PHẦN I- MỞ ĐẦU
thế so sánh của mình trên thị trường quốc tế do: Khả năng tiếp cận thị
trường còn hạn chế; việc thiết kế, sang tạo mẫu mã chưa đáp ứng được
thị yếu
nướccủa
ngoài
; đội
ngũ
lao động có tay nghề còn
1.1. của khách
Tính hàng
cấp thiết
đề tài
ngiên
cứu
thiếu và cơ sở sản xuất còn thiếu mặt bằng về vốn và kỹ thuật.
Ở nước ta khu vực nông thôn chiếm tới 74,5% dân số cả nước[l],
Đặctácbiệt
trong
điềubị kiện
tại tốc
nhưđộ
ngày
phátvàtriển
nghề
đất canh
ngày
càng
thu hiện
hẹp do
nay
và
thôn là bài toán khó cho tất cả các cấp các ngành cần phải giải quyết cấp
các
đoạn
theo.Chính
vậy,trong
việc những
nghiên cách
ra các
phápcho
nhằm
báchgiai
trong
giaitiếp
đoạn
hiện nay.vìMột
giảigiải
quyết
bài
khôi
phục
và
phát
triến
các
nghề
truyền
thống
ở
Ngoài ra nghề truyền thống còn góp phần nâng cao thu nhập cho người
các làng khác như Hải Dương Và Hà Nội. Phát triến nghề truyền thống ở
dân ở nông thôn, góp phần xoá đói, giảm nghèo, giảm bớt khoảng cách
Huyện đang là chiến lược phát triển kinh tế nhằm mục tiêu quan trọng đế
giàu nghèo giữa thành thị và nông thôn.Đặc biệt các nghề truyền thống
thúc đấy công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông thôn của huyện. Khi cả
còn góp phần tích cực trong chuyến dịch cơ cấu lao động trong nông
nước đang tham gia hội nhập kinh tế quốc tế và đặc biệt “Cơn bão tài
thôn hiện nay. Hàng năm các nghề truyền thống đóng góp 700trUSD
chính” của thế giới vừa đi qua thì vấn đề giải quyết cho sản phấm nghề ở
trong tống kim ngạch xuất khấu của cả nước[3].Mặt khác Việt Nam đang
huyện nói riêng là vấn đề cân thiết và cấp bách.
trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế nên việc phát huy lợi thế so sánh
của Xét
mìnhtớilà tầm
việc quan
làm cần
trongvấn
những
lợi trên
thế so
đầu
trọngthiết.Một
của những
đề nêu
nênsành
tôi hàng
đã quyết
của Việt
là các
thị trường
nhu cầu
luôn
cả về chất và mặt lượng, mẫu mã
1.1 Mục
tiêu luôn
nghiên
cứuthay
củađổi
đề tài
sản phẩm.Tuy nhiên theo thực tế khảo sát thì những sản phẩm của các
nghề truyền1.1.1
thống nói Mục
chung
Nghệ
của Việt Nam chưa phát huy được lợi
tiêu
chung
21
Đe tài tập chung nghiên cứu thực trạng và các yếu tố ảnh huởng
đến phát triến các nghề truyền thống tại Huyện Ân thi, Tỉnh Hưng Yên
từ đó đề xuất phuơng huớng và các giải pháp nhằm thúc đẩy sự phát
triến của một số nghề truyền thống của huyện nhằm giải quyết lao động
dư thừa nâng cao thu nhập cho người dân và góp phần chuyến dịch cơ
cấu kinh tế nông thôn.
1.2.2.
-
về thời gian: Đe tài thu thập số liệu thứ cấp từ năm 2005-2008 và số
3
PHÀN II- CO SỞ LÝ LUẬN VÀ co SỞ THựC TIỄN CỦA ĐÈ TÀI
NGHIÊN CỨU
2.1.
Cơ sở lý luận về phát triển nghề truyền thống
2. LI Cơ sở lý luận về phái triển
2.1.1.1.
Khái niệm về tăng trưởng và phát triển
Tăng trưởng được hiếu là sự gia tăng về số lượng của một sự vật
nhất định. Trong kinh tế tăng trưởng thể hiện sự gia tăng hơn trước về
sản phấm hay lượng đầu ra cỷa một quá trình sản xuất hay hoạt động.
Tăng trưởng kinh tế có thế hiếu là kết quả của mọi quá trình hoạt động
kinh tế trong lĩch vực sản xuất cũng như trong lĩnh vực dịch vụ được tạo
ra trong một kỳ nhất định[4]. Neu sản phẩm hàng hoá và dịch vụ trong
một quốc gia tăng lên, nó được coi là tăng trưởng kinh tế. Tăng trưởng
cũng được áp dụng đế đánh giá cụ thế đối với từng ngành sản xuất, từng
vùng của một quốc gia[5].
Phát triển bao hàm nghĩa rộng hơn, phát triển bên cạnh bình quân
thu nhâp trên đầu người còn bao gồm nhiều khía cạch khác. Sư tăng
trưởng cộng thêm các thay đối cơ bản trong cơ cấu kinh tế, sự tăng lên
lành mạnh, tồn tại lâu dài, vừa đáp ứng nhu cầu hiện tại, vừa không xâm
phạm đến lợi ích của thế hệ tương lai. Một vấn đề đặt ra là những người
đang hưởng thụ những thành tựu của sự phát triến kinh tế ngày nay có
thể sẽ làm cho các thế hệ tương lai phải chịu đựng tình cảnh tồi tệ do
môi trường sinh thái bị suy thoái quá mức. Các thế hệ tương lai không
chỉ kế thừa tình trạng ô nhiễm và cạn kiệt tài nguyên của hiện tại, mà
còn thừa hưởng các thành quả của lao động hiện tại dưới dạng chất
lượng giáo dục, kỹ thuật và kiến thức cũng như vốn vật chất.
Hội nghị thượng đỉnh về trái đất năm 1992 đã kế thừa những phân
tích ở trên và đã đưa ra khái niệm vắn tắt về phát triển bền vững là: Phát
triển bền vững là phát triển nhằm thoả mãn nhu cầu của thế hệ ngày nay
5
mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của thế hệ tuơng
lai.
2.1.2.
Cơ sở lý luận về nghề truyền thống
2.1.2.1
Khái niệm về nghề truyền thống và làng nghề truyền thống
a. Khái niệm về nghề truyền thống
Nghề truyền thống trước hết là những nghề tiểu thủ công nghiệp
được hình thành và phát triển lâu đời trong lịch sử, được sản xuất tập
trung tại một vùng hay một làng nào đó. Từ đó đã hình thành các làng
nghề, xã nghề. Đặc trưng cơ bản của mỗi nghề truyền thống là phải có
Xét về mặt định tính, làng nghề ở nông thôn nước ta được hình
thành và phát triển do yêu cầu của phân công lao động và chuyên môn
hoá nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển và chịu sự tác động mạnh của
nông nghiệp và nông thôn Việt Nam với những đặc trưng của nền văn
hoá lúa nước, và nền kinh tế hiện vật, sản xuất nhỏ tự cấp tự túc.
Xét về mặt định lượng, làng nghề là những làng ở đó có số người
chuyên làm nghề thủ công nghiệp và sống chủ yếu bằng nguồn thu nhập
từ nghề đó chiếm tỷ lệ khá lớn trong tống dân số của làng. Tiêu chí đế
xem xét một cách cụ thể đối với một làng nghề điển hình là:
-
Số hộ chuyên làm một hoặc nhiều nghề thủ công chiếm từ 40- 50%
-
Thu nhập từ nghề thủ công chiếm trên 50% tống giá trị sản lượng của
làng.
Tuy nhiên những tiêu chí trên không phải là tuyệt đổi mà chỉ có ý
nghĩa tưong đối về mặt định lượng. Bởi vì ở mồi làng nghề bao giờ cũng
có sự khác nhau về quy mô sản xuất, quy trình công nghệ, tính chất sản
phấm và số người tham gia vào trong quá trình sản xuất. Do vậy sự phát
7
triển của các làng nghề thường khác nhau và có những biến động khác
nhau trong từng thời kỳ.
Ngày nay, khi khoa học kỹ thuật và công nghệ cùng với sự phân
công lao động đã phát triến ở mức độ cao hon thì khái niệm làng nghề
Hiện nay nước ta tồn tại rất nhiều nghề truyền thống khác nhau,
được phân bố khắp nơi trong cả nước, song được tập trung nhiều nhất ở
vùng đồng bằng sông Hồng. Việc phân loại các nhóm nghề truyền thống
tương đối khó khăn, chỉ mang tính chất tương đối.
+ Phân loại theo trình độ kỹ thuật:
-
Loại có kỹ thuật đơn giản: Sản phẩm của nghề này có tính chất thông
dụng, phù hợp với nền kinh tế tự cung tự cấp như: Nghề đan lát, chế
biến
lương thực, thực phẩm, nghề nung gạch, nung vôi....
-
Loại nghề có trình độ kỹ thuật phức tạp: Các nghề này không chỉ có
kỹ
thuật công nghệ phức tạp mà còn đòi hỏi ở người thợ sự sáng tạo,
khéo
léo. Sản phẩm vừa có giá trị kinh tế, vừa có giá trị nghệ thuật cao. Do
vậy sản phẩm không chỉ tiêu thụ ở trong nước mà còn có thể xuất khấu
đi nhiều nước trên thế giới như: Nghề thêu thùa, dệt lụa, làm gốm,
khảm
gỗ....
+ Phân theo tính chất kinh tế:
- Loại nghề thường phụ thuộc vào nền kinh tế nông nghiệp tự nhiên:
Đây là nghề phụ của hầu hết các gia đình nông dân, sản phấm ít mang
tính hàng hoá, chủ yếu phục vụ nhu cầu tại chỗ như: Nghề chế biến nông
sản, sản xuất công cụ như cày bừa, liềm hái....
- Loại nghề mà hoạt động của nó độc lập với quá trình sản xuất nông
Sự phát triển của một nghề truyền thống phải đảm bảo hiệu quả cả về
mặt kinh tế- xã hôi- môi trường.
Trên quan điếm phát triển bền vững, phát triến nghề truyền thống phải
thoả mãn yêu cầu: Sự phát triển phải có kế hoạch, quy hoạch sử dụng các
10
nguồn lực như tài nguyên thiên nhiên, lao động, vốn... Phải đảm bảo hợp
lý và có hiệu quả. Nâng cao mức sống cho người lao động, không gây ô
nhiểm môi trường, giữ gìn bản sắc, văn hoá dân tộc...
2.1.3.
Đặc điếm phát triên của các nghề truyền thong
2.1.3.1
Đặc điểm kỹ thuật, công nghệ và sản phẩm
a. Đặc điểm kỹ thuật và công nghệ
Đặc điếm đặc trưng đầu tiên của nghề thủ công truyền thống là kỹ
thuật thủ công mang tính truyền thống, dòng họ. Công cụ sản xuất la
công cụ thô sơ do chính người thợ thủ công chế tạo ra. Công nghệ của
nghề thủ công hầu như phụ thuộc vào tay nghề, kỹ năng, kỹ xảo của
người thợ. Sản phẩm đòi hởi khéo léo và kinh nghiệm tích luỹ được.
Một đặc tính quan trọng của công nghệ truyền thống là không thể
thay thê hoàn toàn bằng một công nghệ hiện đại, mà chỉ có thế thay thế ở
một sổ khâu sản xuất nhất định. Đây là một trong những yếu tố tạo nên
tính truyền thống của sản phẩm.
Một đặc điểm khác cần được xem xét là kỹ thuật công nghệ trong
và sản phẩm nghệ thuật. Sản phẩm không chỉ đáp ứng các nhu cầu trong
nước mà còn đế xuất khấu.
2.1.3.2
Đặc điếm về kinh tê, xã hội
a. Đặc điểm về sự gắn bó với sản xuất nông nghiệp và nông thôn
Nghề truyền thống của nước ta ra đời và phảt triến từ làng sản xuất
nông nghiệp. Vì vậy trong lịch sử lâu dài đó là mối quan hệ hai chiều
chặt chẽ được thể hiện dưới nhiều mức độ khác nhau. Xuất phát từ nhu
cầu sản xuất và tiêu dung của người nông dân trong một nền kinh tế tự
cung tự cấp. Nghề thủ công dần dần xuất hiện với tư cách là nghề phụ,
việc phụ trong gia đình. Nghề phụ, việc phụ này giúp giải quyết việc làm
12
lúc nông nhàn, tăng thu nhập. Như vậy người nông dân đồng thời là
người thợ thủ công và ngược lại.
Các cơ sở sản xuất của nghề truyền thống được phân bố taịi chỗ trên
địa bàn nông thôn, phục vụ trực tiếp cho phát triến kinh tế xã hội nông
thôn như: Tiêu thụ nguyên vật liệu, cung cấp vật tư, hàng hoá làm ra, thu
hút lao động nông thôn, thúc đấy sản xuất nông nghiệp và hoạt động dịch
vụ cùng phát triển, góp phần tăng thu nhập cho người nông dân, tham gia
xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội, nâng cao trình độ văn hoá, dân
trí nông thôn, đối mới nông thôn đồng thời chịu sự quản lý hành chính
của các cấp chính quyền địa phương.
b. Đặc điểm về lao động
Đặc điểm nổi bật trong sản xuất nghề truyền thống là sử dụng lao
động thủ công là chính. Do sản phẩm của nghề truyền thống đòi hỏi trình
- Tuy nhiên sản phẩm truyền thống hiện nay đã hấp dẫn đổi với nhiều
khách nước ngoài. Các sản phẩm như: Gốm, sứ, dệt tơ tằm.....................đã được
các thương nhân nước ngoài mua với số lượng lớn, chúng có mặt ở nhiều
nơi trên thế giới như: Pháp, Nhật, Trung Quốc...Hiện nay sự đòi hỏi
khắt khe của thị trường nước ngoài về chất lượng, chủng loại và sự thay
đối mẫu mã nhưng vẫn phải thể hiện sắc thái riêng của văn hoá Việt
Nam trong từng sản phẩm cũng là một khó khăn.
d. Đặc điếm về hình thức tố chức kinh doanh
Trong lịch sử phát triển các nghề truyền thống hình thức tố chức sản
xuất kinh doanh phố biến nhất là hình thức hộ gia đình. Ngoài ra còn
một số hình thức khác hiện nay đã được ra đời và phát triến là: Tố hợp
tác, hợp tác xã, doanh nghiệp tư nhân, công ty Trách nhiệm hữu hạn.
14
2.1.3 Vai trò của phát trỉến nghề truyền thống đổi với các vấn để
kinh tế, xã hội ở nông thôn
Vịêc phát triến nghề truyền thống ở nông thôn có vai trò rất to lớn đó
là:
0 Nghề truyền thống ở nông thôn góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ
cấu kinh tế nông thôn theo huớng công nghiệp hoá: Chuyển dịch cơ cấu
kinh tế ở nông thôn là nhằm phát triến kinh tế nông thôn lên một buớc
mới về chất, làm thay đổi cơ cấu sản xuất, cơ cấu lao động, cơ cấu việc
làm, cơ cấu giá trị sản luợng và cơ cấu thu nhập của dân cư nông thôn
bằng các nguồn lợi từ các lĩnh vực trong nông nghiệp và phi nông
nghiệp.Với mục tiêu như vậy, vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
thôn ngày càng được thúc đẩy, nó diễn ra ngay trong nội bộ ngành nông
nghiệp và cả các bộ phận hợp thành khác của cơ cấu kinh tế nông thôn.
Trong quá trình vận động và phát triến, các nghề truyền thống có vai trò
được du khách nước ngoài chú ý, do vậy kim ngạch xuất khấu cho các
sản phẩm này ngày càng tăng, góp phần cải thiện đời sống, cơ sở vật
chất cho người dân nông thôn.
0 Góp phần thu hút vốn nhà rỗi, tận dụng thời gian lao động dư thừa,
hạn chế di dân tự do: Đặc điểm sản xuất của các nghề truyền thống là
quy mô nhỏ, cơ cấu vốn và lao động ít nên rất phù hợp với khả năng huy
động vốn và nguồn lực vật chất của các hộ gia đình.Với mức vốn đầu tư
không lớn, trong điều kiện hiện nay thì đó là một lợi thế để có thể huy
động vốn nhàn nhãn rỗi trong dân cho hoạt động sản xuất của các nghề.
Mặt khác, do đặc điểm sản xuất của các nghề truyền thong là sử dụng
lao động thủ công là chủ yếu, nơi sản xuất cũng chính là nơi ở của người
lao động nên bản thân nó có thể tận dụng và thu hút nhiều lao động, từ
lao động thời vụ nông nhàn đến lao động trên độ tuối hay dưới độ tuối.
Trẻ em tham gia sản xuất dưới hình thức học nghề hay giúp việc. Lực
16
lượng lao động này chiềm một tỷ lệ rất đáng kế trong tổng số lao động ở
các nghề.
Cùng với việc tận dụng thời gian và lực lượng lao động, sự phát triển
của cac nghề truyền thống đã có vai trò tích cực trong việc hạn chế di
dân tự do ở nông thôn ra thành thị, từ vùng này sang vùng khác. Sức ép
về việc làm và thu nhập đã thúc đẩy người nông dân di dân để tìm nơi
mới có việc làm và thu nhập khá hơn. Khi nghề truyền thống ở nông
thôn phát triển sẽ là một động lực lớn đế cản trở vấn đề di dân tự do này.
0 Đa dạng hoá kinh tế nông thôn, thúc đấy quá trình đô thị hoá: Đa
dạng hoá kinh tế nông thôn là một biện pháp thúc đấy kinh tế hàng hoá ở
nông thôn phát triển, tạo ra một sự chuyển biến mới về chất, góp phần
phát trien kinh tế, xã hội nông thôn.Vì vậy trong kinh tế nông thôn phát
mà các thế hệ cha ông đã sáng tạo ra và truyền lại cho các thế hệ sau.
2.1.4 Những nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của các nghề
truyền thong
Thứ nhất, yếu tố thị trường: Yeu tố này đóng vai trò quyết định
đến sự sống còn của từng nghế. Những nghề sản xuất ra những sản phẩm
có khả năng thích ứng với sự thay đối của nhu cầu thị trường thường có
tốc độ. Đó là những sản phấm có đủ sức cạnh tranh trên thị trường và
luôn đổi mới cho phủ hợp với nhu cầu và thị hiếu tiêu dung của xã hội.
Đặc biệt là khi chúng ta đã trở thành thành viên chính thức của tổ chức
thương mại thế giới (WTO) thì sức cạnh tranh đế giữ vững và mở rộng
được thị trường là việc làm rất quan trọng, được đặt lên hàng đầu.
Ngược lại một số nghề truyền thống không phát triến được, ngày càng
mai một, thậm chí có nguy cơ bị mất đi và không đáp ứng được nhu cầu
18
thị trường hoặc nhu cầu thị trường không cần đến loại sản phẩm đó nữa
như: Tranh Đông Hồ, nghề đan quạt...
Như vậy, rõ ràng thị trường và phát triển thị trường đã tác động
mạnh tới phương hướng phát triến, cách thức tố chức sản xuất, cơ cấu
sản phẩm và là động lực thúc đẩy sản xuất phát triển.
Tuy nhiên nếu thị trường không ốn định sẽ gây ra khó khăn và bấp
bênh cho sản xuất.
Thứ hai, trình độ kỹ thuật và công nghệ: Việt Nam đã chính thức
là thành viên của WTO, nền kinh tế toàn cầu đã được mở rộng do vậy
việc ứng dụng khoa học công nghệ mới có ý nghĩa quyết định, các tác
động trực tiếp tới đảm bảo và nâng cao khả năng cạnh tranh của sản
phẩm. Nhận thức được điều này, nhiều nghề truyền thống đã được đấy
mạnh việc áp dụng khoa học kỹ thuật và đối mới công nghệ, cải tiến
đề này không còn quan trọng hơn so với trước đối với sự phát triến các
cơ sở nghề truyền thống.
Thứ bẩy: yếu tố truyền thống: Yeu tố truyền thống có tác dụng bảo
tồn những nét văn hoá đặc trưng của từng vùng hay từng nơi có nghề
truyền thống, làm gia tăng giá trị nghệ thuật cúa sản phẩm. Tuy nhiên
trong quá trình phát triển, yếu tố truyền thống cũng phải được duy trig
một cách có chọn lọc nhằm phát huy những mặt tích cực của nó phù hợp
với những thay đối của xã hội hiện tại.
Thứ tám: Cơ chế chính sách: Quá trình đối mới kinh tế cùng với hệ
thống chính sách kinh tế vĩ môi của Nhà nước đã có những tác động to
lớn có ý nghĩa quyết định tới sự phát triển của các nghề truyền thống.
Với chính sách phát triển của các thành phần kinh tế, các thành
phần kinh tế tư nhân, cá thế, hộ gia đình, các doanh nghiệp tư nhân được
20
công nhận và tồn tại trong sản xuất các sản phẩm truyền thống, làm cho
các nghề truyền thống đuợc khôi phục và phát triến mạnh mẽ.
Chính sách mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế đã kích thích sản
xuất phát triến, mở rộng thêm nhiều thị truờng mới. Ngoài ra còn có các
chính sách khác như chính sách miễn thuế, chính sách hỗ trợ vốn, chính
sách phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ... đã có tác động tích cực đến
các nghề truyền thống.
2.2.
Cơ sở thực tiễn về phát triển nghề truyền thống
2.2.1.
thông qua sách vở, áp phích, báo chí..
Bằng hàng loạt những hỗ trợ như trên, nghề truyền thống ở Nhật
Bản đã phát triển mạnh mẽ và hàng năm hàng thủ công mỹ nghệ truyền
thống mang lại nhiều USD cho đất nước[9].
* Kinh nghiệm ở Ân Độ
Ân Độ có nhiều nghề truyền thống và làng nghề truyền thống được
hình thành từ rất lâu trong lịch sử và còn tồn tại đến ngày nay. Hiện nay
có hàng triệu người đang sống bằng nghề thủ công truyền thống. Các
nghề truyền thống ở Ân Độ bao gồm chế tác kim hoàn, đồ trang sức,
gốm mỹ nghệ, sản xuất tơ lụa. Trong số những nghề thủ công truyền
thống thì nghề chế tác kim hoàn và trang sức là một trong những nghề
mũi nhọn, nghề hoạt động có hiệu quả cao và thu ngoại tệ nhiều nhất.
Ngành công nghiệp đá quý của Ân Độ đứng đầu trên thị trường thế giới,
các mặt hàng này chủ yếu được xuất khẩu sang Mỹ, HồngKông.
Ân Độ cũng rất chú trọng và có nhiều biện pháp, chính sách đế hỗ
trợ các nghề truyền thống. Ngoài chính sách hỗ trợ về vốn, đầu tư cơ sở
hạ tầng thì chính phủ còn rất chú trọng đến việc tăng cường và bồi
dường nguồn nhân lực, Thợ thủ công được chính phủ quan tâm cả về mặt
vật chất lẫn tinh thần, trong đó các nghệ nhân và thợ cả được coi như
vốn quý của quốc gia. Hàng năm chính phủ tố chức cấp giải thưởng quốc
22
gia cho thợ cả. Những sự quan tâm đó đã khuyến khích, động viên những
nguời thợ giỏi tâm huyết với nghề, góp phần vào việc duy trì và phát
triển các nghề truyền thống của đất nuớc[10].
* Kinh nghiệm ở Trung Quốc
Trung Quốc là nuớc các nhiều nghề truyền thống phát triển. Từ xa
xua nó đã thực sự nối tiếng với các sản phẩm của nghề dệt, nghề gốm,
nghề cho thanh niên nông thôn nghèo làn các sản phấm thủ công mỹ
nghệ truyền thống do Hoàng Hậu đỡ đầu, hàng năm thu hút hàng trăm
thanh niên nghèo ở các địa phương về học nghề. Trong thời gian học tập
được cấp học bống và tạo các điều kiện học tập, không phải đóng học
phí hoặc bất kỳ một khoản lệ phí nào. Ket thúc khoá học họ được giới
thiệu trở lại địa phương và được tạo điều kiện đế hành nghề, vừa đảm
bảo có thu nhập vừa đảm bảo duy trì phát triển và bảo tồn nghề truyền
thống của các dân tộc[ 12].
*
Kinh nghiệm ở Inđônêxia:
Chính phủ đã mở một mạng lưới các ngân hàng nông thôn quy mô
nhỏ được thành lập ở khắp mọi miền đất nước nhằm tạo điều kiện cho
việc cấp tín dụng cho nông thôn mà chủ yếu là những người nghèo thiếu
việc làm. Hàng năm tổng thống đã đứng ra phát động chương trình giúp
đỡ người nghèo và chọn ra những làng kinh tế kém phát triển, cung cấp
cho mỗi làng một khoản tín dụng đế các hộ nông dân nghèo luân phiên
nhau vay vốn dùng vào sản xuất nông nghiệp và phát triển nghề thủ công
truyền thống[13].
2.2.2
Kinh nghiệm phát triên các nghề truyền thong ở Việt Nam
Trong những năm gần đây, nhiều sản phâm của các nghề truyền
thống đã được khẳng định trên thị trường nhiều nước trong khu vực và
trên thế giới, do vậy sản phẩm ổn định và phát triển, quy mô ngày càng
mở rộng. Sự mở rộng của quy mô sản xuất không chỉ thế hiện ở mở rộng
mặt bằng sản xuất, mà ở sự tăng nguồn vốn đầu tư, đối mới kỹ thuật
25
Sự phát triển nhanh chóng của cách mạng khoa học kỹ thuật có
những tác động quan trọng tới sự đối mới kỹ thuật công nghệ trong các
nghề. Ở nhiều nơi đã có sự áp dụng khoa học kỹ thuật mới, thay thế thiết
bị, máy móc cũ bằng thiết bị máy móc mới, hiện đại. Vì vậy các sản
phấm của các nghề truyền thong dần dần đáp ứng đuợc nhu cầu của thị
trường trong nước và trên thế giới. Nhiều nghề đã dung điện lực làm
động lực chạy máy như xay xát, nghiền bột, máy cưa, máy bào...Làng
Bát Tràng đã dùng ga và điện cho lò nung, đào đất bằng máy thay bằng
tay... Nghề Vạn Phúc Hà Tây đã thay máy dệt cho khung cửi.... Việc
đối mới công nghệ vẫn giữ được những yếu tố truyền thống của snả
phẩm. Song sự đổi mới công nghệ diễn ra còn chậm, chưa đồng bộ, chưa
hệ thống. Sự đối mới công nghệ chưa chú ý đến vấn đề môi trường và an
toàn lao động. Tình trạng ô nhiểm môi trường đang trở thành vấn đề bức
xúc trong các làng nghề. Đó là sự ô nhiễm không khí do bụi, tiếng ồn,
nhiệt độ cao. Hoặc ô nhiễm nguồn nước do hoá chất, chất thải của các cơ
sở sản xuất không được xử lý.
Sản phẩm làm ra của các nghề truyền thống hiện nay chủ yếu là
được tiêu thụ ở thị trường trong nước (Chiếm 90%). Các sản phẩm sản
xuất ra được tiêu thụ ngay tại chồ hoặc các vùng lân cận. Khi Việt Nam
hội nhập thì thị trường nước ngoài có thể mở rộng hơn, tuy nhiên các cơ
sở phải nỗ lực đế đáp ứng thị hiếu của khách hàng về chất lượng, mẫu
mã sản phấm.
2.2.3
Thực trạng phát triển các nghề truyền thống ở tỉnh Hưng Yên