- 1 -
MỞ ĐẦU
ý nghóa và tính cấp thiết của luận án
Kinh tế Việt Nam đang trên con đường hoà nhập với nền kinh tế thế
giới, nơi mà mọi hoạt động đều vận hành theo những qui ước, điều lệ, những
thông lệ mang tầm vóc toàn cầu chứ không chỉ đơn thuần là đòa phương cục
bộ. Gia nhập Tổ chức thương mại toàn cầu – WTO là sự lựa chọn đúng và
thích hợp trong giai đoạn hiện nay cho tất cả các quốc gia khi muốn hoà nhập
với nền kinh tế thế giới. Trước những thách thức của quá trình hội nhập, để có
thể trụ vững khi gia nhập tổ chức này, đã thúc đẩy mọi thành phần kinh tế,
mọi ngành nghề … đều phải tự chuyển mình và phát triển nhanh về mọi mặt,
cho đến khi Việt Nam chính thức được công nhận trở thành thành viên của
WTO thì các doanh nghiệp Việt Nam có thể cạnh tranh được ở mức cơ bản
trước các doanh nghiệp nước ngoài có nhiều ưu thế vượt trội.
Cũng những mọi ngành nghề khác, ngành nông nghiệp Việt Nam nói
chung, ngành trái cây Đồng Bằøng Sông Cửu Long, đang đứng trước thách thức
là vừa phải cùng hoà mình với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, lại vừa phải
đảm bảo sự tăng trưởng về chất lượng nhằm nâng cao tính cạnh tranh trước
những hàng hóa cùng loại của các quốc gia khác trên thế giới. Với sự hiểu
biết ngày càng nhiều về tác dụng tích cực của hàng hóa trái cây, rau củ đối
với sức khỏe con người, nhu cầu tiêu thụ những mặt hàng này ngày càng tăng,
nhất là tại các thò trường phát triển trên thế giới. Trước cơ hội đó, cùng với
năng lực sản xuất rất có tiềm năng của ngành trái cây Việt Nam, “ Đề án
chiến lược xuất khẩu rau quả đến năm 2010” của Bộ thương mại được xây
dựng với mục tiêu đạt giá trò xuất khẩu 1.000 triệu USD vào một số thò trường
có chủ đích đến năm 2010 có thể được xem là một nổ lực của ngành rau quả
Việt Nam nhằm thúc đẩy lượng rau quả xuất khẩu. Tuy nhiên, thực trạng về
ngành rau quả của Việt Nam nói chung, chất lượng của hàng hóa trái cây
- 2 -
Đồng Bằøng Sông Cửu Long vẫn còn đang trong tình trạng còn rất thấp chưa
cũng là một thử thách là làm thế nào để có thể hoàn thiện và phát triển mạnh
hệ thống những dòch vụ đầu vào và dòch vụ đầu ra có liên quan đến hàng hóa
trái cây xuất khẩu với chất lượng cao, để hàng hóa trái cây xuất khẩu đáp ứng
được những điều kiện khắc khe của thò trường xuất khẩu.
Vì vậy luận án “Nghiên Cứu Phát Triển Một Số Dòch Vụ Sản Xuất –
Xuất Khẩu Hàng Hóa Trái Cây Đồng Bằøng Sông Cửu Long” mà tôi chọn là
nghiên cứu cần thiết và cấp bách trong giai đoạn hiện nay của ngành trái cây
Đồng Bằøng Sông Cửu Long trước thời cơ và thử thách mới.
CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU
CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
Có nhiều công trình khoa học của các tác giả về vấn đề trái cây Đồng
Bằøng Sông Cửu Long và các vấn đề về dòch vụ:
Đề tài “Những giải pháp đầu ra cho sản phẩm trái cây tươi của Đồng
Bằøng Sông Cửu Long” do PGS.TS Võ Thanh Thu là chủ nhiệm đề tài (năm
2001) đã đề cập đến những tác nhân tác động đến khả năng tiêu thụ trái cây
tươi Đồng Bằøng Sông Cửu Long đối với thò trường trong và ngoài nước, thực
trạng các kênh phân phối truyền thống. Qua đó đề xuất các giải pháp nhằm
đẩy mạnh sản lượng tiêu thụ trái cây tươi. Đề tài không đề cập vấn đề dưới
góc độ dòch vụ.
Đề tài nhánh năm 2001 của Tiến só Nguyễn Văn Lòch về “ Thò trường
trái cây thế giới và triển vọng xuất khẩu của Việt Nam đến năm 2010” đã đề
cập đến khả năng tiêu thụ 6 loại trái cây tiềm năng chủ yếu của Việt Nam.
Qua đề tài này đã củng cố thêm cơ sở về sự thành công của ngành sản xuất
trái cây Việt Nam nếu chọn hướng đi đúng đắn.
Đề tài “Một số giải pháp nâng cao sức cạnh tranh cho hàng hóa trái cây
xuất khẩu của Đồng Bằøng Sông Cửu Long trong điều kiện hội nhập kinh tế
- 4 -
quốc tế” – do nghiên cứu sinh Hà Thò Ngọc Oanh (năm 2004) đã đề cập đến
yếu tố sức cạnh tranh của sản phẩm trái cây Đồng Bằøng Sông Cửu Long.
qua kênh phân phối và tiêu thụ. Đề tài đã phân tích rõ được những tồn tại của
hệ thống kênh phân phối. Các giải pháp đề xuất không đề cập ở góc độ dòch
vụ.
Những đề tài mang tính kỹ thuật như “Tìm hiểu sản xuất và thò trường
Thanh long Nam Bộ” của Đoàn Hữu Tiến và Tạ Minh Tuấn, đề tài “ Sản xuất
và thò trường Vú sữa Đồng Bằøng Sông Cửu Long” của Lương Trung Lập và
Tạ Minh Tuấn đã cho thấy về khả năng và trình độ chuyên môn của các kỹ sư
Việt Nam trong việc tạo nên những sản phẩm có chất lượng. Đồng thời thò
trường tiềm năng của các hàng hóa trái cây Đồng Bằøng Sông Cửu Long. Vấn
đề là làm thế nào để có thể đẩy mạnh thò trường của hàng hóa trái cây Đồng
Bằøng Sông Cửu Long.
Hội thảo về chợ trái cây đầu mối được tổ chức tại Vùng Cần Thơ năm
2001 đã có một số tham luận kinh nghiệm về việc xây dựng hệ thống chợ đầu
mối tại một số quốc gia trong khu vực.
Dự án nâng cao sức cạnh tranh của Việt Nam do cơ quan phát triển quốc
tế Hoa Kỳ – USDA tài trợ năm 2003 trong đó có đề cập đến chiến lược liên
kết ngành trái cây Việt Nam đã nêu lên những hạn chế trong việc liên kết
giữa các ngành để tạo nên sản phẩm hàng hóa trái cây Việt Nam, qua đó dự
án này cũng đã đưa ra những giải pháp để khắc phục tình trạng này.
Tác giả đã kế thừa những nghiên cứu của các công trình được liệt kê
trên, kết hợp với một số nghiên cứu khác của tác giả đã thực hiện để làm cơ
sở và nền tảng cho nghiên cứu tiếp trong luận án này. - 6 -
ĐIỂM MỚI CỦA LUẬN ÁN
Hệ thống hóa những lý thuyết về dòch vụ, dòch vụ trong nông nghiệp
trong điều kiện nền kinh tế Việt Nam đang chuyển đổi từ một nền kinh tế bao
cấp sang một nền kinh tế chuyển đổi trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Nêu bật được tầm quan trọng của dòch vụ đối với sự phát triển ngành nông
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN
Nghiên cứu có hệ thống và toàn diện cơ sở lý luận về dòch vụ, dòch vụ
trong nông nghiệp, những đặc điểm của dòch vụ trong nông nghiệp, vai trò của
dòch vụ, phân loại dòch vụ… đối với sự phát triển của ngành nông nghiệp trong
đó có trái cây.
Làm rõ vai trò của dòch vụ công, dòch vụ hành chính sự nghiệp đến sự
phát triển của ngành nông nghiệp, qua đó đã củng cố về mặt lý luận về tầm
quan trọng của loại hình dòch vụ này đối với sự phát triển của ngành trái cây,
cũng như đối với hàng hóa trái cây xuất khẩu Đồng Bằøng Sông Cửu Long.
Phân tích thực trạng dòch vụ bảo hiểm cho ngành trái cây, để tìm ra
được nguyên nhân gốc rễ đã dẫn đến thực trạng là dòch vụ bảo hiểm chưa thể
thâm nhập được vào ngành trái cây. Từ đó đề xuất giải pháp khắc phục.
Đề xuất những giải pháp hoàn thiện các hoạt động dòch vụ có liên quan
đến trái cây Đồng Bằøng Sông Cửu Long, nhằm đưa hoạt động các dòch vụ liên
quan lên một tầm cao mới với sự chuyên nghiệp và chuyên môn hóa cao và
có sự liên kết mang tính hệ thống. Đồng thời, các giải pháp được hình thành
theo hướng công nghiệp hóa và chuyên môn hóa cao. Những giải pháp được
đưa ra trong một hệ thống có sự liên kết chặt chẽ từ đầu vào cho đến đầu ra,
dòch vụ đi trước sẽ tạo nền chất lượng cho dòch vụ sau và kết quả cuối cùng là
vì sự phát triển của ngành trái cây, nâng cao chất lượng nhằm tăng mạnh sản
lượng hàng hóa trái cây xuất khẩu.
- 8 -
ĐỐI TƯNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Luận án chỉ tập trung nghiên cứu vào một số dòch vụ có liên quan đến
hàng hóa trái cây xuất khẩu Đồng Bằøng Sông Cửu Long. Tuy nhiên vì hoạt
động dòch vụ liên quan đến hàng hóa trái cây xuất khẩu có phạm vi rất rộng,
luận án chỉ tập trung vào một số dòch vụ mà tác giả cho rằng cần thiết và cốt
lõi. Những hoạt động dòch vụ như giao nhận ngoại thương, vận tải, bưu chính
viễn thông, tài chính – tín dụng, ngân hàng… đã được nhiều nghiên cứu khoa
học khác phân tích và đề xuất những giải pháp khả thi. Đồng thời, qua nghiên
Trong chương 3 đã dùng phương pháp dự báo, phương pháp chuyên gia
để xác đònh những quan điểm và cơ sở đề xuất giải pháp. Đồng thời, tác giả
đã sử dụng phương pháp lôgíc hình thức đề xuất những giải pháp phát triển
một số dòch vụ sản xuất và xuất khẩu hàng hóa trái cây Đồng Bằøng Sông Cửu
Long.
Thông tin và số liệu thứ cấp được sử dụng trong luận án được thu thập từ
những nguồn sách, báo chí, Internet, các hội thảo chuyên đề, các đề tài
nghiên cứu khoa học. Kết hợp với những thông tư, quyết đònh, văn bản niên
giám, báo cáo tổng hợp được ban hành… của các cơ quan Nhà nước. Thông tin
sơ cấp được thu thập từ những điều tra của tác giả tại các Tỉnh Đồng Bằøng
Sông Cửu Long với các nhà vườn, nhà nông và ngay cả một số cán bộ quản lý
Nhà nước. Kết hợp đi tham quan nhiều hội chợ triển lãm về nông nghiệp
Vùng Đồng Bằøng Sông Cửu Long trong giai đoạn 2002 – 2004. Tác giả cũng
tham gia trong các chuyến đi của Liên minh Hợp tác xã Việt Nam tại
Singapore, Thái Lan, Malaysia, Đài Loan.. Số liệu sơ cấp và thứ cấp được sử
dụng trong luận án thu thập trong giai đoạn 2001 – 2005.
- 10 -
CHƯƠNG 1
LÝ THUYẾT VỀ DỊCH VỤ
DỊCH VỤ TRONG NÔNG NGHIỆP – KINH NGHIỆM
HOẠT ĐỘNG DỊCH VỤ CỦA MỘT SỐ NƯỚC
1.1. DỊCH VỤ VÀ DỊCH VỤ TRONG NÔNG NGHIỆP
1.1.1. TỔNG QUAN
Từ thời xa xưa, loài người đã hoạt động sinh tồn và sản xuất dưới hình thức
các bộ lạc trong phạm vi hẹp, khi đó dòch vụ chưa xuất hiện. Cho đến khi sự
phát triển về ý thức hệ cũng như về số lượng nhân khẩu trong bộ lạc dẫn đến
sự xuất hiện của dòch vụ với hình thái đơn giản nhất. Đó chính là sự xuất hiện
của nhu cầu trao đổi hàng hóa giữa các bộ lạc với nhau.
hóa, khi mà kinh tế hàng hóa phát triển mạnh, đòi hỏi một sự lưu thông trôi
chảy, thông suốt, liên tục để thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của con người
thì dòch vụ phát triển”. [7]
Một đònh nghóa khác cho rằng dòch vụ là hoạt động hay lợi ích cung ứng
nhằm để trao đổi, mà hoạt động ấy có thể gắn với sản phẩm vật chất hữu hình
hoặc vô hình được sử dụng nhằm đáp ứng một nhu cầu cụ thể nào đó. Thuộc
tính của dòch vụ là vô hình vì vậy mà dòch vụ không gắn liền với thuộc tính
quyền sở hữu, thuộc tính trao đổi như sản phẩm vật chất hữu hình. Hoạt động
dòch vụ bao trùm lên tất cả mọi lónh vực của đời sống xã hội với trình độ cao,
chi phối rất lớn đến quá trình phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia. Dòch
vụ không chỉ là vận tải, thương mại, bưu điện, ngân hàng, bảo hiểm mà còn là
những hoạt động hành chính, tư vấn, bảo vệ môi trường.
Theo tạp chí The Economists, dòch vụ (service) là bất cứ cái gì đem bán
mà không thể rơi vào chân bạn. Như vậy, dòch vụ cũng là một sản phẩm, một
hàng hóa đặc biệt. Dòch vụ được hiểu là một dạng sản phẩm đi kèm với sản
- 12 -
phẩm chính nhằm làm tăng giá trò của sản phẩm chính theo như cách nhìn của
nhà sản xuất và người tiêu dùng.
Dòch vụ trong nông nghiệp (dòch vụ nông nghiệp) là những hoạt động
“phầm mềm” tạo ra sản phẩm hàng hóa không tồn tại dưới hình thái vật thể,
được gắn liền với những sản phẩm hữu hình trong nông nghiệp. Như dòch vụ
cung ứng cây giống gắn liền với sản phẩm hữu hình là cây giống; dòch vụ
hành chính công sẽ tác động đến sự phát triển toàn diện của toàn ngành nông
nghiệp; chính sách về đất đai của Nhà nước sẽ ảnh hưởng đến diện tích canh
tác; các qui đònh về việc lưu hành và kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật tích
cực sẽ góp phần đưa hoạt động lưu thông thuốc bảo vệ thực vật trên thò trường
vào tình trạng được kiểm soát, bảo vệ được môi trường sống của chúng ta…
Chất lượng của hàng hóa hữu hình sẽ tùy thuộc rất lớn vào chất lượng
của dòch vụ. Chẳng hạn, để có sự phát triển mạnh mẽ và bền vững của ngành
trái cây hiện nay của Đồng Bằøng Sông Cửu Long, thì chất lượng dòch vụ công,
cũng sẽ khác nhau.
1.1.3. ĐẶC ĐIỂM CỦA DỊCH VỤ
1.1.3.1. TÍNH VÔ HÌNH
Dòch vụ không thể trực tiếp thấy được và không thể khẳng đònh được mùi vò
của nó. Ta chỉ có thể thấy được dòch vụ thông qua những hình thái khác do
dòch vụ kết hợp với vật chất để tạo ra. Chẳng hạn chúng ta chỉ có thể thấy
được những cây Bưởi “Năm Roi” tròu quả, to và vò lại ngọt dòu. Thành quả
này có được do một phần rất lớn nhờ dòch vụ phân phối cây giống có chất
lượng, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, dòch vụ tư vấn khuyến nông, sự hướng
dẫn chăm sóc đúng cách và đúng kỹ thuật... Chúng ta cũng chỉ có thể thấy
- 14 -
được chất lượng của dòch vụ thông qua tình trạng hoạt động tốt của chiếc máy
cày sau khi được dòch vụ sửa chữa ABC nào đó thực hiện.
Các Mác cho rằng ”…Trong những trường hợp mà tiền được trực tiếp trao
đổi lấy một lao động không sản xuất ra tư bản, tức là trao đổi lấy lao động
không sản xuất, thì lao động đó được mua với tư cách là một sự phục vụ… Lao
động đó cung cấp sự phục vụ nhưng không phải với tư cách là một đồ vật, mà
với tư cách là một sự hoạt động”.[7]
Như vậy, hoạt động dòch vụ cũng có thể so sánh, có thể đánh giá được
chất lượng của hoạt động ấy trong một chừng mực tương đối, tùy vào quan
điểm, trình độ, kinh nghiệm sống của người đưa ra nhận xét.
Có thể nâng cao giá trò hữu dụng của dòch vụ thông qua nhiều hình thức
tác động khác nhau. Có thể lấy ví dụ về sự cạnh tranh của thương lái thu mua
trái cây thông qua việc tăng cường thăm viếng các vườn cây mà anh ta cho
rằng sẽ bội thu, cung cấp những phương tiện, hướng dẫn các kỹ thuật, nhanh
nhẹn trong vấn đề thu mua, trung thực với người nông dân… nhằm tranh thủ
xây dựng hình ảnh tốt trong tâm trí người dân, với mong muốn là có nhiều
hàng hóa trái cây với chất lượng tốt hơn.
sau thu hoạch lên đến 30%. Hệ quả này là do chất lượng các dòch vụ cung cấp
giống, phân bón, kỹ thuật canh tác, công tác tư vấn khuyến nông, bảo quản và
chế biến trái cây sau thu hoạch, dòch vụ đóng gói, vận chuyển… còn rất nhiều
bất cập, lạc hậu, thiếu sự đònh hướng và quản lý tốt của các cơ quan chức
năng. Chất lượng dòch vụ được cung ứng thấp đã ảnh hưởng tiêu cực trực tiếp,
lẫn gián tiếp đến chất lượng sản xuất trái cây, làm giảm giá trò thương phẩm
của hàng hóa trái cây xuất khẩu, gây ảnh hưởng nhiều đến thò trường tiêu thụ. - 16 -
1.1.4. PHÂN LOẠI DỊCH VỤ
Có thể thấy được tính chất đa dạng và phong phú của dòch vụ trong mọi lónh
vực, sự thiếu vắng của dòch vụ sẽ dẫn đến sự giảm sút chất lượng nói chung,
kiềm hãm sự phát triển về kinh tế. Ngày nay, với sự phát triển mạnh mẽ về
kinh tế, đời sống vật chất văn hóa tinh thần ngày càng phong phú và phát
triển thì sự hiểu biết, nhận thức rõ ràng về tính chất, loại hình và hình thức
của dòch vụ sẽ đem lại những lợi thế trong hoạt động kinh doanh thương mại.
Có thể phân loại dòch vụ theo những tiêu chí sau
1.1.4.1. PHÂN LOẠI THEO CHỦ THỂ THỰC HIỆN
Cách phân loại này được nhìn nhận ở góc độ người “chủ nhân” tạo ra và cung
ứng sản phẩm dòch vụ cho xã hội. Chủ thể cung ứng khác nhau sẽ dẫn đến
tính chất và hình thức cung ứng của dòch vụ cũng sẽ khác nhau.
a. CHỦ THỂ NHÀ NƯỚC
Là chủ thể có quyền hạn cao nhất trong một quốc gia, được độc quyền
cung ứng những dòch vụ mang tính chất đặc biệt, phục vụ cho sự phát triển xã
hội, không vì mục tiêu lợi nhuận mà vì sự ổn đònh và phát triển cộng đồng,
gọi là dòch vụ công. Nhà nước là chủ thể quản lý chủ yếu ở những loại hình
dòch vụ này nhằm đảm bảo các yếu tố sau:
nhuận xuất hiện nhưng không phải là ưu tiên hàng đầu, tính chất phục vụ
cộng đồng vẫn được xem trọng. Các cơ quan nghiên cứu, Trường học, Viện
cây ăn quả, hợp tác xã, công ty quản lý công viên, công ty dòch vụ công ích….
là những dòch vụ thuộc dạng này. Dòch vụ công cộng phục vụ có tính chất
không buộc mọi người phải sử dụng, mà họ có thể lựa chọn chủ thể cung ứng
khác, những loại hình dòch vụ khác để thay thế.
Dòch vụ công cộng có những đặc điểm sau:
- 18 -
Có sự tham gia và điều tiết của cơ quan Nhà nước. Với đặc điểm này thì
các chủ thể ngoài chủ thể Nhà nước đều có thể tham gia thực hiện cung cấp
dòch vụ công cộng, nhưng nhất thiết phải có sự điều tiết của Nhà nước. Nhất
là trong việc hỗ trợ tài chính từ phía Nhà nước để duy trì việc cung ứng các
dòch vụ này với chí phí hợp lý nhất nhằm tạo điều kiện cho việc sử dụng rộng
rãi trong dân chúng. Vì vậy các dòch vụ công cộng hành chánh sự nghiệp đều
có tính chất thiết yếu trong cuộc sống. Sự tồn tại của dòch vụ công cộng là sự
tối cần thiết để duy trì sự ổn đònh trật tự trong xã hội.
Việc cung ứng dòch vụ công cộng không mang tính chất thương mại
thuần túy, vì vậy người sử dụng thường chỉ trả một phần phí tượng trưng khi sử
dụng các dòch vụ công cộng. Tuy nhiên giá trò thực của dòch vụ công cộng vẫn
được người tiêu dùng trả đủ thông qua các loại hình thuế và Nhà nước trích
phần thuế thu được để chi trả cho dòch vụ công cộng này.
Mọi công dân đều có quyền được sử dụng dòch vụ công cộng ngang
nhau, không phân biệt giàu nghèo hay giai cấp trong xã hội hay số tiền thuế
mà họ đóng góp vào ngân sách Nhà nước. Trong một quốc gia coi trọng đến
sự bình đẳng trong xã hội thì các dòch vụ công cộng phải được chú trọng đầu
tư với chất lượng cao và phổ biến đại trà trong xã hội.
Chính vì đặc điểm trên nên không thể loại trừ việc sử dụng dòch vụ công
cộng của bất kỳ một ai và việc tiêu dùng dòch vụ công cộng của người này sẽ
không làm mất đi sự tiêu dùng của người khác.
c. CHỦ THỂ LÀ CÁC TỔ CHỨC KINH DOANH
- 20 -
c. DỊCH VỤ SAU BÁN HÀNG
Các hoạt động dòch vụ này được bao gồm đóng gói, giao nhận, bảo hành,
bảo trì, tư vấn sử dụng….. Chính các hoạt động dòch vụ này là yếu tố quan
trọng để lôi kéo khách hàng quay lại tiếp tục mua hàng, trở thành khách hàng
trung thành với nhà sản xuất. Các hoạt động dòch vụ này thường tiếp xúc trực
tiếp với khách hàng, để đạt được sự hài lòng của khách hàng thì chất lượng
dòch vụ trong giai đoạn này cần được quan tâm đúng mức. Sự thiếu hiểu biết
về thương mại, trình độ văn hóa, tư duy nhận thức của người cung ứng … sẽ
ảnh hưởng đến chất lượng dòch vụ cung ứng. 1.1.4.3. PHÂN LOẠI THEO HÌNH THỨC KHÁC
Sự khác biệt của những loại hình dòch vụ sẽ quyết đònh tính chất và hình thức
thực hiện của dòch vụ. Ở đây ta có thể phân chia như sau:
a. HÌNH THỨC HOẠT ĐỘNG
Việc sử dụng con người, hay máy móc công cụ… phục vụ cho hoạt động
cung cấp dòch vụ sẽ quyết đònh hình thức, cách thức thực hiện dòch vụ. Chẳng
hạn như dòch vụ tư vấn khuyến nông phải cần có sự giao tiếp giữa người với
người là quan trọng nhất; HTX vận tải thì cần có phương tiện vận chuyển
nhanh chóng. Như vậy sử dụng con người hay máy móc để cung ứng dòch vụ
tuỳ thuộc vào đối tượng mà nhà cung ứng hướng đến. Đôi khi có sự kết hợp cả
hai hình thức để sử dụng làm trọng tâm để cung ứng dòch vụ. Với trình độ
khoa học kỹ thuật phát triển như hiện nay thì sự pha trộn giữa con người
phương tiện máy móc thiết bò và công nghệ mới nhằm cung ứng các sản phẩm
dòch vụ với chất lượng hiệu quả cao là xu thế tất yếu.
Trong ngành trái cây, thực hiện dòch vụ chăm sóc cây ăn trái với sự tham
gia của cả con người và máy móc thiết bò chuyên dụng nhằm đảm bảo cho
- 22 -
Dòch vụ xây dựng và kỹ thuật: xây dựng nhà cửa, lắp đặt máy móc, hoàn
thiện các công trình.
Dòch vụ phân phối: đại lý hoa hồng, bán buôn, bán lẻ, đại lý độc quyền, dòch
vụ khác.
Dòch vụ đào tạo: tiểu học, trung học, đại học, người lớn, dòch vụ giáo dục
khác;
Dòch vụ môi trường: thóat nước, sử lý chất thải, vệ sinh và tương tự, dòch vụ
khác.
Dòch vụ tài chính: bảo hiểm và lónh vực liên quan, ngân hàng và lónh vực liên
quan, dòch vụ tài chính khác.
Dòch vụ liên quan đến sức khỏe và xã hội: chữa bệnh, bệnh viện, dòch vụ
khác.
Dòch vụ du lòch và liên quan: khách sạn và nhà hàng, đại lý và điều hành du
lòch, hướng dẫn du lòch, dòch vụ khác;
Dòch vụ giải trí, văn hóa và thể thao: giải trí, tin tức, thư viện, kiến trúc, bảo
tàng … , thể thao và giải trí khác.
Dòch vụ vận tải: vận tải đường biển, vận tải thủy nội đòa, vận tải hàng không,
vận tải đường sắt, vận tải ô tô, vận tải đường ống, vận tải vũ trụ, vận tải đa
phương thức, dòch vụ vận tải khác.
Dòch vụ khác: bao gồm bất kỳ các loại hình dòch vụ nào chưa được nêu ở trên.
Trong Nhóm dòch vụ này có vận chuyển và phân phối năng lượng và các dòch
vụ khác liên quan đến năng lượng, mặc dù chúng cũng có thể một phần thuộc
về các loại hình dòch vụ phân phối, vận tải, môi trường và các dòch vụ kinh
doanh khác
1.2. VAI TRÒ CỦA DỊCH VỤ VỚI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA NGÀNH NÔNG NGHIỆP
1.2.1. GÓC ĐỘ KINH TẾ
- 23 -
Dòch vụ có vai trò quan trọng đến sự phát triển về mặt kinh tế của ngành nông
nghiệp của một quốc gia, thể hiện vai trò ngày càng không thể thiếu trong
BẢNG 1.2
Tỷ trọng / GDP của các ngành ở một số nước đang phát triển Châu Á
Tốc độ tăng GDP Năm
Nông nghiệp
(%)
Công nghiệp
(%)
Dòch vụ
(%)
1960 – 80 35 40 25
1981 – 90 29 44 27
Trung Quốc 6.42
1991 - 2000 20 48 32
1960 – 80 42 23 35
1981 – 90 22 37 40
Indonesia 3.97
1991 - 2000 18 43 40
1960 – 80 29 30 41
1981 – 90 20 39 41
Malaysia 4.12
1991 - 2000 13 42 45
1960 – 80 28 31 41
1981 – 90 24 36 40
Philippins 1.04
1991 - 2000 20 32 48
1960 – 80 29 25 46
1981 – 90 17 33 50
Thái Lan 4.43
1991 - 2000 11 39 50
gương thành công điển hình khi doanh nghiệp này triển khai đầu tư máy móc
hiện đại sản xuất những sản phẩm chế biến có chất lượng cao như nước Bưởi
ép… để xuất sang thò trường Mỹ, Thụy Só…
1.2.1.3. THÚC ĐẨY NHANH QUYẾT ĐỊNH MUA HÀNG
Sự hình thành và đa dạng của dòch vụ trong nông nghiệp sẽ đem đến cho
khách hàng nhiều sự lựa chọn hơn, với qũy thời gian tìm kiếm sẽ được giảm
thiểu đáng kể. Thông tin và công cụ khoa học kỹ thuật tiên tiến đã giúp cho
những khách hàng tại Châu Âu có thể quyết đònh mua Thanh long của doanh