ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------
NGUYỄN THỊ HẠNH
ĐẢNG LÃNH ĐẠO LIÊN MINH CHIẾN ĐẤU
VIỆT NAM VỚI LÀO CHỐNG ĐẾ QUỐC MỸ
XÂM LƢỢC TỪ NĂM 1954 ĐẾN NĂM 1965
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Hà Nội-2013
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------
NGUYỄN THỊ HẠNH
ĐẢNG LÃNH ĐẠO LIÊN MINH CHIẾN ĐẤU
VIỆT NAM VỚI LÀO CHỐNG ĐẾ QUỐC MỸ
XÂM LƢỢC TỪ NĂM 1954 ĐẾN NĂM 1965
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số: 60 22 03 15
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS.Nguyễn Thị Mai Hoa
16
Lào của Đảng
1.2.1. Hoàn cảnh lịch sử
16
1.2.2. Chủ trương đối với liên minh chiến đấu Việt - Lào
19
1.3. Chỉ đạo củng cố, xây dựng và hoạt động của liên minh chiến đấu Việt
25
– Lào
1.3.1. Củng cố liên minh chiến đấu Việt – Lào, đoàn kết đấu tranh thực hiện
25
Hiệp định Giơnevơ
1.3.2. Củng cố liên minh chiến đấu, giúp đỡ Lào phát triển lực lượng, căn cứ
31
địa và cùng xây dựng tuyến vận tải chiến lược đường Trường Sơn
Chƣơng 2: SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI LIÊN MINH
51
lược, phối hợp giữa chiến trường hai nước
Chƣơng 3: NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM
82
3.1. Nhận xét
82
3.1.1. Về ưu điểm
82
3.1.2. Một số hạn chế
91
3.2. Kinh nghiệm
95
KẾT LUẬN
103
TÀI LIỆU THAM KHẢO
108
PHỤ LỤC
Đảng Lao động Việt Nam
CMDTDCND
Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Có chung đường biên giới, có vị trị địa lý kề cận, cùng tựa lưng vào dãy
Trường Sơn, lại có những nét lịch sử - văn hóa tương đồng, Việt Nam, Lào đã có
mối quan hệ mật thiết gắn bó máu thịt. Tình đoàn kết hữu nghị giữa nhân dân Việt
Nam và nhân dân Lào không chỉ có từ rất sớm, mà còn rất bền chặt. Quan hệ đoàn
kết chiến đấu giữa hai dân tộc Việt – Lào luôn được Đảng Lao động Việt Nam coi
trọng, coi đó là quan hệ chiến lược, có ý nghĩa sống còn với cách mạng mỗi nước.
Trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược, quan hệ đoàn kết chiến đấu giữa
hai dân tộc hình thành trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp tiếp tục
được bồi đắp, củng cố và phát triển. Trước những âm mưu và hành động xâm lược
của đế quốc Mỹ, nhân dân Việt – Lào cùng nhau đoàn kết chiến đấu giành và giữ
vững nền độc lập dân tộc. Trong quan hệ đoàn kết chiến đấu keo sơn đó, Việt Nam
luôn tỏ rõ trách nhiệm của mình, luôn nêu cao tinh thần đoàn kết trong sáng, thủy
chung, làm hết sức mình để củng cố, xây dựng liên minh chiến đấu giữa hai dân tộc;
ngược lại, cách mạng Việt Nam cũng nhận được sự giúp đỡ to lớn của Đảng và
nhân dân Lào, nhân dân Lào sẵn sàng nhường cơm sẻ áo giúp đỡ quân và dân Việt
Nam. Liên minh chiến đấu Việt – Lào đã mang sức mạnh to lớn cho mỗi dân tộc để
đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước giành thắng lợi hoàn toàn.
Như vậy, quan hệ đoàn kết chiến đấu giữa ba nước Đông Dương là một trong
những yếu tố quan trọng làm nên thắng lợi sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước của hai
lợi từng bước, tiến tới đánh bại các chiến lược chiến tranh của Mỹ.
Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước – thắng lợi và bài học, Nxb
Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995.
Lịch sử Đảng nhân dân cách mạng Lào, Ban chỉ đạo Nghiên cứu lý luận và
thực tiễn Trung ương Đảng nhân dân cách mạng Lào (bản Tiếng Việt), Nxb Chính
trị Quốc gia, Hà Nội 1995.
Các tác phẩm trên đề cập chủ yếu đến những bài học lớn về liên minh chiến
đấu Lào – Campuchia, những sự kiện lớn về Đảng nhân dân cách mạng Lào.
Lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam 1930-2007, Biên
soạn Trịnh Nhu, Trần Trọng Thức, Trần Văn Thức, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội,
2011. Cuốn sách được chia làm bốn phần: Phần thứ nhất: Dưới sự lãnh đạo của ĐCSĐD,
2
nhân dân hai nước Việt Nam và Lào phát huy truyền thống đoàn kết đặc biệt, đấu tranh
giành độc lập tự do (1930-1945); Phần thứ hai: Liên minh Việt Nam – Lào, Lào – Việt
Nam chiến đấu chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược (1945-1975); Phần thứ ba:
Quan hệ đoàn kết đặc biệt, hợp tác toàn diện Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam từ năm
1976 đến năm 2007; Phần thứ tư: Thành quả, bài học và triển vọng. Với những nội dung
trên công trình có giá trị khoa học và thực tiễn sâu sắc, góp phần giữ gìn và phát huy truyền
thống đoàn kết hữu nghị đặc biệt giữa hai nước.
Liên minh chiến đấu Việt – Lào trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu
nước (1954-1975) – Lịch sử và kinh nghiệm, đề tài cấp Bộ do Viện Lịch sử Đảng,
Học viện chính trị Quốc gia chủ trì. Đề tài chủ yếu trình bày các sự kiện lịch sử về
liên minh Việt Nam và Lào trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, tổng
kết những bài học kinh nghiệm về mối quan hệ này trong giai đoạn mới.
Ngoài ra, những tư liệu về liên minh Việt Nam – Lào cũng được đề cập trong
những bài viết trên các tạp chí chuyên ngành như: tạp chí Lịch sử Đảng, tạp chí
Cộng sản, tạp chí Nghiên cứu lịch sử, tạp chí Lịch sử quân sự,…theo nhiều hướng
với phạm vi không gian là một số địa bàn chiến lược quan trọng thuộc lãnh thổ Việt
Nam và Lào.
* Phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận chung của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
- Phương pháp lịch sử và phương pháp logic.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp.
- Phương pháp so sánh, hệ thống hoá.
- Phương pháp đối chiếu, thống kê…
5. Đóng góp của luận văn
- Làm rõ quá trình Đảng lãnh đạo liên minh Việt - Lào những năm 19541965 với những thành công, tồn tại.
- Đúc rút một số kinh nghiệm có cơ sở khoa học và thực tiễn.
- Luận văn có thể sử dụng trong giảng dạy môn học lịch sử, lịch sử Đảng, một số
môn học có liên quan, hoặc làm tài liệu tham khảo nghiên cứu quan hệ Việt – Lào.
6. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn gồm
có 3 chương và 6 tiết:
4
Chương 1: Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng đối với liên minh chiến đấu
Việt – Lào đấu tranh thực hiện Hiệp định Giơnevơ, củng cố, phát triển lực lượng cách
mạng (1954-1960)
Khái quát tình hình cách mạng Lào và Việt Nam sau khi kết thúc cuộc kháng
chiến chống thực dân Pháp, sự lãnh đạo của Đảng trong củng cố, xây dựng liên
minh chiến đấu Việt – Lào giai đoạn đấu tranh thi hành Hiệp định Giơnevơ, củng cố
và phát triển lực lượng cách mạng của hai nước.
Chương 2: Sự lãnh đạo của Đảng đối với liên minh chiến đấu Việt Nam –
Lào giai đoạn chống chiến lược chiến tranh đặc biệt của đế quốc Mỹ (1961-1965)
Phân tích những chủ trương, biện pháp của Đảng trong việc củng cố liên
Do cùng chung một kẻ thù và chung cảnh ngộ bị xâm lược, nhân dân Việt Nam
và nhân dân Lào đã tự nguyện liên kết nổi dậy đấu tranh chống thực dân Pháp với những
hình thức khác nhau1. Đứng trước một kẻ thù có tiềm lực kinh tế và quân sự lớn mạnh
như Pháp, muốn giành được thắng lợi, nhân dân Việt Nam và nhân dân Lào cần phải
phối hợp, phát huy sức mạnh nội lực, kết hợp với sức mạnh ngoại lực, gắn cuộc đấu
1
Ở Việt Nam, có phong trào Cần Vương (1885-1895) – phong trào xây dựng nhiều căn cứ ở vùng núi giáp biên giới
Việt – Lào. Ở Lào, có phong trào chống Pháp ở Áttapư do ông Khi Volảlạt lãnh đạo (1900-1901) hòa chung với
phong trào Phùmibun ở Trung Lào của Phò Càđuột (1901-1902) và cuộc khởi nghĩa ở Hạ Lào do ông Kẹo, ông
Cômmađăm lãnh đạo (1901-1937). Các cuộc khởi nghĩa đã có sự liên kết với các cuộc nổi dậy chống Pháp của bộ tộc
Xơ đăng ở Kon Tum năm 1918, của người Mông ở Tây Bắc Việt Nam do Chậu Phạpắtchây lãnh đạo, lan rộng ra ở
nhiều tỉnh Bắc Lào và Tây Bắc Việt Nam. Mặc dù phát triển khá mạnh mẽ, nhưng cuối cùng những cuộc khởi nghĩa
này vẫn thất bại.
6
tranh giải phóng dân tộc mỗi nước với sự nghiệp chung của các dân tộc trên bán đảo
Đông Dương.
Ngay từ rất sớm, trong những bài báo đầu tiên viết về Đông Dương vào năm
1921, Nguyễn Ái Quốc đã đặt niềm tin vào sức mạnh quật khởi của quần chúng
nhân dân1, nhận thấy rằng một trong những nguyên nhân gây ra sự suy yếu của các
dân tộc Đông Dương chính là sự biệt lập, dẫn đến sự thiếu tin cậy lẫn nhau trong
việc phối hợp hành động đấu tranh chống kẻ thù chung. Từ đó, Hồ Chí Minh dành
mối quan tâm đặc biệt đến Lào – người láng giềng thân thiết của Việt Nam, xác lập
nguyên tắc căn bản và nhất quán trong phương pháp xử lý mối quan hệ giữa cách
mạng Việt Nam và cách mạng Lào cũng như quan hệ giữa cách mạng ba nước
Đông Dương. Theo Hồ Chí Minh, do có mối quan hệ khăng khít về địa lý, hai dân
thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất phản đế Đông Dương. Hội nghị Trung ương
lần thứ 8 (5/1941) khẳng định: “cuộc cách mạng Đông Dương trong giai đoạn hiện
nay là một cuộc cách mạng dân tộc giải phóng”; quyết định thành lập Việt Nam độc
lập đồng minh (Việt minh) đồng thời chủ trương hết sức giúp đỡ các dân tộc
Campuchia và Lào tổ chức Cao Miên độc lập đồng minh, Ai Lao độc lập đồng
minh.
Tháng 3/1945, khi Nhật đảo chính Pháp, ĐCSĐD ra Chỉ thị “Nhật, Pháp bắn
nhau và hành động của chúng ta”, chủ trương phát động cao trào kháng Nhật cứu nước
làm tiền đề cho Tổng khởi nghĩa. Cao trào kháng Nhật cứu nước ở Việt Nam đã tác động
và cổ vũ mạnh mẽ các lực lượng yêu nước Lào đấu tranh giành độc lập. Dưới sự lãnh
đạo của ĐCSĐD, tháng 8/1945, Việt Nam Tổng khởi nghĩa giành thắng lợi. Ngày
2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập tuyên bố trước thế giới sự ra
đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Cùng thời gian đó, nhân dân Lào có sự tham
gia của Việt kiều tại Lào dưới sự lãnh đạo của ĐCSĐD, đã tiến hành khởi nghĩa cướp
chính quyền ở một số thành phố, thị xã: Viêng Chăn, Thà Khẹc, Xa vẳn na khệt, Sầm
Nưa, Luông Pha băng. Sau đó, tháng 9/1945, tổ chức Lào Ítxalạ và Việt kiều yêu nước
đã nhất trí thành lập Liên quân Lào – Việt đặt dưới sự chỉ huy của một bộ tham mưu
chung do Quản Xỉng và Vũ Hữu Bỉnh đứng đầu, các Ủy ban phòng thủ Lào – Việt cũng
được tổ chức ở các địa phương.
Ngày 10/10/1945, Chính phủ Lào Ítxalạ được thành lập do Hoàng thân Phết xa
rạt đứng đầu, ông Khăm Mạo Vilay làm Thủ tướng, đến ngày 12/10/1945 Đại hội dân
chúng Lào bầu ra Chính phủ Lào độc lập, thông quan Hiến pháp, tuyên bố nền độc lập
của Lào.
Sau khi nước VNDCCH ra đời (2/9/1945) không bao lâu, ngày 23/9/1945,
thực dân Pháp nổ súng đánh chiếm Sài Gòn. Tiếp đó, chúng tiến sang đánh chiếm
Phnôm pênh đưa Xihanúc lên cầm quyền, đồng thời xúc tiến việc xâm lược Lào, mở
8
thù của ba nước Đông Dương, của nhân dân tiến bộ trên thế giới phải câu kết lại với
nhau, nhằm thực hiện âm mưu xóa bỏ thành quả cách mạng của nhân dân Việt Nam,
9
Lào; ngăn chặn ảnh hưởng của cách mạng Việt Nam và Lào trong khu vực cũng
như trên trường quốc tế, khôi phục ách thống trị của chủ nghĩa thực dân đế quốc.
Cuối tháng 8/1945, gần 20 vạn quân Trung Hoa dân quốc chia thành nhiều
hướng khác nhau tiến vào bắc vĩ tuyến 16 của Việt Nam, Lào với sự hậu thuẫn của
Mỹ. Sau khi đưa quân chiếm đóng các thành phố, thị xã và các địa bàn trọng yếu,
những kẻ cầm đầu quân Trung Hoa dân quốc tuyên bố thời gian có mặt của chúng
tại Bắc vĩ tuyến 16 là không hạn định và thực hiện âm mưu tiêu diệt ĐCSĐD, giúp
bọn tay sai chống phá cách mạng Việt Nam và Lào.
Theo quyết định của Hội nghị Pốtxđam, Pháp bị gạt ra ngoài lề vấn đề Đông
Dương, nhưng trên thực tế việc để quân Anh vào giải giáp quân Nhật ở nam vĩ
tuyến 16, vô hình chung đã tạo điều kiện cho Pháp trở lại xâm lược bán đảo này.
Mặt khác, lợi dụng tình thế lúc bấy giờ, số quân Pháp dạt khỏi Đông Dương trong
cuộc đảo chính của quân Nhật cũng đang tìm cách trở lại bắc vĩ tuyến 16 Việt Nam
và Lào.
Đêm 22 rạng ngày 23/9/1945, quân Pháp nổ súng đánh chiếm một số công sở
ở thành phố Sài Gòn, mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương lần thứ hai;
đồng thời, mở rộng chiến tranh ra toàn bộ Nam Bộ và Nam Trung Bộ, sang
Campuchia. Đầu tháng 9/1945, Pháp đưa quân vào nam vĩ tuyến 16 của Lào, thành
lập Bộ Tổng tham mưu của Pháp tại Lào. Trong khi đó, Sư đoàn 23 thuộc Quân
đoàn 60 quân Trung Hoa dân quốc tiến vào phía Bắc vĩ tuyến 16 của Lào chiếm
đóng các thị xã, thị trấn dọc sông Mê Kông, từ Phong Xa Lỳ đến Xa vẳn na khệt.
Như vậy, trước âm mưu từng bước mở rộng chiến tranh dùng lãnh thổ nước này
để xâm chiếm nước kia, biến Đông Dương thành thuộc địa của Pháp đã đặt ra yêu cầu
cho ba nước Việt Nam, Lào phải đoàn kết liên minh, tạo sức mạnh tổng hợp đánh bại âm
Hoàng thân Phết Xa Rạt làm Quốc trưởng, ngày 14/10/1945, VNDCCH chính thức
công nhận Chính phủ độc lập Lào, thiết lập quan hệ ngoại giao với nhà nước Lào.
Tiếp đó, ngày 16/10/1945, hai nước đã ký kết Hiệp ước tương trợ Việt Nam – Lào,
đến ngày 30/10/1945, Chính phủ VNDCCH và Chính phủ Lào ký Hiệp định thành
lập Liên quân Lào – Việt Nam do Hoàng thân Xuphanuvông làm Tổng chỉ huy.
Việc ký kết các Hiệp định giữa hai Chính phủ đã tạo cơ sở pháp lý để hai nước hợp
tác, liên minh chiến đấu chống quân xâm lược. Trong tháng 10/1945, Hoàng thân
Xuphanuvông đã tuyên bố Lào và Việt Nam cùng chung một nguyện vọng duy nhất
11
là có nền độc lập và quyền dân chủ thực sự dưới sự lãnh đạo duy nhất của ĐCSĐD.
Tuy nhiên, điểm yếu của cách mạng Lào trong giai đoạn này là thiếu cơ sở ở vùng
nông thôn và vùng rừng núi - là những địa bàn chiến lược quan trọng. Sau những
cuộc chiến đấu oanh liệt của liên quân Lào – Việt diễn ra trong đô thị và vùng phụ
cận, Ban Thường vụ Trung ương ĐCSĐD chỉ thị cho xứ ủy Lào: “Phải tăng gia
công việc võ trang tuyên truyền vận động quần chúng nhân dân ở thôn quê làm cho
Mặt trận thống nhất kháng Pháp của Lào – Việt lan rộng và chiến tranh du kích nảy
nở ở thôn quê đặng bao vây lại quân Pháp ở những nơi sào huyệt của chúng và quét
sạch chúng khỏi đất Lào” [45, tr.32]. Tiếp đó, Chỉ thị tháng 3/1948 về phương
châm, phương hướng hoạt động trên các mặt trận Lào, Miên của Bộ Tổng chỉ huy
cũng nhấn mạnh công tác trước mắt là giúp các lực lượng kháng chiến của hai nước
xây dựng cơ sở chính trị; coi trọng việc bảo tồn lực lượng; cử cán bộ chính trị, vũ
trang tuyên truyền hoạt động sâu trong vùng địch tạm chiếm, nếu có điều kiện thì
thành lập căn cứ địa và khu giải phóng.
Theo yêu cầu của cuộc kháng chiến ở Lào, để đối phó với các kế hoạch đánh
chiếm các cứ điểm trên các trục đường chính, các thị xã như Xa ra van, Pạc Xế, các
tỉnh Trung và Thượng Lào... của Pháp, Liên quân Lào – Việt đã được tổ chức ở
nhiều nơi. Các đơn vị bộ đội địa phương (Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng
tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng trong điều kiện ĐCSĐD đang phải hoạt động
bí mật, chưa có điều kiện thành lập ở mỗi nước một chính đảng riêng. ĐCSĐD có
trách nhiệm lãnh đạo phối hợp cuộc kháng kháng chiến của ba dân tộc. Tháng
3/1948, Bộ Tổng tư lệnh QĐND Việt Nam đã ra Chỉ thị số 1LV/TCU về Phương
châm – phương hướng hoạt động cho các cấp chỉ huy và bộ đội hoạt động trên mặt
trận Lào – Miên. Chỉ thị đã đánh giá tầm quan trọng chiến lược của Mặt trận Lào –
Miên đối với cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam, phải “ngăn cản không cho
phép quân Pháp trút hết lực lượng để tiến công ta” [14, tr.193] và “sẽ có tác dụng
rất lớn trong giai đoạn tổng phản công sau này” [14, tr.194]. Vì vậy, trong điều kiện
lịch sử mới, ĐCSĐD phải đề ra chủ trương phù hợp để lãnh đạo liên minh Việt –
Lào phối hợp chiến đấu giữa chiến trường hai nước.
1
Như ở Sầm Nưa, Viêng Chăn, phía Bắc, Tây bắc vùng Mường Phương, Nậm Tồn, Bản Hẹ, Na phô, Noọng
Sua, Xay Nha Bu Li…Phía Đông Lào giáp với biên giới Việt Nam cũng hình thành những căn cứ kháng
chiến bám trụ trên đất Lào như khu đường 9, đường 8, đường 7; phía Nam Lào, phía Tây Bắc Lào (Nam
Huội Sài)...
13
Trước những chuyển biến mới của cách mạng hai nước, ngày 30/10/1949,
Ban Thường vụ Trung ương ĐCSĐD quyết định các lực lượng quân sự của Việt
Nam được cử sang chiến đấu giúp Lào tổ chức thành hệ thống riêng lấy danh nghĩa
là Quân tình nguyện. Đây là mốc lịch sử quan trọng đánh dấu bước phát triển và
trưởng thành của các lực lượng quân sự Việt Nam giúp Lào trên chiến trường Lào.
Từ sau khi chiến dịch Việt Bắc giành thắng lợi năm 1947 đến đầu năm 1949,
tương quan so sánh lực lượng đã cho phép cách mạng Việt Nam chuyển sang thế
tổng phản công trên toàn chiến trường. Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung
giữa ba dân tộc Đông Dương trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung được nâng
lên tầm cao mới. Đoàn kết Đông Dương tạo ra một nhân tố chiến lược đảm bảo
thắng lợi cho cuộc kháng chiến của mỗi nước.
Thực hiện nhiệm vụ quốc tế ở Lào và Campuchia, cán bộ và quân tình
nguyện Việt Nam được cử sang đã giúp đỡ cán bộ, nhân dân và chiến sĩ nước Lào
xây dựng cơ sở chính trị và vũ trang quần chúng, phát động chiến tranh du kích
rộng khắp. Trong năm 1951, Chính phủ nước VNDCCH đã chủ trương đẩy mạnh
chi viện quân sự cho các chiến trường Lào, lực lượng cán bộ và bộ đội tăng lên
12000 quân gồm Thượng Lào hơn 6000 quân, Trung Lào hơn 3000 quân và Hạ Lào
hơn 2000 quân.
Tháng 4/1951, Trung ương ĐLĐVN quyết định thành lập Ban cán sự Đảng ở
Mặt trận Thượng Lào do Mai Côn làm Bí thư; các Ban cán sự ở Trung và Hạ Lào
cũng được bổ sung, kiện toàn. Trong hai năm 1951-1952, ĐLĐVN đã ra hoạt động
công khai và thành lập Ủy ban hành động Việt – Miên – Lào củng cố khối đoàn kết
thống nhất và liên minh chiến đấu giữa nhân dân ba nước.
Do Thượng Lào lại đang là chỗ yếu và sơ hở của địch, nên ngày 3/2/1953
Chính phủ nước VNDCCH và Chính phủ kháng chiến Lào quyết định phối hợp mở
chiến dịch Thượng Lào, giải phóng tỉnh Sầm Nưa. Chiến dịch Thượng Lào thắng
lợi đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc nối thông hậu phương kháng chiến của cách
mạng Lào với vùng tự do của cách mạng Việt Nam, tạo thế phối hợp chiến lược
giữa cách mạng Việt Nam và cách mạng Lào.
15
Những thất bại liên tiếp ở Tây Bắc và Thượng Lào đã làm cho Pháp gặp
nhiều khó khăn nhưng vẫn cố kéo dài chiến tranh xâm lược. Nhằm đánh một đòn
quyết định tiêu diệt sinh lực định, kết thúc chiến tranh, Đảng, Quân ủy Trung ương
đưa ra kế hoạch tác chiến Đông Xuân 1953-1954, tiến công tiêu diệt địch ở Lai
Châu và giải phóng Tây Bắc, phối hợp với quân dân Lào giải phóng Phong Xa Lỳ,
xâm lược muốn nô dịch nhân dân Đông Dương; thất bại của đế quốc Mỹ đang âm
mưu biến Đông Dương thành thuộc địa và căn cứ chiến lược của Mỹ, thất bại của
lực lượng tay sai đế quốc Mỹ và thực dân hiếu chiến Pháp, cam tâm bán nước.
Nhưng ký kết Hiệp định đình chiến chưa phải là đã thực hiện đình chiến, bởi mặc
dù có tham gia Hội nghị Giơnevơ nhưng Chính phủ Mỹ đã tuyên bố không bị ràng
buộc bởi Hiệp định này và ra sức cản trở việc thực hiện Hiệp định cũng như tìm
cách thay thế Pháp ngày càng can thiệp sâu hơn vào Đông Dương. Mỹ đang đẩy
mạnh tiến tới việc thành lập “khối phòng thủ Đông Nam Á”. Mỹ không những là kẻ
thù của nhân dân thế giới, mà Mỹ đang biến thành kẻ thù chính và trực tiếp của
nhân dân Việt – Miên – Lào.
Ngay sau khi Pháp rút khỏi Đông Dương, chính sách của Mỹ ở Lào và Nam
Việt Nam, Campuchia là chính sách can thiệp và xâm lược dưới những hình thức và
thủ đoạn khác nhau.
Ở Việt Nam, Mỹ vừa gây áp lực buộc Pháp phải rời khỏi miền Nam, đồng
thời đưa thêm cố vấn, chuyên gia quân sự, vũ khí đạn dược để xây dựng chính
quyền Sài Gòn, âm mưu chia cắt lâu dài đất nước ta. Mỹ còn đe dọa các lực lượng
cách mạng và phong trào giải phóng dân tộc ở Đông Nam Á.
Tại Lào, cách mạng Lào đã chuyển giai đoạn từ đấu tranh vũ trang là chủ yếu
sang đấu tranh chính trị là chủ yếu kết hợp với đấu tranh vũ trang. Đối mặt với nhân
dân Lào, với cách mạng Lào không phải là thực dân Pháp đã suy yếu mà là đế quốc
Mỹ - một kẻ thù có lực lượng và tiềm năng lớn, đứng đầu phe đế quốc. Từ năm
1954 trở đi, đế quốc Mỹ trở thành đối tượng chủ yếu của cách mạng Lào. Âm mưu
cơ bản của Mỹ là tiêu diệt lực lượng cách mạng Lào biến Lào thành thuộc địa kiểu
mới, một căn cứ quân sự nhằm ngăn chặn ảnh hưởng của chủ nghĩa xã hội ở Đông
Nam Á, bảo vệ những căn cứ quân sự của Mỹ ở Thái Lan. Mỹ không tổ chức ngay
phái đoàn cố vấn quân sự, mà lập một cơ quan gọi là “Cơ quan đánh giá chương
trình viện trợ” trực thuộc Bộ Ngoại giao Mỹ có nhiệm vụ thảo kế hoạch viện trợ
17
2
Trong 20 năm (1955-1975), Mỹ đã viện trợ vào Lào gần 4 tỷ đôla, trong đó viện trợ quân sự chiếm 3 tỷ
đôla. Giai đoạn 1955 - 1961, viện trợ bình quân mỗi năm 220 triệu đôla; 1962-1971 bình quân 220 triệu đôla
và giai đoạn 1972 - 1975 bình quân mỗi năm 260 triệu đôla (Nguồn: Nguyễn Hùng Phi - TS Buasi
Chalơnsúc: Lịch sử Lào hiện đại, Tập II, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr.28-29).
3
Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, quân đội Viêng Chăn (còn được gọi là “quân đội quốc gia Lào”) do Pháp xây
dựng còn khoảng 10.000 quân có trang bị vũ khí kém và phụ thuộc nặng nền vào Pháp. Đế quốc Mỹ đã tổ
chức, xây dựng, huấn luyện và phát triển đội quân này nhanh chóng nhằm phục vụ cuộc chiến tranh xâm lược
thực dân của Mỹ bởi như chính các nhà chính trị, quân sự Mỹ đã nói: “Quân đội Hoàng gia Lào đã ra đời với
sự trả giá của những người nộp thuế của nước Mỹ” (Nguồn: Pi-tơ A. Pu-lơ, Nước Mỹ và Đông Dương từ Rudơ-ven đến Ních-xơn, Nxb. Thông tin lí luận, Hà Nội, 1986, tr.79). Đến năm 1955, quân số đạt 25.000, cuối
1960 lên 44.000 người và cuối 1965 lên 70.000 người.
18
Nam, Lào và Campuchia phải tập trung mũi nhọn vào đế quốc Mỹ. Vấn đề đấu tranh
ngoại giao Việt Nam tiến hành trên cả hai mặt trận: trong nước và ở Hội nghị Giơnevơ.
Cách mạng Việt Nam đã giành được thắng lợi lớn ở Điện Biên Phủ cũng như trên chiến
trường toàn quốc; các nước Liên Xô và Trung Quốc, nhân dân Pháp và nhân dân yêu
chuộng hòa bình thế giới luôn ủng hộ cho cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt
Nam. Vì những lẽ đó mà mặc dù đế quốc Mỹ và thực dân Pháp ra sức phá hoại nhưng
Hiệp nghị Giơnevơ vẫn giành được những thành tích nhất định. Tuy nhiên, như vậy thì Mỹ
và Pháp cũng sẽ vẫn tiếp tục phá hoại và sẽ tiếp tục phá hoại ráo riết hơn nữa.
Thực hiện điều khoản trong Hiệp định Giơnevơ, lực lượng quân tình nguyện Việt
Nam sẽ rút khỏi Lào trong vòng 120 ngày, lực lượng Pa thét Lào hoàn thành việc chuyển
quân tập kết về hai tỉnh Sầm Nưa và Phong Xa Lỳ. Trong thời gian này, Mỹ đã lập Chính
phủ thân Mỹ có nhiều phần tử phản động do Cà tày cầm đầu. Chính phủ này đã ráo riết
tiến hành các hành động chống phá Hiệp định Giơnevơ, vu cáo Pa thét Lào, vu cáo
VNDCCH, chuẩn bị gây lại chiến tranh Đông Dương. Mỹ còn đẩy mạnh chuẩn bị lực