1
LỜI NÓI ĐẦU
Quốc tịch là một vấn đề có ý nghĩa chính trị, pháp lý và xã hội đặc biệt
quan trọng. Pháp luật quốc tịch là công cụ pháp lý, thông qua đó nhà nước thể
hiện chủ quyền quốc gia trong quan hệ quốc tế và quyền lực nhà nước đối với
dân cư trong lãnh thổ của mình. Bên cạnh đó, nó còn là căn cứ quan trọng để
phân biệt công dân của các quốc gia để từ đó có thể xác định hệ thống quyền và
nghĩa vụ của công dân. Quốc tịch cũng là cơ sở pháp lý và là một trong các căn
cứ để quốc gia có thể bảo hộ công dân nước mình ở nước ngoài.
Với ý nghĩa quan trọng như vậy, nên ngay từ những ngày đầu nước Việt Nam
Dân chủ cộng hòa ra đời, pháp luật về quốc tịch đã được đặc biệt coi trọng. Xuyên
suốt quá trình phát triển của đất nước, pháp luật quốc tịch Việt Nam luôn chịu sự
ảnh hưởng, chi phối mạnh mẽ của các điều kiện, hoàn cảnh lịch sử phát triển của
Việt Nam trong từng giai đoạn. Điều đó đã tạo ra những quy định pháp luật khác
nhau qua từng thời kì, quy định sau là sự kế thừa, phát triển, hoàn thiện của quy
định trước và góp phần giải quyết những nhu cầu, đòi hỏi đặt ra xung quanh vấn đề
quốc tịch của công dân Việt Nam trong từng tiến trình lịch sử nhất định.
Hiện nay, trong thực tế, có những ý kiến cũng như quan điểm về các nội
dung của pháp luật quốc tịch Việt Nam nhưng lại tách ra khỏi hoặc không phân
tích kĩ các điều kiện, hoàn cảnh lịch sử tương ứng. Đây chính là một trong nhiều
nguyên nhân dẫn đến việc phân tích, đánh giá không chính xác các quy định về
quốc tịch Việt Nam và đã tạo ra luồng tư tưởng không tốt trong nhân dân.
Xuất phát từ những lý do trên, khóa luận sẽ tập trung đi phân tích và làm rõ
thêm quá trình hình thành phát triển của pháp luật quốc tịch Việt Nam, dựa trên
nền tảng phân tích từng thời kỳ lịch sử tương ứng với từng dấu mốc phát triển
của pháp luật quốc tịch nước ta.
Nội dung chính của khóa luận tập trung vào sự phát triển của các chế định
pháp luật quốc tịch Việt Nam theo từng thời kì lịch sử, làm rõ và giải thích sự khác
nhau của chế định qua mỗi thời kì phát triển, để từ đó có thể đưa ra một số ý kiến
cá nhân và giúp người đọc có một cái nhìn sâu hơn về pháp luật quốc tịch Việt
3
Chương 1
KHÁI QUÁT VỀ QUỐC TỊCH,
SỰ HÌNH THÀNH PHÁP LUẬT QUỐC TỊCH VIỆT NAM
1.1. KHÁI NIỆM, VAI TRÒ CỦA QUỐC TỊCH.
Quốc tịch là mối quan hệ pháp lý bền vững giữa một cá nhân với một Nhà
nước nhất định. Mỗi một công dân có những quyền nhất định và nghĩa vụ tương
ứng đối với Nhà nước của mình. Những quyền và nghĩa vụ này được quy định
bằng pháp luật của mỗi quốc gia: Hiến pháp và các văn bản quy phạm pháp luật
khác (1)
Quốc tịch là sự quy thuộc về mặt pháp lý và chính trị của một cá nhân vào
một Nhà nước thể hiện mối quan hệ qua lại giữa Nhà nước và cá nhân. Nhà
nước quy định các quyền cho cá nhân là công dân của mình, bảo vệ và bảo hộ
công dân đó ở nước ngoài. Về phần mình, công dân phải tuân theo pháp luật của
Nhà nước và hoàn thành các nghĩa vụ đối với Nhà nước (2)
Quốc tịch là một chế định cơ bản của luật hiến pháp về địa vị pháp lý của
công dân, là tiền đề pháp lý bắt buộc để một cá nhân có thể được hưởng các
quyền và nghĩa vụ công dân của một nhà nước (3)
Quốc tịch là mối liên hệ pháp lý, chính trị ổn định, bền vững, thường xuyên
giữa một người (thể nhân hay tự nhiên nhân) và một Nhà nước nhất định theo
quyền pháp luật của nước đó. Quốc tịch được biểu hiện bằng những quyền,
nghĩa vụ qua lại của công dân và Nhà nước. Người mang quốc tịch của nước
nào là công dân của nước đó, được hưởng những quyền pháp lý, chính trị, đồng
thời phải gánh vác những nghĩa vụ đối với nhà nước. Ngược lại, Nhà nước có
quyền và nghĩa vụ bảo hộ công dân của mình, dù công dân đó cư trú ở trong
nước hay ở nước ngoài (4)
Qua những khái niệm trên, ta có thể thấy được phần nào bản chất của quan
SƠ LƯỢC SỰ HÌNH THÀNH CỦA QUAN HỆ QUỐC TỊCH
TRÊN THẾ GIỚI.
Trong thời kỳ lịch sử của nhân loại, quan hệ giữa nhà nước với cá nhân được
tồn tại với tư cách là mối quan hệ pháp luật và ở mỗi thời kì phát triển của nhà
nước - pháp luật, mối quan hệ đó biểu hiện theo các hình thức khác nhau. Ở thời
kỳ chiếm hữu nô lệ, chủ nô là người có các quyền do nhà nước ban cho, còn đại
đa số những người lao động là nô lệ không được coi là con người mà đơn giản chỉ
là thứ công cụ biết nói thuộc quyền sở hữu và khai thác của giai cấp chủ nô. Do
vậy, vấn đề quyền lợi của người dân không được đặt ra. Trong thời kỳ này, mối
quan hệ giữa chủ nô và nô lệ chỉ là mối quan hệ một chiều: đó là những nghĩa vụ
mà người nô lệ phải chịu và những quyền lợi mà chủ nô được hưởng.
Tuy nhiên, trong giai đọan này, thuật ngữ quốc tịch đã lần đầu được biết tới
ở hai nhà nước chiếm hữu nô lệ là A-ten và La Mã. Tuy nhiên, quốc tịch cổ đại
5
chỉ là đặc quyền dành cho một nhóm người nhất định, đó là giai cấp chủ nô (Aten) hay những người thuần chủng La Mã (có cha là công dân La Mã) [19, tr.8].
Chỉ tới thời kì phát triển sau này, thuật ngữ quốc tịch mới được ra đời với cách
hiểu như hiện nay.
Sang thời phong kiến địa vị pháp lý của người lao động được cải thiện nhiều
hơn, tuy vậy, nô lệ vẫn chỉ được coi là thần dân của vua chúa với rất ít quyền cá
nhân, không được hưởng quyền chính trị và không được tham gia vào bộ máy nhà
nước. Ở thời kỳ này, dù cho mối quan hệ giữa người dân và vua chúa đã được cải
thiện ít nhiều so với thời kỳ chiếm hữu nô lệ, thế nhưng, vua chúa vẫn ở vị trí cao
hơn so với người lao động, và người dân luôn phải thần phục vua chúa, với những
quan niệm như “ý vua là ý trời”, vua chính là thiên tử - “con trời”. Chính vì vậy
mà nghĩa vụ của người dân vẫn chiếm vị trí đáng kể, quyền lợi của người lao
động không được đảm bảo mà luôn phụ thuộc vào vua chúa.
đã trải qua những cột mốc phát triển quan trọng gắn liền với các văn bản pháp
luật về quốc tịch trong từng thời kỳ. Những quy định pháp luật này chịu sự ảnh
hưởng sâu sắc của từng hoàn cảnh lịch sử, đó là cả một sự tái hiện hình ảnh lịch
sử của đất nước Việt Nam ngay trong từng điều luật. Các quy định pháp luật về
quốc tịch Việt Nam được ghi nhận trong các văn bản pháp luật như Hiến pháp
(Hiến pháp năm 1946, 1980, 1992) (1), Luật dân sự (2), Luật quốc tịch và các văn
bản hướng dẫn thi hành qua bốn thời kì. Sau đây, khóa luận sẽ phân tích quá
trình hình thành cũng như điều kiện và hoàn cảnh lịch sử của các văn bản pháp
luật ghi nhận về quốc tịch Việt Nam.
1.3.1. Giai đoạn từ năm 1945 tới năm 1988.
Trong hai bản Hiến pháp năm 1946 và năm 1959, vấn đề quốc tịch gần như
không được quy định. Trong thời kì này, đất nước ta vẫn còn bị chia cắt làm hai
miền. Vấn đề cần kíp được đặt ra lúc bấy giờ là giải phóng dân tộc, thống nhất
và bảo vệ đất nước trước sự phá hoại của kẻ thù nên trong những quy định của
Hiến pháp năm 1946 và Hiến pháp năm 1959, vấn đề quốc tịch hầu như không
được quy định. Tuy nhiên, ngay sau khi tuyên bố thành lập nước Việt Nam dân
chủ cộng hòa, nhà nước ta đã ban hành ngay các quy định xác định người có
quốc tịch Việt Nam và những vấn đề khác liên quan. Trong giai đoạn này pháp
luật quốc tịch được đặc biệt coi trọng. Chỉ một tháng rưỡi sau khi tuyên bố nền
độc lập của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, sắc lệnh đầu tiên về quốc tịch
1
Hiến pháp năm 1959 không có một quy định nào ghi nhận vấn đề quốc tịch
Luật dân sự đầu tiên được ban hành năm 1995, do vậy khóa luận chỉ đề cập tới những quy định pháp luật dân
sự trong giai đoạn từ năm 1998 trở về sau
2
7
Việt Nam (Sắc lệnh số 53/SL) đã được ban hành nhằm xác định những trường
8
quốc giúp cho cuộc kháng chiến Việt Nam nhằm tranh thủ sự đồng tình ủng hộ
của các tầng lớp người nước ngoài.
Trong giai đoạn này, pháp luật quốc tịch chỉ phát triển trong những năm
đầu từ khi sắc lệnh đầu tiên về quốc tịch được ban hành. Trong thời gian sau đó
(từ năm 1959 tới trước năm 1988) do đất nước ta vẫn còn bị chia cắt thành hai
miền, yêu cầu cấp bách lúc bấy giờ là thống nhất đất nước. Do vậy, vấn đề pháp
luật quốc tịch tạm thời được gác lại. Trong giai đoạn này, chỉ có một văn bản về
việc chuyển đổi thẩm quyền giải quyết các vấn đề liên quan tới quốc tịch được
ban hành (nghị quyết 1043/NQ-TVQH ban hành ngày 08/2/1971)
Pháp luật quốc tịch thời kì này đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử của nó. Tuy
nhiên, mỗi sắc lệnh chỉ quy định một nội dung về quốc tịch mà thiếu sự đồng
bộ. Hơn nữa, nhiều quy định chưa thể hiện được tinh thần nhân đạo cũng như
các chính sách của Nhà nước ta (như nguyên tắc bình đẳng nam nữ, ...). Mặc dù
vậy, các sắc lệnh đã đặt nền móng cho sự phát triển của pháp luật quốc tịch nước
ta và tạo cơ sở cho sự ra đời luật quốc tịch hoàn chỉnh đầu tiên của Việt Nam
hơn 10 năm sau đó.
1.3.2. Giai đoạn từ năm 1988 tới năm 1998
Sau hơn mười năm thực hiện sắc lệnh đầu tiên về quốc tịch, Việt Nam có
những thay đổi đáng kể. Tình hình đã có nhiều biến chuyển, đánh dấu một thời kì
mới trong tiến trình lịch sử của đất nước, đầy rẫy khó khăn cả trong và ngoài nước.
Sau khi thống nhất đất nước, Hiến pháp năm 1980 được ban hành. Đây là
lần đầu tiên vấn đề quốc tịch được ghi nhận trong Hiến pháp. Những quy định
này mang đậm tính chất của thời kì kinh tế kế hoạch hóa tập trung, vấn đề đối
ngoại chỉ được đặt ra trong nội bộ hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa... Pháp
luật về quốc tịch rất chặt chẽ và khắt khe mà biểu hiện tiêu biểu là chính sách
“một quốc tịch” cứng thể hiện qua điều 53 của Hiến pháp năm 1980.
Ngày 30/04/1976, hai miền Nam, Bắc được thống nhất. Tuy nhiên, vẫn còn
tồn tại hậu quả pháp lý về quốc tịch sau hơn 20 năm chia cắt đất nước. Theo kết
“bảo hộ ngoại giao” với cớ là chúng mang quốc tịch của nước đó [33]. Yếu tố an
ninh - chính trị của vấn đề quốc tịch trong bối cảnh như vậy đã góp phần tạo nên
nhu cầu cấp thiết của việc xây dựng một đạo luật quốc tịch mới và hoàn thiện.
Hơn nữa, nhà nước ta là nhà nước của hơn 50 dân tộc khác nhau nên vấn đề dân
tộc cũng như vấn đề xác định quốc tịch Việt Nam khá nhạy cảm và khó khăn.
10
Các sắc lệnh về quốc tịch của thời kì trước đã bắt đầu bộc lộ các bất cập. Đã tới
lúc cần có một luật về quốc tịch hoàn chỉnh và đầy đủ, đáp ứng các nhiệm vụ
của thời kỳ mới. Để đáp ứng những yêu cầu này, Luật quốc tịch năm 1988 đã
chính thức được ban hành thay thế các sắc lệnh trước đó.
Trong thời kì này, nhà nước ta cũng ban hành các văn bản hướng dẫn chi
tiết Luật quốc tịch Việt Nam năm 1988 mà cụ thể là: Nghị định số 37/HĐBT
ngày 5/2/1990 quy định chi tiết thi hành Luật Quốc tịch Việt Nam và nghị định
số 06/1998/NĐ-CP ngày 14/01/1998 sửa đổi một số điều của Nghị định số
37/HĐBT. Tuy nhiên, do Luật năm 1988 còn chưa có điều kiện để điều chỉnh
mọi vấn đề liên quan tới quốc tịch nên nhà nước ta cũng ban hành các văn bản
điều chỉnh vấn đề hồi hương của người Việt Nam định cư ở nước ngoài, đó là:
Quyết định số 59/TTg ngày 04-2-1994 về việc giải quyết cho người Việt Nam
định cư ở nước ngoài hồi hương về Việt Nam và quyết định số 875/TTg ngày
21-11-1996 thay thế quyết định số 59/TTg. Các văn bản này đã góp phần tạo
điều kiện để những quy định của Luật quốc tịch năm 1988 được thực hiện trong
cuộc sống.
1.3.3. Giai đoạn từ năm 1998 tới năm 2008.
Năm 1995, luật dân sự đầu tiên của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam được ban hành. Trong đó, vấn đề quốc tịch được quy định là một quyền
nhân thân cơ bản của con người và là cơ sở để xác định các quyền và nghĩa vụ
công dân mà một cá nhận được hưởng.
Bên cạnh đó, sau 10 năm thực hiện, Luật quốc tịch 1988 bắt đầu bộc lộ một
pháp luật quốc tịch của Luật dân sự năm 1995 cũng với sự ra đời của các đạo
luật quan trọng như Luật Đầu tư năm 2005, Luật Cư trú năm 2005... đã dẫn đến
một số quy định của Luật quốc tịch năm 1998 không còn phù hợp. Thêm vào đó,
còn một số quy định trong Luật có tính khả thi chưa cao, không có cơ chế đảm
bảo áp dụng trong thực tế (nguyên tắc một quốc tịch) đòi hỏi phải được sửa đổi.
Công tác quản lý nhà nước đối với vấn đề quốc tịch chưa thực sự phát huy hiệu
quả, việc quản lý quốc tịch chưa được tập trung về một đầu mối.
Không chỉ có vậy, trong thời kì này, nhà nước ta đã đẩy mạnh thực hiện
chính sách mới trong quan điểm đối xử với người Việt Nam ở nước ngoài (như
quy định về giữ quốc tịch gốc bên cạnh quốc tịch nước sở tại ...) cũng như việc
12
cụ thể hóa chủ trương cải cách thủ tục hành chính trong quy định rút ngắn thời
hạn giải quyết các nội dung liên quan tới quốc tịch (trở lại quốc tịch, ...)
Chính vì vậy, năm 2008, luật quốc tịch sửa đổi đã được ban hành với nhiều
kỳ vọng là sẽ thực sự phát huy hiệu quả trên thực tế để giải quyết triệt để các
vấn đề vướng mắc trong lĩnh vực quốc tịch, tạo sự gắn bó mật thiết hơn nữa giữa
cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam.
Luật Quốc tịch năm 2008 được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Việt Nam khoá XII, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 13 tháng 11 năm 2008 và có
hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2009. Do vậy, tới nay, ngoài Luật quốc
tịch Việt Nam năm 2008, chính phủ vẫn chưa ban hành các văn bản hướng dẫn
thi hành Luật quốc tịch.
Tóm lại, trong hệ thống pháp luật quốc tịch Việt Nam, các sắc lệnh và Luật
Quốc tịch Việt Nam chiếm vị trí tương đối lớn. Nếu như ở Hiến pháp và Luật
dân sự, các quy định về quốc tịch chỉ chiếm một số lượng ít và chỉ mang tính
nguyên tắc chung thì tới Luật quốc tịch, các nội dung liên quan tới quốc tịch
Việt Nam được thể hiện thành các chế định với những điều luật cụ thể. Do vậy,
đầu gián tiếp được ghi nhận trong các quy định về xác định quốc tịch cho trẻ
sơ sinh bị bỏ rơi được tìm thấy trên lãnh thổ Việt Nam (khoản 3 điều thứ 2 sắc
lệnh 53/SL).
Trong pháp luật quốc tịch thời kì sau này (Luật Quốc tịch năm 1988, Luật
Quốc tịch năm 1998), nguyên tắc này được ghi nhận tại điều 1. Tại đây, nó đã
được hoàn thiện và bổ sung thêm chính sách đại đoàn kết dân tộc. Điều đó xuất
phát từ việc nhà nước ta là nhà nước của hơn 50 dân tộc khác nhau. Bên cạnh
quyền bình đẳng về quyền có quốc tịch, chính sách đại đoàn kết dân tộc cũng
được khẳng định và có mối liên hệ chặt chẽ với quyền có quốc tịch
Tại Luật Quốc tịch năm 2008, nguyên tắc này càng được củng cố và hoàn
thiện hơn với việc quy định chặt chẽ, cụ thể các căn cứ, cơ sở dẫn tới trường hợp
một công dân có thể không còn quốc tịch (mất quốc tịch, thôi quốc tịch, bị tước
quốc tịch) để có thể đảm bảo đương sự không bị mất quốc tịch một cách độc
đoán. Quy định này đã đánh dấu một bước phát triển và hoàn thiện của pháp luật
quốc tịch Việt Nam.
Xuất phát từ nguyên tắc nền tảng này, nhà nước ta đã triển khai và thực
14
hiện rất nhiều chính sách khác nhau nhằm đảm bảo quyền có quốc tịch cũng như
sự bình đẳng trong vấn đề ghi nhận, thực hiện quyền lợi này của mỗi cá nhân, ví
dụ như các quy định về giữ quốc tịch của vợ, chồng khi quốc tịch của người kia
thay đổi hay như các quy định nhằm hạn chế tình trạng không quốc tịch... Hiện
nay, số lượng người không quốc tịch Việt Nam thường trú trên lãnh thổ nước ta
là khá lớn: hơn 3000 người có nguyện vọng xin nhập quốc tịch [31]. Với việc
ban hành, thực hiện quy định này, nhà nước ta đã có thể khẳng định và đảm bảo
quyền có quốc tịch của mỗi cá nhân.
1.4.2. Nguyên tắc một quốc tịch:
Đây là một nguyên tắc cơ bản trên thế giới. Tuy nhiên, khác với “quyền
bình đẳng đối với quốc tịch”, nguyên tắc này được quy định không giống nhau
Việt Nam năm 1988: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam chỉ công
nhận công dân Việt Nam có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam”. Tuy nhiên,
quy định này đã tạo nhiều khó khăn trong việc thực hiện trên thực tế, cũng như
không đảm bảo được quyền lợi cho những người Việt Nam định cư ở những
nước không bắt buộc phải bỏ quốc tịch gốc để có quốc tịch nước họ. Trong khi
đó, không có nước nào đứng trên quốc gia khác trong vấn đề quốc tịch, Việt
Nam có thể công nhận một người là công dân nước mình và không thể cấm quốc
gia khác công nhận quốc tịch nước sở tại của người đó
Trong pháp luật quốc tịch thời kì 1998, nhà nước ta đã có quan điểm cởi
mở hơn về nguyên tắc này. Điều đó đã được thể hiện qua sự thay đổi điều 3 Luật
quốc tịch năm 1988 bằng cách bỏ đi từ “chỉ”. Tuy nhiên, như trên đã phân tích,
nguyên tắc này cũng khó được thực hiện trên thực tế do chưa có một cơ chế
kiểm soát, quản lý với những trường hợp công dân Việt Nam định cư ở nước
ngoài.
Trong pháp luật quốc tịch thời kì 2008, nhà nước ta đã thi hành chính sách
một quốc tịch mềm dẻo, một công dân Việt Nam bên cạnh việc có quốc tịch
Việt Nam thì đồng thời trong một số trường hợp còn có thể có quốc tịch của một
nước khác. Đây là một quy định tiến bộ của Luật Quốc tịch năm 2008 khi được
đặt trong bối cảnh trên thế giới hiện nay, số lượng người Việt Nam định cư ở
nước ngoài không phải là ít. Và những người này chỉ thôi quốc tịch Việt Nam
khi quốc gia họ nhập quốc tịch bắt buộc họ phải thôi quốc tịch gốc, còn đa số
các trường hợp đều giữ lại quốc tịch Việt Nam. Trong thời gian vừa qua, ta
không thể phủ nhận vai trò của Việt Kiều đối với việc xây dựng, làm giàu đất
16
nước thông qua các khoản ngoại tệ được gửi về nước,.... Ngoài ra, quốc tịch Việt
Nam còn như một sợi dây tinh thần liên kết họ với quê hương. Nhà nước ta đang
có chính sách khuyến khích những người Việt Nam ở nước ngoài góp phần xây
dựng quê hương đất nước, chính vì vậy, nguyên tắc một quốc tịch mềm dẻo hiện
quy định này đã góp phần hoàn thiện hơn chính sách bảo hộ người Việt Nam ở
nước ngoài, bảo đảm quyền lợi cho công dân Việt Nam, người gốc Việt Nam
sinh sống, học tập tại nước ngoài cũng như thể hiện chính sách của nhà nước ta
đối với người Việt Nam ở nước ngoài.
Trên đây là một số nguyên tắc của pháp luật quốc tịch Việt Nam. Bên cạnh
đó, các nhà lập pháp còn xây dựng, cụ thể hóa rất nhiều chính sách, quan điểm
chỉ đạo khác nhau của Đảng và nhà nước ta trong từng thời kỳ. Hiện nay, vẫn
còn nhiều ý kiến khác nhau trong việc xác định các nguyên tắc nền tảng của
pháp luật quốc tịch Việt Nam. Tuy nhiên, tựu chung lại, phần đông quan điểm
phân tích nền tảng pháp luật quốc tịch nước ta dựa trên ba nguyên tắc trên đây.
Mặc dù trong số chúng, có nguyên tắc không được ghi nhận xuyên suốt quá
trình phát triển của pháp luật quốc tịch nước ta, có nguyên tắc thời kì đầu chưa
được coi trọng ... Tuy nhiên, trong quá trình phát triển của đất nước các chính
sách, quan điểm khác của Đảng và nhà nước ta về quốc tịch đều được xây dựng
dựa trên cơ sở nội dung các nguyên tắc nền tảng này. Do vậy, khóa luận đã phân
tích nền tảng của pháp luật quốc tịch Việt Nam dựa trên ba nguyên tắc trên.
Chương 2
SỰ PHÁT TRIỂN CỦA PHÁP LUẬT QUỐC TỊCH VIỆT
NAM QUA CÁC THỜI KÌ
18
Sau đây, khóa luận sẽ đi phân tích sự phát triển của pháp luật quốc tịch
nước ta thông qua những nội dung chính của Luật quốc tịch trong bốn thời kì
phát triển. Hiện nay, có rất nhiều cách tiếp cận nội dung của pháp luật quốc tịch
Việt Nam. Tuy nhiên, khóa luận sẽ đi tiếp cận trên những nội dung sau:
- Xác lập quốc tịch Việt Nam.
- Thay đổi quốc tịch của người chưa thành niên và con nuôi.
- Mất quốc tịch Việt Nam.
xác lập mối quan hệ pháp lý đặc biệt giữa một cá nhân và nhà nước Việt Nam.
Một người được coi là có quốc tịch Việt Nam khi thuộc một trong những
trường hợp sau đây:
- Do sinh ra.
- Nhập quốc tịch.
- Trở lại quốc tịch.
- Giữ quốc tịch.
- Có quốc tịch theo điều ước quốc tế.
Đây là nhóm quy phạm pháp luật cơ bản và quan trọng xuyên suốt quá
trình phát triển của pháp luật quốc tịch Việt Nam. Tuy nhiên, qua từng thời kì lại
có sự khác nhau giữa các quy định. Điều đó còn tùy thuộc vào điều kiện, hoàn
cảnh của đất nước cũng như các quan điểm, chính sách của nhà nước ta trong
mỗi giai đoạn. Sau đây, khóa luận sẽ đi làm rõ hơn những trường hợp này.
2.1.1. Có quốc tịch Việt Nam do sinh ra
Đây là cách thức phổ biến nhất để một cá nhân có quốc tịch. Theo tập quán
quốc tế, có hai nguyên tắc để xác định quốc tịch cho trẻ em khi sinh ra. Đó là:
quốc tịch của đứa trẻ được xác định theo quốc tịch của cha, mẹ (nguyên tắc
huyết thống - jus sanguinis) hoặc đứa trẻ đó được sinh ra trên lãnh thổ của quốc
gia nào thì có quốc tịch của quốc gia đó (nguyên tắc nơi sinh - jus soli).
Trên thế giới, hầu hết các quốc gia kết hợp cả hai nguyên tắc này với những
mức độ khác nhau để xác định quốc tịch gốc. Là một nước có lịch sử và truyền
thống dân tộc lâu đời, hơn nữa, lại có những đặc thù riêng (chính sách nhân đạo,
số lượng người không quốc tịch trên lãnh thổ nước ta tương đối lớn ...) nên ngay
từ đầu, Việt Nam đã thể hiện rõ chính sách áp dụng kết hợp cả hai nguyên tắc
20
“quyền huyết thống” và nguyên tắc “quyền nơi sinh” làm căn cứ xác định quốc
tịch của trẻ em khi sinh ra, trong đó căn cứ quyền nơi sinh là nguyên tắc chiếm
ưu thế hơn trong việc xác định quốc tịch gốc của cá nhân.
cha, mẹ là người không có quốc tịch thì sẽ được cấp quốc tịch Việt Nam nhằm
đảm bảo quyền có quốc tịch và quyền công dân cho đứa trẻ.
• Giai đoạn từ năm 1988 tới năm 1998
Tại luật đầu tiên của nhà nước ta về quốc tịch - Luật Quốc tịch Việt Nam
năm 1988, đã có bước phát triển hoàn thiện hơn trong việc áp dụng kết hợp hai
nguyên tắc xác định quốc tịch gốc dựa trên chính sách bảo đảm tối đa “quyền có
quốc tịch của trẻ em”.
Khắc phục hạn chế mang tính chất phân biệt đối xử trong việc xác định
quốc tịch theo nguyên tắc quyền huyết thống, luật năm 1988 đã khẳng định
huyết thống của cha cũng như mẹ đều ảnh hưởng như nhau đến quốc tịch của
con. Ngoài ra Luật còn quy định người con vẫn có quốc tịch Việt Nam kể cả
trong trường hợp sinh ra ngoài lãnh thổ Việt Nam nếu cha mẹ là công dân Việt
Nam (theo khoản 1 điều 6 Luật Quốc tịch năm 1988). Theo quy định này,
nguyên tắc quyền huyết thống đã phát triển thêm một bước nữa.
Ngoài ra, pháp luật quốc tịch thời kỳ này đã khắc phục hạn chế của sắc lệnh
53/SL, mà cụ thể là loại trừ trường hợp trẻ em không có quốc tịch khi người mẹ
là công dân Việt Nam còn người cha có quốc tịch nước ngoài.
Bên cạnh việc hoàn thiện nguyên tắc quyền huyết thống, luật năm 1988
cũng phát triển quy định về nguyên tắc quyền nơi sinh. Theo đó, khi trẻ được
sinh ra trên lãnh thổ Việt Nam mà cha mẹ đều là người không quốc tịch thì sẽ có
quốc tịch Việt Nam khi cha mẹ có nơi thường trú trên lãnh thổ nước ta. Bằng
việc bổ sung thêm điều kiện “thường trú”, nguyên tắc jus soli đã được quy định
chặt chẽ hơn nhưng vẫn thể hiện tính nhân đạo của pháp luật quốc tịch nước ta
trong việc xác định quốc tịch cho trẻ em sinh ra trên lãnh thổ Việt Nam.
Ngoài ra, luật quốc tịch năm 1988 còn quy định mới cho cha mẹ quyền
được lựa chọn quốc tịch cho con mình khi có một người là quốc tịch Việt Nam
mà không tính tới yếu tố nơi sinh hay điều kiện về thường trú (khoản 3 điều 6).
Quy định này đã thể hiện được tư tưởng tiến bộ, phát triển trong việc tôn trọng ý
nguyện của cha mẹ về lựa chọn quốc tịch Việt Nam cho trẻ em có cha hoặc mẹ
là công dân Việt Nam, còn người kia là công dân nước ngoài, bất kể con sinh ra
quy phạm xác định quốc tịch gốc của một người đã thể hiện sự kế thừa so với
pháp luật thời kì trước. Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn có một số quy định mới:
23
Trong trường hợp trẻ em khi sinh ra có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam,
còn người kia là công dân nước ngoài thì đứa trẻ chỉ có quốc tịch Việt Nam khi
và chỉ khi cha mẹ có sự thỏa thuận bằng văn bản tại thời điểm đăng kí khai sinh,
nếu cha mẹ không thỏa thuận được việc lựa chọn quốc tịch cho con thì trẻ em đó
có quốc tịch Việt Nam (theo khoản 2 điều 16). Quy định này đã khắc phục
những bất cập của pháp luật quốc tịch trước đó. Bởi vì đứa trẻ sinh ra sẽ không
có quốc tịch của quốc gia nào nếu cha mẹ của đứa trẻ do bất đồng, hoặc nhiều lý
do khác nên không có điều kiện để thỏa thuận quốc tịch Việt Nam cho con. Ví
dụ: Trường hợp người còn lại chết hoặc mất tích thì sẽ không thể đạt được sự
thỏa thuận trong việc lựa chọn quốc tịch cho đứa trẻ. Theo quy định mới của
luật năm 2008, với việc áp dụng kết hợp nguyên tắc “quyền nơi sinh”, các nhà
làm luật đã dự liệu được và loại trừ những hạn chế trên trong pháp luật quốc tịch
Việt Nam thời kì trước đó.
Như vậy, mặc dù đã trải qua quá trình phát triển lâu dài và có sự khác nhau
trong từng nội dung cụ thể; pháp luật quốc tịch Việt Nam vẫn áp dụng chủ yếu
nguyên tắc quyền huyết thống bên cạnh việc kết hợp với nguyên tắc quyền nơi
sinh để xác định quốc tịch gốc của một cá nhân. Việc kết hợp như vậy đã đảm
bảo được quyền có quốc tịch của cá nhân được ghi nhận tại Điều 24 khoản 3
Công ước về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 [18].
2.1.2. Nhập quốc tịch Việt Nam
Bên cạnh việc xác định quốc tịch gốc, “nhập quốc tịch” là một nội dung cơ bản
và xuyên suốt trong pháp luật quốc tịch Việt Nam. Trong xu hướng hội nhập giữa
các quốc gia hiện nay, vấn đề “nhập quốc tịch” càng ngày tỏ rõ vai trò quan trọng.
Nhập quốc tịch Việt Nam (1) là sự kiện pháp lý được xác lập trên cơ sở ý chí
tự nguyện, thể hiện bằng đơn xin nhập quốc tịch của người không có quốc tịch
nhân mặc dù có thể đáp ứng những điều kiện nhất định về độ tuổi nhưng thiểu
năng trí tuệ nên sẽ tạo thành gánh nặng đối với cộng đồng.
- Đủ năng lực hành vi dân sự: Một người được coi là có đầy đủ năng lực
hành vi dân sự khi và chỉ khi họ đủ tuổi thành niên và không bị mất hay hạn chế
năng lực hành vi dân sự. Như vậy, pháp luật đã có thể hoàn toàn loại trừ những
hệ quả pháp lý do trường hợp trên mang lại.
Thứ hai, phải có một thời gian cư trú nhất định trên lãnh thổ nước ta.
Pháp luật quốc tịch nước ta qua các thời kì phát triển đều quy định thời
gian cư trú nhất định đối với người xin nhập quốc tịch. Tuy nhiên, tùy theo từng
25
giai đoạn mà có sự hướng dẫn, giải thích khác nhau về thuật ngữ “cư trú”. Thời
gian cư trú có thể được hiểu là thời gian thường trú hoặc bằng các khoảng thời
gian tạm trú trên lãnh thổ Việt Nam cộng lại. Chính vì có sự khác nhau như vậy
mà đã dẫn tới những khó khăn khi giải thích và áp dụng điều luật này trong thực
tế. Trong lịch sử pháp luật quốc tịch đã có thời kì vấp phải sai lầm này và dẫn
đến những hậu quả pháp lý trong thực tiễn cuộc sống (giai đoạn năm 1988 1998).
Trên thế giới, hầu hết pháp luật của các nước đều sử dụng thuật ngữ
“thường trú”, điều này có thể được hiểu là một người có thể được nhập quốc tịch
của một quốc gia chỉ khi họ cư trú liên tục trên lãnh thổ của nước đó trong một
thời gian nhất định.
Thứ ba, yêu cầu về khả năng ngôn ngữ hay khả năng hòa nhập cộng đồng.
Một cá nhân chỉ có thể thỏa mãn điều kiện này khi người đó biết tiếng Việt
ở một mức độ nhất định đủ để họ có thể hiểu biết lịch sử, văn hóa, xã hội của đất
nước ta và hòa nhập được vào cộng đồng dân cư mới ở mức độ tối thiểu. Tuy
nhiên, thông thường, người xin nhập quốc tịch phải có giấy chứng nhận biết
tiếng Việt. Đây cũng là một quy định còn có nhiều tranh cãi trong pháp luật
quốc tịch Việt Nam nhất là trước Luật quốc tịch năm 2008 và đã gây ra nhiều
vướng mắc và bất cập trong thực tiễn áp dụng.