37
CHƯƠNG VI
KỸ THUẬT NUÔI BÀO NGƯ
Bào ngư là loài có giá trị kinh tế bởi vì hàm lượng dinh dưỡng trong thịt của
chúng rất cao. Bào ngư có khoảng gần 100 loài, tất cả đều thuộc giống Haliotis.
Chùng có mặt ở nhiều vùng trên trái đất, một số loà i hiện nay đang được nuôi như
Haliotis disversicolor, H. asinina, H. oliva...
Hình 6.1: Hình dạng của Bào ngư (Haliotis)
1 ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC
1.1 Phân bố
Các loài Bào ngư phân bố rộng khắp thế giới nhưng chúng phát triển phong phú về
số lượng ở vùng ôn đới. Bào ngư thích sống ở vùng biển cạn, môi trường nước xáo
động mạnh và hàm lượng oxy hòa tan cao. Vì vậy, chúng thường phân bố ở nền
đáy cứng, trên các mõm đá. Bào ngư không phân bố ở các vùng cửa sông bởi vì
cửa sông nồng độ muối thấp, có nhiều bùn, nhiệt độ cao và oxy hòa tan thấp. Bào
ngư thích nghi trong khoảng nhiệt độ từ 10-35
o
C và nồng độ muối từ 25-35%o.
Ở Việt Nam Bào ngư phân bố ở đảo Cô Tô, Hạ Long, các đảo ở Bắc và Trung Bộ.
Ở Nam Bộ Bào ngư có ở đảo Phú Quốc.
1.2 Phương thức sống
Phương thức sống của Bào ngư có liên quan đến cấu tạo của chân. Bào ngư dùng
chân để bò từ nơi này đến nơi khác giống như những loài ốc khác. Nhưng chân của
Bào ngư không thích hợp để bò hoặc bám trên cát. Trên mặt cát chùng dể bi lật
ngửa và dể bị địch hại tấn công. Vì vậy, chỉ thấy Bào ngư phân bố ở vùn g đáy đá.
Khi gặp kẻ thù, Bào ngư dùng chân bám chặt trên đá và hạ thấp vỏ xuống để che
đậy phần cơ thể và chân. Chân của bào ngư có thể bám chắc trên đá, khi chúng
C bào
ngư ăn với lượng bằng 15% trọng lượng cơ thể.
Bào ngư ăn nhiều rong nâu Laminaria (53%), một ít rong lục (6% Ulva, 2%
Porphyra). Bào ngư bắt mồi tích cực về đêm, đặc biệt là lúc mặt trời sắp lặn và sắp
mọc.
1.4 Sinh Trưởng
Bào ngư sinh trưởng tương đối chậm, bào ngư Vành tai (Haliotis asinina) đạt
3,5cm sau 6 tháng, 55cm trong 1 năm và 7,5 cm trong 3 năm. Bào ngư Nhật (H.
discus) đạt 3 cm trong năm đầu, 5,5 cm, 7,5 cm và 9,5 cm cho năm thứ 2, 3 và
măm thứ 4.
Bào ngư sinh trưởng đều, không thay đổi tỉ lệ hình học theo thời gian (b=3). Các
yếu tố di truyền, môi trường, thức ăn... ảnh hưởng đến sinh trưởng của bào ngư.
39
1.5 Sinh sản
Bào ngư phân tính đực, cái riêng biệt và chúng ta có thể phân biệt dựa vào màu sắc
của chúng trong mùa sinh sản. Con cái thường có màu xanh đen, con đực có màu
vàng. Trứng của Bào ngư thụ tinh ngoài, cho nên tỉ lệ thụ tinh rất thấp. Tuy nhiên
Bào ngư cũng có một tập tính sinh sản đặc biệt nhằm làm tăng tối đa khả năng gặp
nhau giữa tinh trùng và trứng. Khi sinh sản chúng thường tập trung thành từng đàn
trên trong một nơi với mật độ cao, như vậy đảm bảo trứng có cơ hội thụ tinh cao.
Trong tự nhiên Bào ngư thường thành thục sinh dục ở một thời điểm nhất định
trong năm. Thí dụ ở Australia loài Bào ngư Haliotis rubra (blacklip abalone) thành
thục vào cuối mùa hè đầu mùa thu, thời gian còn lại trong năm thì không thành
thục. Ở Việt nam Bào ngư thường thành thục từ tháng 4-8. Bào ngư khoảng 2 tuổi
có thể thành thục tham gia sinh sản lần đầu.
Bào ngư thường đẻ vào lúc chiều tối và rạng sáng, con đực thường phóng tinh
trước sau đó con cái mới đẻ trứng. Sản phẩm sinh dục cũng có vai trò kích thích
các cá thể khác trong quần thể sinh sản.
tế bào sinh dục kiển tra dưới kính hiển vi. Trứng chín hình tròn rời rạc và có
thể nhìn thấy nhân, tinh trùng vận động mạnh khi cho vào môi trường nước.
Sau khi tuyển chọn xong đưa bố mẹ vào các ô thuyền với tỉ lệ 2-3 cái/1 đực.
Trong các ô thuyền nước lưu thông và điều kiện môi trường nước sạch sẽ,
có hàm lượng oxy hòa tan cao sau một thời gian ngắn Bào ngư sẽ đẻ.
Thường xuyên theo dõi nếu Bào ngư sinh sản xong chúng ta vớt bố mẹ ra
khỏi các ô thuyền sau đó chuyển thuyền đến nơi ương (điều kiện môi
trường ổn định và ít sóng gió hơn).
- Ương ấu trùng: theo dõi quá trình phát triển phôi, khi xuất hiện ấu trùng
phù du chúng ta cần cung cấp thêm các loài tảo Silic, tảo Giáp làm thức ăn
cho ấu trùng. Khi xuất hiện ấu trùng diện bàn chúng ta thả giá thể vào. Giá
thể thường dùng là đá sỏi hoặc các loại giá thể khác, trước khi thả giá thể
vào giá thể nên được rửa sạch. Khi xuất hiện ấu trùng bò lê thì chúng ta cho
rong mơ non vào cho ấu trùng ăn
- Chăm sóc: trong quá trình ương thường xuyên theo dõi và duy trì nhiệt độ
từ 28-30
o
C. Nồng độ muối 30%o và pH là 7,5. Cần chú ý ở giai đoạn ấu
trùng hình thành nắp vỏ phải giữ môi trường ương thật ổn định, nếu không
ấu trùng sẽ không trãi qua được giai đoạn mất nắp vỏ và ấu trùng sẽ chết.
- Vận chuyển giống: dụng cụ dùng vận chuyển chủ yếu là thùng gổ với kích
thước F=45-50cm, cao 30-40cm. Mật độ vận chuyển khoảng 100 con/thùng.
Trong quá trình vận chuyển phải thay nước và giữ cho Bào ngư không bị
chồng lên nhau, nêu Bào ngư bám vào nhau sẽ làm bít lỗ hút nước của con
bên dưới, Bào ngư sẽ bị chết.
Quy trình sản xuất giống bào ngư Haliotis oliva tại Việt Nam (Theo Lê Đức Minh,
2002):
- Chuẩn bị bố mẹ: Bố mẹ cho sinh sản lấy từ 2 nguồn tự nhiên và nuôi vỗ. Bố
mẹ tự nhiên được chọn dựa vào màu sắc tuyến sinh dục và vận chuyển theo
phương pháp giữ ẩm (5 giờ). Bố mẹ có thể nuôi vỗ trong bể có các điều
nhiệt nước: Phơi bào ngư 30-60 phút sau đó cho vào nước có chiếu tia cực
tím, nâng nhiệt độ lên 4
o
C (từ 27 lên 31
o
C), tiếp đến hạ nhiệt độ đột ngột
bằng nhiệt độ ban đầu.
Kích thích bằng cách thay đổi chu kỳ ánh sáng: Che tối bể đẻ bằng vải bạt
đen vào ban ngày và chiếu sáng bằng đèn neon 40W vào ban đêm trong
vòng 27-20 ngày bào ngư sẽ sinh sản.
- Ương ấu trùng: 5-7 giờ sau thụ tinh có thể thu ấu trùng vào bể ương. Giai
đoạn này ấu trùng không ăn thức ăn ngoài nên chủ yếu là quản lý chất
lượng nước tốt. Giữ nhiệt độ khoảng 27-30
o
C, độ mặn >30%o và oxy > 4
mg/L. Giai đoạn ấu trùng bám bào ngư ăn tảo khuê sống bám như
Nitzschia, Navicula nên cần phài nuôi tảo cung cấp cho ấu trùng. Dùng các
tầm nhựa mỏng làm vật bám đặt trong môi trường có bón phân để nuôi tảo
bám sau đó chuyển vào bể ương ấu trùng để cho ăn. Sau 1 tháng ương ấu
trùng đạt cỡ 2mm thì chuyển sang ương giống, giai đoạn này có bổ sung
thêm thức ăn lá rong tươi băm nhỏ (Rong có kích thước lớn). Khi ấu trùng
đạt 10-15 mm thì chuyển ra lồng để nuôi thịt.
2.3 Nuôi lớn
Bãi nuôi lớn được chọn ở tuyến triều thấp, có nồng độ muối 25-35%o và có nhiều
rong đỏ, rong nâu. Dùng đá làm giá thể xếp sao cho trên bãi có nhiều hốc đá cho
Bào ngư ẩn nấp. Khi nước triều đứng (không có dòng chảy) mang giống Bào ngư
đến và rải đều trên bãi. Nên rải nơi cạn vì sau khi rải Bào ngư có khuynh hướng di
chuyển xuống sâu. Mật độ thả từ 5-10 con/m
2
. Trong quá trình nuôi nên thường