Tài liệu Thắng lợi của chiến lược đại đoàn kết dân tộc của Hồ Chí Minh - Pdf 86

Thắng lợi của chiến lược đại đoàn kết dân tộc của Hồ Chí
Minh, của Đảng Cộng sản do chính Người sáng lập trong
hơn 75 năm đã qua cho phép chúng ta có thể khẳng định
rằng: Trong một quốc gia dân tộc, bao giờ cũng có các giai
cấp, tầng lớp xã hội, các tộc người, các tôn giáo khác nhau,
song bao giờ cũng có lợi ích chung và cao cả của cả dân tộc.
Dân tộc Việt Nam dù có nhiều giai cấp xã hội, tộc người và
tôn giáo khác nhau, song người Việt Nam đều là con Hồng,
cháu Lạc có lịch sử hình thành dân tộc lâu đời, có một cội
nguồn văn hóa chung, có chủ nghĩa dân tộc truyền thống
vững bền, có lợi ích cao cả là độc lập, tự do.
Việt Nam là một quốc gia dân tộc đã hình thành sớm trong quá
trình dựng nước và giữ nước. Nhân dân Việt Nam có ý thức sâu
bền về quyền tự chủ quốc gia dân tộc. Quá trình dựng nước và giữ
nước đã tạo dựng và phát triển cho dân tộc Việt Nam một nền văn
hóa tư tưởng rực rỡ, trong đó chủ nghĩa dân tộc, ý chí độc lập và
khát vọng tự do là truyền thống của lịch sử. Đó là nền tảng văn
hóa tư tưởng của sự hội tụ và đoàn kết dân tộc, là động lực vĩ đại
và duy nhất của nhân dân Việt Nam trong lịch sử xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc.
Độc lập, tự do và tư tưởng cách mạng vĩ đại của Hồ Chí Minh là
chìa khóa để mở đường hội tụ thắng lợi của chiến lược: “Đoàn kết,
đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”.
Để thực hiện chiến lược đại đoàn kết dân tộc, trước hết phải có
cương lĩnh đúng đắn phù hợp với thực tiễn của đất nước qua các
thời kỳ cách mạng khác nhau. Ngay từ ngày đầu mới thành lập
Đảng Cộng sản Việt Nam, Hồ Chí Minh đã soạn thảo Cương lĩnh
chính trị đầu tiên của Đảng, được hội nghị thành lập Đảng đầu
năm 1930 thông qua, trong đó đã nêu cao khẩu hiệu “Việt Nam
độc lập”, Việt Nam tự do và chính sách đoàn kết dân tộc rộng rãi,
uyển chuyển.

kế tục sự nghiệp đại đoàn kết dân tộc của Mặt trận Liên Việt.
Năm 1960, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam đã được
thành lập nhằm tạo điều kiện để mở rộng khối đoàn kết dân tộc
dưới ngọn cờ của Mặt trận. Đầu năm 1968, Liên minh các lực
lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình miền Nam Việt Nam ra đời.
Đây là một tổ chức thích hợp để thu hút các tầng lớp trung gian và
thượng lưu ở thành thị miền Nam vào khối đại đoàn kết dân tộc
chống Mỹ cứu nước.
Trải qua hơn 20 năm chiến đấu, cuộc kháng chiến chống Mỹ
cứu nước đã thắng lợi hoàn toàn. Non sông đã thu về một mối.
Năm 1976, các tổ chức Mặt trận trong cả nước đã được thống nhất
lại thành một mặt trận chung lấy tên là Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam, thực hiện sứ mạng đại đoàn kết dân tộc, cùng nhau xây
dựng lại đất nước Việt Nam đàng hoàng hơn, to đẹp hơn, làm cho
Việt Nam thành một quốc gia dân giàu, nước mạnh, xã hội công
bằng, dân chủ và văn minh.
Sau khi cách mạng thành công, nhà nước của dân, do dân tộc
và vì dân tộc được thành lập, chiến lược đại đoàn kết quốc gia dân
tộc không chỉ được thực thi bằng cách tập hợp lực lượng quần
chúng rộng rãi, phong phú về nội dung và hình thức tổ chức, mà
còn phải liên hiệp quốc dân ở trong Quốc hội, cơ quan đại biểu cao
nhất của nhân dân, cơ quan hành chính cao nhất của nước Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam). Hồ Chí Minh đề xuất và tổ chức thành công Quốc dân đại
hội Tân Trào, lập ra Ủy ban Giải phóng Dân tộc tháng 8 năm 1945
trong đêm trước cuộc Tổng khởi nghĩa, đặc biệt là tổ chức cuộc
Tổng tuyển cử toàn dân vào tháng 1 năm 1946, để bầu ra quốc
hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Quốc hội của
độc lập dân tộc, thống nhất đất nước và của đại đoàn kết toàn
dân, và Quốc hội đã lập chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc
Đảng lãnh đạo nhân dân làm cách mạng nhưng cách mạng là sự nghiệp của
quần chúng nhân dân đông đảo, mà không phải là công việc của một số
người, của riêng Đảng Cộng Sản. Đảng lãng đạo để nhân dân đứng lên đấu
tranh tự giải phóng và xây dựng xã hội mới do mình làm chủ. Sự nghiệp ấy
chỉ có thể được thực hiện bằng sức mạng của cả dân tộc, bằng đại đoàn
kết dân tộc. Điều này đã được Hồ Chí Minh nói khá cặn kẽ, theo quan
điểm của Người, đại đoàn kết dân tộc là một trong những nhân tố quan
trọng nhất bảo đảm thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
Trong toàn bộ những bài báo bài viết của Hồ Chí Minh theo thống kê có
đến 40% bài báo, bài viết, bài nói về đại đoàn kết, qua đó ta thấy được
tầm quan trọng của đại đoàn kết trong tư tưởng hồ chí minh. Lời đầu tiên
trong bản di chúc của Hồ Chí Minh cũng như lời cuối cùng trong bản di
trúc thì Hồ Chí Minh đều nhắc tới đại đoàn kết . Lời đầu tiên Người nói:
“Trước khi tôi qua đời tôi để lại vài lời dặn dò như sau: Trước hết nói về
đoàn kết các đồng chí từ trung ương đến các chi bộ phải gìn dữ sự đoàn
kết như gìn giữ con ngươi của mắt mình” còn lời cuối cùng của người: “
Điều mong muốn cuối cùng của tôi là toàn Đảng toàn dân toàn quân ta
đoàn kết xây dựng một nước Việt Nam giàu mạnh dân chủ độc lập đóng
góp xứng đáng vào cách mạng vô sản thế giới”.
Trong những cống hiến to lớn của to lớn của tư tưởng Hồ Chí Minh đối với
cách mạng Việt Nam, tư tưởng đại đoàn kết dân tộc và việc xây dựng khối
đạn đoàn kết dân tộc của Người là một cống hiến đặc sắc, có giá trị lý
luận và giá trị thực tiễn hết sức quan trọng,tư tưởng đó được thể hiện
qua đó được thể hiện qua một số nội dung cơ bản sau đây:
Đại đoàn kết dân tộc là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, quyết định thành
công của cách mạng.
Đại đoàn kết dân tộc là một mục tiêu, một nhiệm vụ hàng đầu của cách
mạng.
Đại đoàn kết dân tộc là đại đoàn kết toàn dân.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status