.
Trong lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin cũng như tư tưởng Hồ Chí Minh
đều chỉ rõ mối quan hệ gắn bó hữu cơ, thúc đẩy nhau cùng phát triển giữa hai
ngành kinh tế cơ bản là công nghiệp và nông nghiệp. Trong tư tưởng xây dựng
đất nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn chú trọng phát triển kinh tế công nghiệp
và nông nghiệp. Tháng 4/1962, nói chuyện tại Hội nghị lần thứ bảy BCHTW
Đảng Lao động Việt Nam (Khóa III), Người chỉ rõ: “Công nghiệp và nông
nghiệp là hai chân của nền kinh tế. Cho nên công nghiệp và nông nghiệp phải
giúp đỡ lẫn nhau và cùng nhau phát triển, như hai chân đi khỏe đi đều thì tiến
bước sẽ nhanh và nhanh chóng đi đến mục đích” [31, tr. 544-545]. Là một
nước nông nghiệp truyền thống do đó phát triển nông nghiệp luôn được chú
trọng hàng đầu trong chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ lên CNXH,
Người khẳng định: “Phải lấy nông nghiệp làm chính, nhưng phải toàn diện,
25