Câu 1đại đoàn kết dân tộc theo quan điểm HCM liên hệ thực tế VN hiện nay - Pdf 33

Câu 1:Đại đoàn kết dân tộc theo quan điểm HCM? Liên hệ thực tế VN hiện nay?
*) Những quan điểm của HCM về đại đoàn kết dân tộc:
1.
Đoàn kết là vấn đề chiến lược của CMVN
Đoàn kết là vấn đề cơ bản xuyên suốt lâu dài nhằm tạo ra sức mạnh bảo đảm cho CM giành thắng lợi
Đoàn kết dân tộc là chính sách dân tộc ko pải thủ đoạn chính trị
HCM thực sự quan tâm đến đoàn kết. trong suốt cuộc đời hoạt động CM, Người dành đến 40% bài viết về đoàn kết, sử
dụng khoảng 2000 lần cụm từ “đoàn kết”,”đại đoàn kết”. người luôn nhận thức đại đoàn kết dân tộc là vấn đề sống còn,
quyết định thành công của CM. Người thường khẳng định “ Đoàn kết là sức mạnh, đoàn kết là thắng lợi”,” Đoàn kết là
điểm mẹ. điểm này mà thực hiện tốt đẻ ra con cháu đều tốt”
Thực tiễn: chỉ rõ khi nào dân tộc ta phát huy sức mạnh đoàn kết thì CM mới thành công và ngược lại CM thất bại
1.
Đại đoàn kết dân tộc là 1 mục tiêu, 1 nhiệm vụ hàng đầu của CM
Tư tưởng đại đoàn kết dân tộc pải được quán triệt trong mọi đường lối, chủ trương chính sách của Đảng. Đại đoàn kết
dân tộc ko chỉ là mục đích, nhiệm vụ hàng đầu của cả dân tộc. Đại đoàn kết dân tộc chính là đòi hỏi khách quan của
quần chúng nhân dân trong cuộc đấu tranh tự giải phóng. Đảng có sứ mệnh thức tỉnh, tập hợp, hướng dẫn, chuyển
những đòi hỏi khách quan, tự pát của quần chúng nhân dân thành sức mạnh vô địch trong cuộc đtranh giải póng dân
tộc, giải póng con người.
1.
Đại đoàn kết dân tộc là đại đoàn kết toàn dân
Người đưa ra khái niệm dân rất rộng:
+) all mọi người ko pân biệt tuổi tác, giới tính, dtoc, tôn giáo,đảng pái, giai cấp
+) all mọi người ko pân biệt nơi cư trú, địa dư hành chính: ko pân biệt nông thôn, hay thành pố…
+) dân đồng nghĩa với đồng chí, đồng bào, cùng chí hướng
+) Dân gắn liền với nhân dân lao động
Đoàn kết toàn dân là pải tập hợp, giáo dục, giác ngộ cảm hóa nhân dân vì nhận thức , dân trí chưa cao hành vi chưa
đúng. Trong cảm hóa, giáo dục thì pải tránh căn bệnh xem nhẹ quần chúng, hạ thấp vai trò của quần chúng, không quan
tâm đến giáo dục giác ngộ nhưng đồng thời pải tin vào dân, dựa vững vào dân
Chú ý cải thiện đời sống cho nhân dân
Trong đoàn kết toàn dân pải chú ý tăng cường liên minh công nông và đặt dưới sự chỉ đạo của Đảng cộng sản
1.

nước để gánh vác công việc quốc gia. Người nói nhờ dân ta đoàn kết một lòng và Chính phủ lãnh đạo khôn khéo, mà
chúng ta bẻ gãy xiềng xích nô lệ, giành được độc lập tự do.
Người nhấn mạnh : Nếu không có nhân dân thì Chính phủ không đủ lực lượng. Nếu không có Chính phủ thì nhân dân
không ai dẫn đường. Cho nên chính phủ và nhân dân phải đoàn kết thành một khối. Chính phủ và nhân dân phải đồng
tâm nhất trí, ra sức tổ chức công tác mở mang kinh tế, thực hành đời sống mới. Hồ Chí Minh đã xây dựng Chính phủ
đại diện cho các tầng lớp, các tôn giáo, các dân tộc để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân. Người khẳng định, để thực
hiện tốt nhiệm vụ cách mạng, Nhà nước phải phát huy quyền dân chủ của nhân dân; bảo đảm quyền dân sinh của toàn
dân để phát huy tính tích cực sáng tạo của nhân dân, làm cho mọi người đều tham gia quản lý nhà nước. Phải thực sự
tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân. Mọi cơ quan Nhà nước phải dựa
vào dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến của dân, hướng về phục vụ nhân dân.
Ba là, xây dựng Mặt trận dân tộc thống nhất.
Đoàn kết phải có tổ chức. Muốn huy động mọi người đoàn kết phải đưa họ vào tổ chức. Hồ Chí Minh quan niệm nội
dung đoàn kết phải tích cực, thiết thực bằng cách đưa mọi người vào trong tổ chức, đó là Mặt trận dân tộc thống nhất.
Người cho rằng phải mau mau tổ chức lại các tổ chức trong Mặt trận. Nông dân phải vào "Nông dân cứu quốc". Thanh
niên phải vào "Thanh niên cứu quốc". Phụ nữ phải vào "Phụ nữ cứu quốc". Trẻ em phải vào "Nhi đồng cứu quốc".
Công nhân phải vào "Công nhân cứu quốc". Các bậc phụ lão văn sĩ phải vào "Việt Nam cứu quốc hội". Những hội ấy
phải do Việt Nam độc lập đồng minh lãnh đạo. Vào tổ chức rồi, người có tiền giúp tiền, kẻ có sức giúp sức. Đồng tâm
hiệp lực, muôn người một lòng, nhân cơ hội ấy mà khôi phục lại Tổ quốc, mà làm cho Việt Nam hoàn toàn độc lập.
Hồ Chí Minh nhấn mạnh Việt Nam độc lập đồng minh (hoặc Việt Minh) có nghĩa là liên minh vì độc lập của nước Việt
Nam. Mặt trận bao gồm tất cả mọi người yêu nước, không phân biệt khuynh hướng chính trị, tín ngưỡng, tôn giáo, giai
cấp xã hội, nam nữ, tuổi tác.
Để Mặt trận có sức mạnh, Hồ Chí Minh cho rằng phải có kỷ luật tự giác mà mỗi cá nhân, hội viên, đoàn thể phải tuân
theo. Mặt trận phải thật dân chủ. Hoạt động của Mặt trận phải nhằm vào điểm chính sao cho có hiệu quả thiết thực. Các
tổ chức thành viên Mặt trận phải thân ái đoàn kết giúp đỡ nhau. Cương lĩnh của Mặt trận phải thể hiện mục đích đoàn
kết, đấu tranh cho hòa bình thống nhất, độc lập, dân chủ, tiến bộ xã hội.
Cương lĩnh ấy phải thiết thực, đoàn kết rộng rãi các tầng lớp nhân dân, hoạt động phải vững chắc, thu hút quảng đại
mọi người dân tham gia sản xuất, thực hành tiết kiệm xây dựng chủ nghĩa xã hội. Mục đích phấn đấu của Mặt trận dân
tộc thống nhất là xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập dân chủ và giàu mạnh. Vì vậy Mặt trận là
một nội dung lớn của tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của Hồ Chí Minh.
Mặt trận nhằm đoàn kết giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, đội ngũ trí thức ; đoàn kết những người và gia đình có

Yêu thương con người là bản chất của nhân dân lao động, là nét đẹp của chủ nghĩa xã hội.
3. Cần kiệm, liêm chính, chí công vô tư:
Hồ Chí Minh đề cập đến “cần kiệm, liêm chính, chí công vô tư” một cách thường xuyên. Vì đó là ý thức và hành vi đạo
đức của mỗi người với chính mình, với công việc. Đó là vấn đề hàng ngày hàng giờ và suốt quá trình đấu tranh cách
mạng. Đó là biểu hiện và minh chứng cho phẩm chất đạo đức “trung với nước, hiếu với dân”.
- Cần kiệm: “Cần” yêu cầu con người có ý thức và hành vi lao động nghiêm túc, đạt năng suất cao; làm tốt công việc
mà xã hội đã giao phó; không lười biếng; không gian dối, lừa đảo. “Kiệm” yêu cầu tiêu dùng đúng mức, phù hợp với
khả năng tài chính và vật chất mà con người có được, không xa hoa, lãng phí; “kiệm” cũng không có nghĩa là bủn xỉn,
“vắt cổ chày ra nước” dẫn đến những hạn chế trong công việc và đời sống.
- Liêm chính:
Liêm: Nói đến “liêm” là nói đến sự trong sạch trong đạo đức. Với người dân bình thường, “liêm” yêu cầu không gian
dối, trộm cắp. Đối với những người làm chức việc cho nhà nước thì “liêm” nghĩa là không tham ô, tham nhũng.
Chính: là nói đến sự ngay thẳng, trung thực chính mình và với người khác. Mình có chính trực thì mới yêu cầu người
khác chính trực được.
- Chí công vô tư: đó là hết lòng vì công việc, vì sự công bằng, không thiên vị, không chạy theo lợi ích cá nhân mà phải
đặt lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân, của tập thể lên trước.
Hồ Chí Minh cho rằng giữa các khái niệm “cần” - “kiệm” – “liêm” – “chính” – “chí công” – “vô tư” có sự liên hệ chặt
chẽ, tác động lẫn nhau. Đó là phẩm chất đạo đức của mỗi người. Và đặc biệt quan trọng với Đảng viên, với cán bộ,
quan chức Nhà nước, bởi trong công cuộc cách mạng, trong quá trình thực hiện các chủ trương chính sách, các dự án
kinh tế, nếu thiếu “cần”- “kiệm”- “liêm”- “chính”- “chí công”- “vô tư” họ sẽ thành hủ bại, sâu mọt đục khoét của nhân
dân. Thực tế ngày nay, chủ nghĩa cá nhân, thói quan liêu, hoang phí, nạn tham ô, tham nhũng hết sức trầm trọng - thực
sự là nguy cơ lớn đối với công cuộc cách mạng , đòi hỏi sự đấu tranh phải quyết liệt.
4. Tinh thần quốc tế trong sáng:
Tư tưởng Hồ Chí Minh là sự thống nhất, hòa quyện giữa chủ nghĩa yêu nước chân
chính với chủ nghĩa quốc tế trong sáng.
Chủ nghĩa quốc tế là một trong những đặc điểm quan trọng nhất của đạo đức cộng
sản chủ nghĩa. Nó bắt nguồn từ bản chất quốc tế của giai cấp công nhân và của xã hội
xã hội chủ nghĩa.
Nội dung chủ nghĩa quốc tế trong tư tưởng Hồ Chí Minh rộng lớn và sâu sắc. Đó
là sự tôn trọng và thương yêu tất cả các dân tộc, nhân dân các nước, chống sự hằn thù,

Cần, kiệm, liêm, chính càng cần thiết đối với cán bộ, đảng viên. Bởi vì, nếu cán
bộ, đảng viên mắc sai lầm, khuyết điểm thì sẽ ảnh hưởng đến nhiệm vụ chung của cách
mạng, ảnh hưởng đến uy tín của Đảng. Mặt khác, những người trong các công sở đều có
nhiều hoặc ít quyền hành. Nếu không giữ đúng cần, kiệm, liêm, chính thì dễ trở nên hủ
bại, biến thành sâu mọt của dân.
Cần, kiệm, liêm, chính còn là thước đo sự giàu có về vật chất, vững mạnh về tinh
thần, sự văn minh tiến bộ của một dân tộc. Cần, kiệm, liêm, chính là nền tảng của đời
sống mới, nền tảng của thi đua yêu nước; là cái cần để làm việc, làm người, làm cán bộ,
để phụng sự Đoàn thể, phụng sự giai cấp và nhân dân, phụng sự Tổ quốc và nhân loại.
Chí công vô tư là không nghĩ đến mình trước, chỉ biết vì Đảng, vì Tổ quốc, vì đồng
bào; là đặt lợi ích của cách mạng, của nhân dân lên trên hết, trước hết. Thực hành chí
công vô tư cũng có nghĩa là phải kiên quyết quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo
đức cách mạng.
Theo Hồ Chí Minh, chủ nghĩa cá nhân là chỉ muốn "mọi người vì mình" mà
không biết "mình vì mọi người". Nó là một thứ giặc nội xâm, còn nguy hiểm hơn cả
giặc ngoại xâm. Nó là bạn đồng minh của chủ nghĩa đế quốc và thói quen truyền thống
lạc hậu. Chủ nghĩa cá nhân là một thứ vi trùng rất độc, đẻ ra hàng trăm thứ bệnh nguy
hiểm, như quan liêu, mệnh lệnh, bè phái, chủ quan, tham ô, lãng phí, xa hoa, tham danh
trục lợi, thích địa vị, quyền hành, tự cao tự đại, coi thường tập thể, xem khinh quần
chúng, độc đoán chuyên quyền... Tóm lại, "chủ nghĩa cá nhân, tư tưởng tiểu tư sản còn
ẩn nấp trong mình mỗi người chúng ta. Nó chờ dịp - hoặc dịp thất bại, hoặc dịp thắng
lợi - để ngóc đầu dậy". Chủ nghĩa cá nhân là mối nguy hại cho cá nhân con người, cho
một đảng và cả dân tộc. Hồ Chí Minh viết: "Một dân tộc, một đảng và mỗi con người,
ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn
được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ
nghĩa cá nhân"1. Chủ nghĩa cá nhân là một trở ngại lớn cho việc xây dựng chủ nghĩa xã
hội. Vì vậy thắng lợi của chủ nghĩa xã hội không thể tách rời thắng lợi của cuộc đấu
tranh trừ bỏ chủ nghĩa cá nhân.
Tuy nhiên, cần có nhận thức đúng đắn đâu là chủ nghĩa cá nhân, đâu là lợi ích cá
nhân. Hồ Chí Minh cho rằng: đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân không phải là giày xéo

Hồ Chí Minh là một tấm gương sáng tuyệt vời về nói đi đôi với làm. Người quan
tâm đặc biệt, hàng đầu tới vấn đề đạo đức. Người để lại nhiều bài viết, bài nói về đạo
đức và quan trọng hơn là Người thực hiện trước hết, nhiều nhất những tư tưởng
ấy.
Ngay trong quá trình chuẩn bị thành lập Đảng Cộng sản, bàn về tư cách một người
cách mệnh, Hồ Chí Minh
đã chỉ rõ "nói thì phải làm". Người còn làm nhiều hơn
những điều Người nói, kể cả việc làm mà không nói. Mỗi việc làm, mỗi hành vi của
Người đều tiềm ẩn những tư tưởng đạo đức sáng ngời. Đây là một bài học quý giá cho
mỗi chúng ta muốn tìm hiểu những tầng sâu bản chất của tư tưởng Hồ Chí Minh về
đạo đức thì không chỉ dừng lại ở những bài viết, bài nói, mà phải khám phá những
hành vi đạo đức của Người, nghiên cứu những bài nói, bài viết của bạn bè quốc tế,
những học trò của Người.
Tại sao nói phải đi đôi với làm, phải nêu gương về đạo đức?
Đạo đức cách mạng là đạo đức luôn được nhận thức và giải quyết trên lập trường
của giai cấp công nhân, phục vụ lợi ích của cách mạng. Điều này phân biệt một cách
rạch ròi với thói đạo đức giả, đạo đức của giai cấp bóc lột với những đặc trưng bản chất
là nói nhiều, làm ít, nói mà không làm, nói một đằng, làm một nẻo, đem lại lợi ích
không phải cho quần chúng nhân dân lao động, mà cho thiểu số những kẻ bóc lột.
Nói đi đôi với làm còn nhằm chống thói đạo đức giả. Sáu mươi năm qua, từ khi
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công đến nay, nơi này, nơi khác, trên những
mức độ khác nhau ở cán bộ, đảng viên ta vẫn còn tồn tại hiện tượng nói không đi đôi
với làm. Điều này sẽ dẫn tới nguy cơ làm mất lòng tin của dân đối với Đảng và chế độ
mới. Ngay từ tháng 10 năm 1945, Hồ Chí Minh đã nói tới những kẻ "vác mặt làm quan
cách mạng". Sau này, trong nhiều lần bàn tới việc cần tẩy sạch bệnh quan liêu, mệnh
lệnh, Người chỉ rõ: "Miệng thì nói dân chủ, nhưng làm việc thì họ theo lối "quan" chủ.
Miệng thì nói "phụng sự quần chúng", nhưng họ làm trái ngược với lợi ích quần chúng,
trái ngược với phương châm và chính sách của Đảng và Chính phủ"1.
Nêu gương đạo đức, nói đi đôi với làm là một nét đẹp của văn hóa phương Đông.
Hồ Chí Minh chỉ ra rằng: "Nói chung thì các dân tộc phương Đông đều giàu tình cảm,

Như vậy, con người phải được đặt vào vị trí trung tâm của sự phát triển. Nó vừa
nằm trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước với nghĩa rộng, vừa nằm
trong chiến lược giáo dục - đào tạo theo nghĩa hẹp.
Người khẳng định: Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần có những con
người xã hội chủ nghĩa.
Con người xã hội chủ nghĩa đương nhiên phải do chủ nghĩa xã hội tạo ra. Nhưng
ở đây trên con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội thì "trước hết cần có những con người
xã hội chủ nghĩa". Điều này cần được hiểu là ngay từ đầu phải đặt ra nhiệm vụ xây
dựng con người có những phẩm chất cơ bản, tiêu biểu cho con người xã hội chủ nghĩa,
làm gương, lôi cuốn xã hội. Công việc này là một quá trình lâu dài không ngừng hoàn
thiện, nâng cao và thuộc về trách nhiệm của Đảng, Nhà nước, gia đình, cá nhân mỗi
người.
Mỗi bước xây dựng những con người như vậy là một nấc thang xây dựng chủ
nghĩa xã hội. Đây là mối quan hệ biện chứng giữa "xây dựng chủ nghĩa xã hội" và "con
người xã hội chủ nghĩa".
Quan niệm của Hồ Chí Minh về con người xã hội chủ nghĩa có hai mặt gắn
bó chặt chẽ với nhau. Một là kế thừa những giá trị tốt
đẹp của con người truyền
thống (Việt Nam và phương Đông). Hai là hình thành những phẩm chất mới như:
có tư tưởng xã hội chủ nghĩa; có đạo đức cách mạng; có trí tuệ và bản lĩnh để làm
chủ; có tác phong xã hội chủ nghĩa; có lòng nhân ái, vị tha, độ lượng.
Hồ Chí Minh quan niệm"Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm
năm thì phải trồng người".
Để "trồng người", có nhiều biện pháp, nhưng giáo dục - đào tạo là biện pháp quan
trọng bậc nhất. Bởi vì giáo dục tốt sẽ tạo ra tính thiện, đem lại tương lai tươi sáng cho


thế hệ trẻ. Ngược lại giáo dục tồi sẽ ảnh hưởng xấu tới thế hệ trẻ. Hồ Chí Minh nói về
vai trò của giáo dục: Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu; dốt thì dại, dại thì hèn... Cho
nên phải chống giặc dốt cũng như chống giặc đói, giặc ngoại xâm, giặc nội xâm.

trọng là mọi chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Chính phủ đều vì lợi ích chính
đáng của con người. Có thể đó là lợi ích lâu dài, lợi ích trước mắt; lợi ích cả dân tộc và
lợi ích của bộ phận, giai cấp, tầng lớp và cá nhân.
b) Con người là động lực của cách mạng
Con người là động lực của cách mạng được nhìn nhận trên phạm vi cả nước, toàn
thể đồng bào, song trước hết là ở giai cấp công nhân và nông dân. Điều này có ý nghĩa
to lớn trong sự nghiệp giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Không phải mọi con người đều trở thành động lực, mà phải là những con người
được thức tỉnh, giác ngộ, giáo dục, định hướng và tổ chức. Họ phải có trí tuệ và bản
lĩnh, văn hóa, đạo đức, được nuôi dưỡng trên nền truyền thống lịch sử và văn hóa hàng
ngàn năm của dân tộc Việt Nam...
Con người là động lực chỉ có thể thực hiện được khi hoạt động có tổ chức, có lãnh
đạo. Vì vậy, vai trò của
Đảng cách mạng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng tư
tưởng là vô cùng quan trọng. Qua các phong trào cách mạng của quần chúng, Đảng sẽ
nhân sức mạnh của con người lên gấp bội.
Trong khi nhận thức sâu sắc, đầy đủ vai trò động lực của con người thì phải thấy
mối quan hệ biện chứng giữa con người - mục tiêu và con người - động lực. Càng chăm
lo cho con người - mục tiêu tốt bao nhiêu thì sẽ phát huy con người - động lực tốt bấy
nhiêu. Ngược lại, tăng cường
được sức mạnh của con người - động lực thì sẽ nhanh
chóng đạt được mục tiêu cách mạng.
Cõu 9:Trỡnh bày những hiểu biết của mỡnh về tư tưởng HCM với vấn đề Y đức? là một người công tác trong
ngành y anh chị có hướng rèn luyện phấn đấu như thế nào cho bản thân.
1 Hiểu biết của bản thân về tư tưởng HCM với vấn đề Y đức
- Y đức là phẩm chất tốt đẹp, cao quý của người thầy thuốc được thể hiện qua thái độ, tinh thần trách nhiệm, hết lòng
thương yêu, chăm sóc người bệnh. Lời Bác Hồ dạy: "Lương y như từ mẫu". Y đức không ở đâu xa, đó là thái độ giao
tiếp, cung cách phục vụ, chăm lo cho sức khoẻ của bệnh nhân.



chức năng của văn hóa
Chức năng của văn hóa mới rất phong phú, đa dạng. Hồ Chí Minh cho rằng, văn
hóa có ba chức năng chủ yếu sau đây:
Một là, bồi dưỡng tư tưởng đúng đắn và tình cảm cao đẹp.
Văn hóa thuộc đời sống tinh thần của xã hội. Tư tưởng và tình cảm là vấn đề chủ
yếu nhất của đời sống tinh thần của xã hội và con người. Vì vậy, theo Hồ Chí Minh, văn
hóa phải thấm sâu vào tâm lý quốc dân để thực hiện chức năng hàng đầu là bồi dưỡng
nâng cao tư tưởng đúng đắn và tình cảm cao đẹp cho con người, đồng thời loại bỏ
những tư tưởng sai lầm, tình cảm thấp hèn. Tư tưởng và tình cảm rất phong phú, nhưng
phải đặc biệt quan tâm tới những tư tưởng và tình cảm chi phối đời sống tinh thần của
mỗi con người và cả dân tộc.
Lý tưởng là điểm hội tụ của tư tưởng lớn. Hồ Chí Minh khẳng định văn hóa phải
làm cho ai cũng có lý tưởng tự chủ, tự cường, độc lập, tự do; phải làm cho quốc dân "có
tinh thần vì nước quên mình, vì lợi ích chung mà quên lợi ích riêng". Đó là lý tưởng độc
lập dân tộc gắn liền chủ nghĩa xã hội, thực hiện nhiệm vụ giải phóng dân tộc, giải phóng
giai cấp, giải phóng con người. Một khi con người đã phai nhạt lý tưởng độc lập dân tộc
và chủ nghĩa xã hội thì không còn ý nghĩa gì đối với cuộc sống cách mạng.
Tình cảm lớn, theo Hồ Chí Minh là lòng yêu nước, thương dân, thương nhân loại
bị đau khổ, áp bức. Đó là tính trung thực, thẳng thắn, thủy chung; đề cao cái chân, cái
thiện, cái mỹ... Tình cảm đó thể hiện trong nhiều mối quan hệ: với gia đình, quê hương,
dân tộc, nhân loại, với bạn bè, đồng chí, quan hệ thầy trò...
Tư tưởng và tình cảm có mối quan hệ gắn bó với nhau. Tình cảm cao đẹp là con
đường dẫn tới tư tưởng đúng đắn; tư tưởng đúng làm cho tình cảm cao đẹp hơn, làm cho
con người ngày càng hoàn thiện. Văn hóa còn góp phần xây đắp niềm tin cho con
người, tin ở bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tin vào nhân


dân, tin vào tiền đồ của cách mạng.
Hai là, nâng cao dân trí.
Văn hóa luôn gắn với dân trí. Không có văn hóa không có dân trí. Văn hóa nâng

nghiệp cách mạng đi lên.
Muốn có được những phẩm chất và phong cách đó, tự bản thân con người rèn
luyện chưa đủ, mà hoạt động văn hóa đóng chức năng rất quan trọng. Văn hóa phải
tham gia chống được tham nhũng, lười biếng, phù hoa, xa xỉ, chống sự lạm dụng quyền
lực, tham quyền cố vị dẫn tới sự tha hóa con người. Văn hóa giúp cho con người phân
biệt cái tốt với cái xấu, cái lạc hậu và cái tiến bộ... Từ đó văn hóa hướng con người
vươn tới cái chân, cái thiện, cái mỹ.
Câu 11:Trình bày học thuyết Âm dương ngũ hành của triết học Trung Hoa cổ đại
Thuyết Âm - Dương, Ngũ hành
ở Trung Hoa, những quan niệm triết lý về "âm - dương", "ngũ hành" đã được lưu truyền từ rất sớm. Tới thời
Xuân thu - Chiến quốc, những tư tưởng về Âm dương - Ngũ hành đã đạt tới mức là một hệ thống các quan niệm về bản
nguyên và tính biến dịch của thế giới.
a. Tư tưởng triết học về Âm- Dương
Triết học Âm - Dương có thiên hướng suy tư về nguyên lý vận hành đầu tiên và phổ biến của vạn vật; đó là sự
tương tác của hai thế lực đối lập nhau là Âm và Dương.
"Âm" là một phạm trù rất rộng, phản ánh khái quát những thuộc tính phổ biến của vạn vật như: nhu, thuận, tối,
ẩm, phía dưới, phía phải, số chẵn (2,4,6...). "Dương" là phạm trù đối lập với "Âm", phản ánh khái quát những tính chất
phổ biến của vạn vật như: cương, cường, sáng, khô, phía trên, phía trái, số lẻ (1,3,5...). Nhưng hai thế lực Âm - Dương
không tồn tại biệt lập mà là thống nhất với nhau, chế ước lẫn nhau theo ba nguyên lý căn bản.
+ Âm - Dương thống nhất trong Thái cực (Thái cực được coi là nguyên lý của sự thống nhất của hai mặt đối lập
là âm và dương). Nguyên lý này nói lên tính toàn vẹn, chỉnh thể, cân bằng của cái đa và cái duy nhất. Chính nó bao
hàm tư tưởng về sự thống nhất giữa cái bất biến và cái biến đổi.
+ Trong Âm có Dương, trong Dương có Âm. Nguyên lý này nói lên khả năng biến đổi Âm - Dương đã bao hàm
trong mỗi mặt đối lập của Thái cực.
Hai nguyên lý này thường được các học giả phái Âm - Dương khái quát bằng vòng tròn khép kín (tượng trưng
cho Thái cực, trong đó được chia thành hai nửa (đen trắng) và trong nửa này đã bao hàm nhân tố của nửa kia (trong
phần đen có nhân tố của phần trắng và ngược lại), biểu hiện cho nguyên lý trong Dương có Âm và trong Âm có Dương.


+ Sự khái quát đồ hình Thái cực Âm - Dương còn bao hàm nguyên lý: Dương tiến đến đâu thì Âm lùi đến đó và

đó, xác định thái độ, cách thức hoạt động, sinh sống của chính mình. Thế giới quan đúng đắn là tiền đề để xác lập nhân
sinh quan tích cực.
Triết học ra đời với t cách là hạt nhân lý luận của thế giới quan, làm cho thế giới quan phát triển nh một quá trình tự
giác dựa trên sự tổng kết kinh nghiệm thực tiễn và tri thức do các khoa học đem lại. Đó là chức năng thế giới quan của
triết học.
Sự phát triển của thực tiễn và khoa học đã dẫn đến sự ra đời của một lĩnh vực đặc thù của khoa học lý thuyết và triết
học - Đó là phương pháp luận. Phương pháp luận là lý luận về phương pháp; là hệ thống những quan điểm chỉ đạo
việc tìm tòi, xây dựng, lựa chọn và vận dụng các phương pháp.
Xét theo phạm vi tác dụng, phơng pháp luận có thể chia thành ba cấp độ:
+ Phương pháp luận ngành (hay phơng pháp luận bộ môn) là phơng pháp luận của một ngành khoa học cụ thể nào đó.
+ Phương pháp luận chung là phơng pháp luận đợc sử dụng cho một số ngành khoa học.
+ Phương pháp luận chung nhất là phơng pháp luận đợc dùng làm điểm xuất phát cho việc xác định các phơng pháp
luận chung, các phương pháp luận ngành và các phương pháp hoạt động khác của con người.
Với tư cách là hệ thống tri thức chung nhất của con người về thế giới và vai trò của con ngời trong thế giới đó; với việc
nghiên cứu những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và t duy, triết học thực hiện chức năng phơng pháp luận
chung nhất. Mỗi quan điểm lý luận của triết học đồng thời là một nguyên tắc trong việc xác định phơng pháp, là một lý
luận về phơng pháp.
4.2. Vai trò của triết học Mác - Lênin
Triết học Mác - Lênin kế thừa và phát triển những thành tựu quan trọng nhất của tư duy nhân loại, sáng tạo ra chủ
nghĩa duy vật biện chứng trong việc xem xét tự nhiên cũng nh đời sống xã hội và tư duy con ngời.
Trong triết học Mác-Lênin, lý luận duy vật biện chứng và phơng pháp biện chứng duy vật thống nhất hữu cơ với nhau.
Sự thống nhất đó làm cho chủ nghĩa duy vật trở nên triệt để và phép biện chứng trở thành lý luận khoa học. Nhờ đó,
triết học Mác - Lênin có khả năng nhận thức đúng đắn tự nhiên, xã hội và tư duy. Phép biện chứng duy vật không chỉ là
lý luận về phơng pháp mà còn là lý luận về thế giới quan. Hệ thống quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng trở


thành nhân tố định hớng cho hoạt động nhận thức và thực tiễn, trở thành những nguyên tắc xuất phát điểm của phơng
pháp luận.
Như vậy, trong triết học Mác - Lênin, thế giới quan và phơng pháp luận thống nhất hữu cơ với nhau, làm cho triết học
Mác trở thành chủ nghĩa duy vật hoàn bị, một "công cụ nhận thức vĩ đại".

Việc giải quyết mặt thứ nhất vấn đề cơ bản của triết học gắn liền với việc phân chia các học thuyết triết học thành hai
trờng phái triết học cơ bản là chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm.
a. Chủ nghĩa duy vật khẳng định vật chất có trớc, ý thức có sau; thế giới vật chất tồn tại một cách khách quan, độc lập
với ý thức con ngời và không do ai sáng tạo ra; còn ý thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào trong bộ óc con người; không thể có tinh thần, ý thức nếu không có vật chất.
Chủ nghĩa duy vật đã xuất hiện ngay từ thời cổ đại và cho đến nay, lịch sử phát triển của nó luôn gắn liền với sự phát
triển của khoa học và thực tiễn, tồn tại dới nhiều hình thức khác nhau.
+ Chủ nghĩa duy vật cổ đại mang tính chất phác, ngây thơ, xuất phát từ giới tự nhiên để giải thích thế giới. Hạn chế của
nó là còn mang tính trực quan, trong khi thừa nhận tính thứ nhất của vật chất đã đồng nhất vật chất với một hay một số
chất cụ thể. Ví dụ nh quan niệm của Talét, Hêraclit, Đêmôcrit...
+ Chủ nghĩa duy vật siêu hình thế kỷ XVII - XVIII: Do ảnh hởng của Cơ học cổ điển nên chủ nghĩa duy vật thời kỳ này
chịu sự tác động mạnh mẽ của phơng pháp t duy siêu hình, máy móc - phơng pháp nhìn nhận thế giới trong trạng thái
biệt lập, tĩnh tại. Tuy không phản ánh đúng hiện thực, nhng CNDV siêu hình vẫn đóng vai trò quan trọng trong cuộc
đấu tranh chống lại thế giới quan duy tâm và tôn giáo. Ví dụ nh quan niệm của Niutơn, Bêcơn và các nhà duy vật Pháp
thế kỷ XVIII.
+ Chủ nghĩa duy vật biện chứng do C. Mác và Ph. Ăngghen sáng lập vào những năm 40 của thế kỷ XIX, sau đó đợc
V.I. Lênin tiếp tục phát triển. Với sự kế thừa tinh hoa của các học thuyết triết học trớc đó và vận dụng các thành tựu
của khoa học đơng thời, chủ nghĩa duy vật biện chứng ngay từ khi mới ra đời đã khắc phục đợc những hạn chế của chủ
nghĩa duy vật trớc đó, thể hiện là đỉnh cao trong sự phát triển của chủ nghĩa duy vật. Nó không chỉ phản ánh đúng đắn
hiện thực mà còn là một công cụ hữu hiệu giúp các lực lợng tiến bộ trong xã hội cải tạo hiện thực ấy.
b. Chủ nghĩa duy tâm cho rằng ý thức, tinh thần có trớc và quyết định giới tự nhiên. Giới tự nhiên chỉ là một dạng tồn


tại khác của tinh thần, ý thức.
Chủ nghĩa duy tâm đã xuất hiện ngay từ thời cổ đại với hai hình thức chủ yếu là:
+ Chủ nghĩa duy tâm chủ quan thừa nhận tính thứ nhất của cảm giác, ý thức con ngời, khẳng định mọi sự vật, hiện tợng
chỉ là phức hợp những cảm giác của cá nhân, của chủ thể. Ví dụ quan niệm của Beccơly.
+ Chủ nghĩa duy tâm khách quan cũng thừa nhận tính thứ nhất của ý thức, nhng đó không phải là ý thức cá nhân mà là
tinh thần khách quan có trớc và tồn tại độc lập với con ngời, quyết định sự tồn tại của tự nhiên, xã hội và t duy. Nó thờng đợc mang những tên gọi khác nhau nh ý niệm, ý niệm tuyệt đối, tinh thần tuyệt đối hay lý tính thế giới.Ví dụ quan
niệm của Platon, Hêghen.
Cả chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm đều có nguồn gốc xã hội và nguồn gốc nhận thức. Nguồn gốc xã hội của

Thứ ba, triết học Trung Hoa cổ, trung đại nhấn mạnh sự thống nhất hài hòa giữa tự nhiên và xã hội, phản đối sự
"thái quá" hay"bất cập".
Thứ tư, đặc điểm nổi bật của phương thức tư duy của triết học Trung Hoa cổ, trung đại là nhận thức trực giác,
coi trọng tác dụng của cái "Tâm", coi đó là gốc rễ của nhận thức.
Câu 17 :Nêu khái niệm tồn tại xã hội và ý thức xã hội? tại sao nói “ý thức xã hội thường lạc hậu hơn so với tồn
tại xã hội”?
1. Khái niệm tồn tại xã hội
Tồn tại xã hội là khái niệm triết học dùng để chỉ sinh hoạt vật chất và những điều kiện sinh hoạt vật
chất của xã hội.
Tồn tại xã hội bao gồm các yếu tố, trong đó có các yếu tố chính là phương thức sản xuất vật chất,
điều kiện tự nhiên - hoàn cảnh địa lý, dân số và mật độ dân cư, trong đó phương thức sản xuất là yếu tố cơ
bản nhất.
2. Khái niệm ý thức xã hội
Ý thức xã hội là khái niệm triết học dùng để chỉ các mặt, các bộ phận khác nhau của lĩnh vực tinh thần xã
hội như quan điểm, tư tưởng, tình cảm, tâm trạng, truyền thống... của cộng đồng xã hội; mà những bộ phận
này nảy sinh từ tồn tại xã hội và phản ánh tồn tại xã hội trong những giai đoạn phát triển nhất định.
Cần thấy rõ sự khác nhau tương đối giữa ý thức xã hội và ý thức cá nhân. Các ý thức cá nhân đều
phản ánh tồn tại xã hội với mức độ khác nhau. Do đó, nó không thể không mang tính xã hội. Song ý thức cá
nhân không phải lúc nào cũng thể hiện quan điểm tư tưởng, tình cảm phổ biến của cộng đồng, của một thời
đại xã hội nhất định.
Ý thức xã hội và ý thức cá nhân tồn tại trong mối liên hệ hữu cơ, biện chứng với nhau, thâm nhập
vào nhau và làm phong phú nhau.
3. Ý thức xã hội thường lạc hậu so với tồn tại xã hội
Lịch sử xã hội cho thấy, nhiều khi tồn tại xã hội cũ đã mất đi, nhưng ý thức xã hội cũ tương ứng vẫn
còn tồn tại dai dẳng; điều đó biểu hiện ý thức xã hội muốn thoát ly khỏi sự ràng buộc của tồn tại xã hội, biểu
hiện tính độc lập tương đối. Sở dĩ có biểu hiện đó là do những nguyên nhân sau:
Một là, sự biến đổi của tồn tại xã hội thường diễn ra với tốc độ nhanh mà ý thức xã hội không phản
ánh kịp sự thay đổi đó và trở nên lạc hậu. Hơn nữa, ý thức xã hội là cái phản ánh tồn tại xã hội nên nói
chung chỉ biến đổi sau khi có sự biến đổi của tồn tại xã hội.
Hai là, do sức mạnh của thói quen, truyền thống, tập quán cũng như do tính lạc hậu, bảo thủ của một

khỏi tình trạng biến chất theo muôn vàn tập tục, tập quán. Trong hoàn cảnh ấy con người
có thể trở thành vô đạo, dẫn đến cả nước vô đạo và thiên hạ vô đạo. Vì vậy, Khổng Tử
khuyên nên coi trọng "giáo" hơn "chính", đặt giáo hóa lên trên chính trị.
"Đức" gắn chặt với đạo. Từ "đức" trong kinh điển Nho gia thường được dùng để
chỉ một cái gì thể hiện phẩm chất tốt đẹp của con người trong tâm hồn ý thức cũng như
hình thức, dáng điệu, v.v.. Có thể diễn đạt một cách khái quát kinh điển Nho gia về mối
quan hệ giữa đạo và đức trong cuộc sống con người: đường đi lối lại đúng đắn phải
theo để xây dựng quan hệ lành mạnh, tốt đẹp là đạo; noi theo đạo một cách nghiêm
chỉnh, đúng đắn trong cuộc sống thì có được đức trong sáng quý báu ở trong tâm.
Trong kinh điển Nho gia, ta thấy năm quan hệ lớn, bao quát gọi là "ngũ luân" đã
được khái quát là: Vua - tôi, cha - con, chồng - vợ, anh - em (hoặc trưởng ấu), bầu bạn.
Khi nói đến những đức thường xuyên phải trau dồi, căn cứ hai chữ "ngũ thường" trong
Kinh Lễ, nhiều danh nho đã nêu lên năm đức (gọi là ngũ thường): Nhân, nghĩa, lễ, trí,
tín.
Tóm lại, nội dung cơ bản đạo đức của Nho gia là luân thường. "Luân" có năm điều
chính gọi là "ngũ luân", đều là những quan hệ xã hội, trong đó có ba điều chính là vua
tôi, cha con, chồng vợ gọi là tam cương. Trong ba điều lớn này có hai điều mấu chốt là
quan hệ vua tôi biểu hiện bằng chữ trung, quan hệ cha con biểu hiện bằng chữ hiếu.
Giữa trung và hiếu thì trung là ưu tiên. Chữ trung đứng đầu ngũ luân. "Thường" có năm
điều chính gọi là "ngũ thường", đều là những đức tính do trời phú cho mỗi người: Nhân,
nghĩa, lễ, trí, tín. Đứng đầu ngũ thường là nhân nghĩa. Trong nhân nghĩa thì nhân là
chủ. Đạo của Khổng Tử trước hết là Đạo nhân. Luân và thường gắn bó với nhau, nhưng
trên lý thuyết và trong thực tiễn luân đứng trước thường.
- Về chính trị
Chủ trương làm cho xã hội có trật tự, Khổng Tử cho rằng trước hết là thực hiện
"chính danh". Chính danh có nghĩa là một vật trong thực tại cần phải cho phù hợp với
cái danh nó mang. Vậy, trong xã hội, mỗi cái danh đều bao hàm một số trách nhiệm và
bổn phận mà những cá nhân mang danh ấy phải có những trách nhiệm và bổn phận phù
hợp với danh ấy. Đó là ý nghĩa thuyết chính danh của Khổng Tử.
Về cách trị nước an dân, Nho gia kiên trì vương đạo và chủ trương lễ trị.

khác nhau. Các nhà yêu nước và nhân đạo chủ nghĩa như Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh
Khiêm, Ngô Thì Nhậm... thì thường phát huy những khái niệm nào đó của nhà Nho có
sức diễn đạt được nội dung yêu nước, yêu dân, yêu con người và tin ở năng lực con người.
Các nhà Nho khác thì chỉ chú trọng các khái niệm, các nguyên lý nói lên tính chất tôn ti
trật tự và đẳng cấp khắc nghiệt trong Nho giáo. Do vậy, cũng đều là nhà Nho nhưng
giữa họ có những lập trường triết học và chính trị khác nhau, thậm chí đối lập nhau.
Khi vào đời, các nhà tư tưởng Nho học đều khẳng định đạo Nho, đều lấy đạo Nho
làm lý tưởng sống của mình. Nhưng cuộc sống khiến họ không thể kiên trì một
mình đạo Nho. Bởi lẽ khi bước ra khỏi lĩnh vực chính trị, khi phải giải quyết các vấn đề
sống - chết, may - rủi, phúc - họa, thường - biến, những vấn đề gắn với cuộc sống đời
thường của mỗi người thì đạo Nho không đáp ứng được. ở đây Phật giáo lại có sức hấp
dẫn. Người ta tìm đến đạo Phật, lấy Phật giáo làm chỗ dựa tinh thần. Và khi thất thế trên
đường danh lợi, họ lại tìm đến đạo Lão - Trang để có niềm an ủi và để được tự do, tự tại.
Thế giới quan Nho - Phật - Lão thường là thế giới quan chung của họ. Vì vậy, trong quan
niệm về đạo, ngoài đạo Nho ra, còn bao hàm cả Phật và Lão - Trang.
Khi thực dân Pháp xâm lược nước ta "Đạo" được xem như quốc hồn, quốc tuý,
được biến thành biểu tượng của truyền thống yêu nước, thương nòi. Yêu "đạo" được
xem là yêu nước, vì đạo mà chiến đấu, mà hy sinh. Đã có biết bao tấm gương tử vì đạo,
tức là hy sinh để bảo vệ độc lập cho đất nước. Nhưng vì "đạo" đó là thế giới quan cũ, không
giúp hiểu được xu thế của thời đại, không hiểu rõ được kẻ thù của dân tộc, không chỉ ra
được con đường hữu hiệu để cứu nước, vì vậy lúc bấy giờ yêu "đạo" bao nhiêu thì càng
ngậm ngùi bấy nhiêu. Vấn đề đặt ra cho thời kỳ này là phải có một "đạo" khác ngang
tầm với thời đại. Đó là một trong những điều kiện để chủ nghĩa Mác - Lênin du nhập vào
Việt Nam.
Câu 20:Phân tích mối liên hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội?
2.1. Ý thức xã hội phản ánh tồn tại xã hội, do tồn tại xã hội quyết định
Công lao to lớn của Các Mác và Ăngghen là phát triển chủ nghĩa duy vật đến đỉnh cao, vì đã giải
quyết một cách khoa học vấn đề sự hình thành và phát triển của ý thức xã hội và xậy dựng quan điểm của
chủ nghĩa duy vật lịch sử. Các ông đã chứng minh rằng, đời sống tinh thần của xã hội hình thành và phát
triển trên cơ sở của đời sống vật chất, không thể tìm nguồn gốc của tư tưởng, tâm lý xã hội trong đầu óc của

Hai là, do sức mạnh của thói quen, truyền thống, tập quán cũng như do tính lạc hậu, bảo thủ của một
số hình thái ý thức xã hội.
Ba là, trong xã hội có giai cấp, các giai cấp và lực lượng phản tiến bộ thường lưu giữ một số tư
tưởng có lợi cho họ nhằm chống lại các lực lượng xã hội tiến bộ.
Như vậy ý thức lạc hậu, tiêu cực không mất đi một cách dễ dàng. Cho nên trong sự nghiệp xây dựng
xã hội mới phải thường xuyên tăng cường công tác tư tưởng, đấu tranh chống lại âm mưu và hành động phá
hoại những lực lượng thù địch về mặt tư tưởng, kiên trì xoá bỏ những tàn dư ý thức cũ.
b. Ý thức xã hội có thể vượt trước tồn tại xã hội
Khi khẳng định tính lạc hậu hơn của ý thức xã hội so với tồn tại xã hội, triết học Mác - Lênin đồng
thời thừa nhận rằng, trong những điều kiện nhất định tư tưởng của con người, đặc biệt những tư tưởng khoa
học tiên tiến có thể vượt trước sự phát triển của tồn tại xã hội, dự báo được tương lai và có tác dụng tổ chức,
chỉ đạo hoạt động thực tiễn của con người. Sở dĩ có thể vượt trước được là do đặc điểm của tư tưởng khoa
học quy định. Tư tưởng khoa học thường khái quát tồn tại xã hội đã có và hiện có để rút ra những quy luật
phát triển chung của xã hội, quy luật đó không những phản ánh đúng quá khứ, hiện tại mà còn dự báo đúng
tồn tại xã hội mai sau.
Chẳng hạn, ngay từ khi quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa đang ở trong thời kỳ phát triển tự do cạnh
tranh, Các Mác đã dự báo quan hệ sản xuất đó nhất định sẽ bị quan hệ sản xuất tiến bộ hơn thay thế.
Khi nói, tư tưởng tiên tiến có thể vượt trước tồn tại xã hội thì không có nghĩa ý thức xã hội không
còn bị tồn tại xã hội quyết định. Mà là, cho đến cùng nó luôn bị tồn tại xã hội quy định.
c. Ý thức xã hội có tính kế thừa trong sự phát triển
Lịch sử phát triển của đời sống tinh thần xã hội cho thấy rằng, những quan điểm lý luận của mỗi thời
đại không xuất hiện trên mảnh đất trống không mà được tạo ra trên cơ sở kế thừa những tài liệu lý luận của
các thời đại trước. Thí dụ, chủ nghĩa Mác đã kế thừa những tinh hoa tư tưởng của loài người mà trực tiếp là
nền triết học Đức, kinh tế học cổ điển Anh và chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp.
Trong xã hội có giai cấp, tính chất kế thừa của ý thức xã hội gắn với tính chất giai cấp của nó. Những
giai cấp khác nhau kế thừa những nội dung ý thức khác nhau của các thời đại trước, Các giai cấp tiên tiến
thường kế thừa những di sản tư tưởng tiến bộ của xã hội cũ để lại. Thí dụ, khi làm cuộc cách mạng tư sản
chống phong kiến, các nhà tư tưởng của giai cấp tư sản đã khôi phục những tư tưởng duy vật và nhân bản
của thời đại cổ đại. Ngược lại, những giai cấp lỗi thời thì tiếp thu, khôi phục những tư tưởng, lý thuyết phản
tiến bộ của thời kỳ lịch sử trước. Thí dụ, vào nửa sau thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, các thế lực tư sản phản

hưởng đến cơ sở kinh tế”.
Mức độ ảnh hưởng của tư tưởng đối với sự phát triển xã hội phụ thuộc vào điều kiện lịch sử cụ thể;
vào tính chất của các mối quan hệ kinh tế mà trên đó tư tưởng nảy sinh; vào vai trò lịch sử của giai cấp
mang ngọn cờ tư tưởng và vào mức độ mở rộng của tư tưởng trong quần chúng. Chẳng hạn hệ tư tưởng tư
sản đã tác động mạnh mẽ đến xã hội các nước Tây Âu thế kỷ XVII, XVIII. Hệ tư tưởng vô sản trở thành vũ
khí về mặt tư tưởng của giai cấp vô sản đấu tranh để xoá bỏ xã hội tư bản.
Sự tác động của ý thức xã hội tới tồn tại xã hội biểu hiện qua hai chiều hướng. Nếu ý thức xã hội tiến
bộ thì tác động thúc đẩy tồn tại xã hội phát triển, nếu ý thức xã hội lạc hậu sẽ cản trở sự phát triển của tồn
tại xã hội.
Như vậy, nguyên lý của chủ nghĩa duy vật lịch sử về tính độc lập tương đối của ý thức xã hội chỉ ra
bức tranh phức tạp của lịch sử phát triển ý thức xã hội, nó bác bỏ quan điểm siêu hình, máy móc, tầm
thường về mối quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội.
Câu 21: Trình bày ý nghĩa phương pháp luận của việc nghiên cứu của mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã
hội và ý thức xã hội?
ý nghĩa phương pháp luận
Tồn tại xã hội và ý thức xã hội là hai phương diện thống nhất biện chứng của đời
sống xã hội. Vì vậy công cuộc cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới phải được tiến
hành đồng thời trên cả hai mặt tồn tại xã hội và ý thức xã hội. Cần thấy rằng, thay đổi
tồn tại xã hội là điều kiện cơ bản nhất để thay đổi ý thức xã hội; mặt khác, cũng cần
thấy rằng không chỉ những biến đổi trong tồn tại xã hội mới tất yếu dẫn đến những thay
đổi to lớn trong đời sống tinh thần của xã hội mà ngược lại, những tác động của đời
sống tinh thần xã hội, với những điều kiện xác định cũng có thể tạo ra những biến đổi
mạnh mẽ, sâu sắc trong tồn tại xã hội.
Quán triệt nguyên tắc phương pháp luận đó trong sự nghiệp cách mạng xã hội chủ
nghĩa ở nước ta, một mặt phải coi trọng cuộc cách mạng tư tưởng văn hoá, phát huy vai
trò tác động tích cực của đời sống tinh thần xã hội đối với quá trình phát triển kinh tế và
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; mặt khác phải tránh tái phạm sai lầm chủ quan
duy ý chí trong việc xây dựng văn hoá, xây dựng con người mới. Cần thấy rằng chỉ có
thể thực sự tạo dựng được đời sống tinh thần của xã hội xã hội chủ nghĩa trên cơ sở cải
tạo triệt để phương thức sinh hoạt vật chất tiểu nông truyền thống và xác lập, phát triển


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status