hoạt động lãnh đạo của Đảng bộ Thành phố, trực tiếp là của Đảng bộ Quận 11 trong lĩnh vực phát triển CN - TTC - Pdf 33

LUẬN VĂN:
Cứu hoạt động lãnh đạo của Đảng bộ Thành
phố, trực tiếp là của Đảng bộ Quận 11 trong
lĩnh vực phát triển CN - TTCN

1


1. Lý do chọn đề tài

Quận 11 là một trong những quận nội thành có vị trí quan trọng về mọi mặt
của Thành phố Hồ Chí Minh. Quận có dân số đông, người dân

lao động cần cù, đội ngũ cán bộ công nhân viên chức đông đảo; Đảng bộ lãnh đạo
năng động, sáng tạo; giàu tiềm năng phát triển kinh tế và sản xuất công nghiệp - tiểu
thủ công nghiệp (CN - TTCN) với nhiều ngành nghề, sản phẩm phong phú đa dạng.
Đây là thế mạnh nổi bật để phát huy nội lực của Quận.

Hơn 20 năm qua, nhất là thời kỳ 10 năm đổi mới (1986 - 1995), dưới sự lãnh
đạo của Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh, Đảng bộ Quận 11 đã vận dụng đường lối
đổi mới của Đảng, chính sách của Nhà nước, các Nghị quyết của Thành ủy sát hợp
với tình hình địa phương, đề ra nhiều chủ trương, biện pháp và đã khơi dậy mọi tiềm
năng, phát huy các thế mạnh nên đã đẩy kinh tế CN - TTCN của Quận phát triển với
những thành tựu to lớn. Thành tựu đó đã góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh
tế của Thành phố trong quá trình triển khai thực hiện đường lối đổi mới của Đảng.
Hoạt động kinh tế của Quận 11 dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng bộ, đã giúp cho
quận trở thành một trong những quận tiêu biểu của Thành phố Hồ Chí Minh về phát
triển kinh tế và sản xuất CN - TTCN.

Do vậy, nghiên cứu hoạt động lãnh đạo của Đảng bộ Thành phố, trực tiếp là
của Đảng bộ Quận 11 trong lĩnh vực phát triển CN - TTCN trên địa bàn Quận 11 là

các chủ trương, biện pháp, sự chỉ đạo của Đảng bộ Quận 11 đối với sự phát triển CN
- TTCN của Quận trong thời kỳ 1986 - 1995; những thành công, hạn chế, ý nghĩa và
bài học, kinh nghiệm về sự lãnh đạo, chỉ đạo phát triển một ngành kinh tế mũi nhọn
của một quận thuộc thành phố lớn có tiềm năng kinh tế hàng đầu trong cả nước.

3


4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu các hoạt động lãnh đạo của Đảng bộ Quận 11 cả
về chủ trương và biện pháp nhằm phát triển CN - TTCN trong giai đoạn lịch sử 1986
- 1995. Sự nghiên cứu, trình bày trong luận văn các hoạt động lãnh đạo kinh tế của
Đảng bộ trước giai đoạn lịch sử đó là nhằm mục đích so sánh làm nổi bật vai trò lãnh
đạo của Đảng bộ và thành tựu kinh tế của Quận trong 10 năm đổi mới.

5. Cơ sở lý luận, nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu

Dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ
nghĩa Mác - Lênin, quan điểm của Đảng ta, luận văn trình bày, phân tích quá trình
lãnh đạo của Đảng bộ Quận 11 trong sự biến đổi của lĩnh vực CN - TTCN Quận 11
theo đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước. Từ đó làm rõ và nêu bật vai trò
lãnh đạo năng động, sáng tạo của Đảng bộ trong lĩnh vực hoạt động kinh tế ở địa
phương.

Nguồn tài liệu chính mà luận văn sử dụng là các Văn kiện của Đại hội Đảng
toàn quốc; các Nghị quyết đại hội và hội nghị Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh; các
Nghị quyết đại hội và hội nghị Đảng bộ Quận 11 từ sau khi miền Nam hoàn toàn giải
phóng, nhất là từ năm 1986 - 1995.



Luận văn đóng góp tư liệu cho việc tuyên truyền giáo dục truyền thống của
Đảng bộ, nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng bộ Quận11 trong thời kỳ 10 năm đổi
mới.

Đề tài là một vấn đề lịch sử Đảng bộ địa phương, nhưng có liên quan mật thiết
với Trung ương và cả nước. Quá trình diễn tiến của vấn đề tuy đã đi qua lịch sử,
nhưng vẫn còn tiếp tục cho đến ngày nay và mãi mãi về sau với sự tồn tại, phát triển

5


đi lên của nền kinh tế nước nhà. Vì vậy, luận văn mới chỉ là kết quả nghiên cứu bước
đầu, và có những hạn chế nhất định.

7. Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của
luận văn gồm 3 chương, 8 tiết.

Chương 1

TìNH HìNH, ĐặC ĐIểM QUậN 11 DƯớI Sự LãNH ĐạO

CủA ĐảNG SAU 10 NĂM thành phố GIảI PHóNG

Tìm hiểu, nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng bộ Quận 11 về phát triển CN TTCN thời kỳ 1986 - 1995, cần thiết phải đề cập một số tình hình, đặc điểm của
Quận sau 10 năm kể từ ngày Thành phố Hồ Chí Minh được giải phóng trên các mặt vị
trí địa lý, tổ chức hành chính, trình độ kinh tế, cộng đồng dân cư để thấy rõ những
khó khăn, thuận lợi cơ bản của Quận.

Mật độ dân số Quận 11 khá đông đúc: 51.044/km2; số dân trong độ tuổi lao
động đạt tới 150.858 người chiếm 59,7% số dân toàn Quận, có khả năng góp phần đáp
ứng nhu cầu về nguồn lực lao động cho quận và thành phố.

7


Xét về các yếu tố nguồn gốc cư dân, nghề nghiệp, địa hình và trình độ phát
triển kinh tế, Quận 11 được chia thành 4 khu dân cư cư trú tập trung có những đặc
điểm khác nhau.

Khu vực 1: Khu vực được đô thị hóa nhanh nhất tập trung dân cư bao quanh
chợ Phó Cơ Điều (gồm các phường 4, 6, 7 ngày nay). Đây là khu cư trú sớm nhất của
đồng bào từ các nơi tập trung về thành phố. Dần dần về sau khi đô thị mở rộng, các
ngành nghề phát triển, nhiều xưởng thủ công ra đời ở đây thì số lượng dân cư khu này
tăng lên nhanh chóng.

Đặc biệt nơi đây đã hình thành cơ sở Đảng, các tổ chức cách mạng của quần
chúng và các phong trào đấu tranh cách mạng của quần chúng sớm phát triển sôi nổi
và mạnh mẽ nhất.

Khu vực 2: Khu vực tập trung dân cư ở phường Phú Thọ cũ và quanh nghĩa
địa Quảng Đông (gồm có các phường 8, 11, 12, 13 ngày nay) với mật độ dân cư rải
rộng tương đối đều trên toàn địa bàn. Khu vực này về địa giới so với qui định trên
bàn đồ thời Pháp thuộc tới nay thì tương đối ít thay đổi nhất. Đến ngày nay, dấu vết
cổ xưa vẫn còn tồn tại trên sự phân bổ đường sá, kiến trúc nhà cửa, nghĩa địa và các
chùa chiền.

Khu vực 3: Là khu vực đồn cây Mai, thuộc xóm Phú Giáo cũ (gồm các
phường 2, 16 ngày nay). Đây là vùng cửa ngõ vào Thành phố tập trung bến xe, người

lãnh đạo của Đảng ta. Đại bộ phận đồng bào người Hoa là những người lao động từng
gắn bó mật thiết với nhân dân lao động Quận 11. Đồng bào người Hoa đã từng đứng
lên chiến đấu dưới ngọn cờ yêu nước chống Pháp của nhân dân ta; tích cực chống đế
quốc, phong kiến, đoàn kết chặt chẽ và hòa hợp mối quan hệ tình cảm thân thiết với
người Việt từ lâu đời và đùm bọc lẫn nhau với đồng bào lao động người Việt suốt từ
năm 1930 đến Cách mạng tháng Tám năm 1945 và trong thời kỳ kháng chiến chống
Pháp, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam.

9


Sau năm 1954 dưới chế độ Mỹ - Diệm, tại Quận 11 bố trí thêm các khu dân cư
như: Phú Bình cho đồng bào miền Bắc di cư vào ở. Khu cư xá Lữ Gia, Lê Đại Hành
cho sĩ quan, công chức chế độ cũ về sống.

Trước năm 1958, Quận 11 thuộc địa phận của Quận 4 và Quận 7. Những năm
này tại các khu vực thuộc phường 12, 13 ngày nay đã xây dựng một số nhà gạch.
Đường Lục Tỉnh được nâng cấp trải nhựa, các khu vực khác như đường Lò Siêu,
đường A6 Xóm Đất vẫn còn là nhà lá đơn sơ. Các khu vực thuộc phường 1, 3, 5, 14
ngày nay, trước kia là vùng đất đầm lầy. Sau đó nhân dân khai phá làm thành những
khu vực trồng rau cải với những con rạch chạy dọc theo đường Dương Công Trừng.
Khu vực thuộc phường 5 và phường 14 ngày nay, trước kia là vùng trồng hoa lài, sở
rác và sân vận động. Năm 1964, linh mục Phạm Ngọc Biểu lập giáo xứ Phú Bình, sửa
sang các trại gia binh thành phố sá để bán lại cho những người lao động làm nghề dệt
vải, thuộc da, thủy tinh.

Năm 1959 Quận 11 thuộc về một phần đất của Quận 5 và Quận 6, lúc đó các
con đường lớn và nhà cửa của đồng bào được xây dựng lại, dân cư tập trung đông đảo
dọc các con đường lớn như đường Phú Thọ, đường Lò Siêu, đường A6, đường Trần
Quốc Toản, đường Quân Sự, đường Dương Công Trừng, đường Trần Hoàng Quân,


Chiến tranh đã chấm dứt, hòa bình được lập lại, nhân dân Thành phố trong đó
có Quận 11 phấn khởi bắt tay vào xây dựng cuộc sống mới. Hầu hết các cơ sở vật
chất kỹ thuật của ngành công nghiệp vẫn được bảo toàn nguyên vẹn sau chiến tranh,
đây là tài sản quan trọng mà Thành phố tiếp thu được để phát triển. Song chiến tranh
và chủ nghĩa thực dân mới để lại cho Thành phố những hậu quả nghiêm trọng. Thành
phố đã có một nền công nghiệp nhưng chủ yếu là công nghiệp chế biến, dựa vào
nguyên liệu, vật liệu nước ngoài, một bộ phận khá đông dân cư sống dựa vào chiến
tranh và "viện trợ" với mức sống vượt quá khả năng của nền sản xuất trong nước.

Trong thời kỳ 1976 - 1980, Đảng bộ Thành phố chủ trương cải tạo nền kinh tế
theo hướng XHCN nhưng phải đảm bảo cho sản xuất phát triển và không ngừng cải
12


thiện đời sống nhân dân. Cùng với cải tạo là phân bố lại lực lượng lao động sản xuất,
tiến hành sắp xếp, tổ chức lại các ngành sản xuất, lưu thông phân phối theo hướng
sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, phát triển mạnh lực lượng kinh tế quốc doanh, công tư
hợp doanh và hợp tác xã làm cho lực lượng này nhanh chóng chiếm ưu thế trong sản
xuất và trong lưu thông phân phối. Thành phố phấn đấu đến cuối năm 1980 các thành
phần kinh tế quốc doanh, công tư hợp doanh, hợp tác xã thực sự đóng vai trò chủ đạo,
hướng dẫn các thành phần kinh tế khác, thương nghiệp xã hội chủ nghĩa phải nắm
trọn buôn bán và chiếm phần lớn bán lẻ, có khả năng chi phối, điều khiển được thị
trường và chuyển phần lớn tiểu thương sang sản xuất.

Sau khi các lực lượng cách mạng đập tan bộ máy thống trị của bọn ngụy
quyền, chính quyền cách mạng được thiết lập dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ Quận đã
nhanh chóng tổ chức, sản xuất, xây dựng đời sống kinh tế - xã hội. Nhân dân Quận 11
phấn khởi bắt tay vào công cuộc khôi phục và phát triển sản xuất, ổn định đời sống,
giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.

dựng...), nhưng đa số thiếu nguyên liệu, công nhân không có việc làm.

Trước giải phóng, các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp chỉ hoạt động 40%;
năm 1974 có hơn 300 máy dệt ở phường Phú Hòa, hơn 100 máy dệt ở phường Phú
Thạnh phải xếp lại. Toàn Quận có khoảng 34.000 hộ trong đó có 12.000 sống trực
tiếp bằng lao động sản xuất, 11.000 công thương nghiệp tư bản tư doanh, 9000 sống
bằng các ngành không cơ bản, 2.000 hộ hành chính sự nghiệp. Tổng số dân trong
Quận có trên 237.000 người, có hơn 1/5 dân số phi sản xuất, có khoảng 22.000 người
thất nghiệp.

Chế độ cũ đã để lại trên địa bàn Quận một nền văn hóa, xã hội với nhiều tệ nạn
xã hội: du đãng, trộm cắp và các tệ nạn xã hội khác. Trên một diện tích hẹp, đã có
trên 230 quán cóc, bia ôm, hai nghĩa địa Quảng Đông - Phú Thọ là nơi tụ tập của bọn
tội phạm hình sự; có gần 200 người bị bệnh cùi sống lay lắt tại đây, những tập tục lạc
hậu, mê tín dị đoan... đã trở thành tệ nạn xã hội phổ biến tại đây.

14


Quận ủy Quận 11 đã chú ý trước tiên tiến hành sắp xếp tổ chức lại các ngành
CN - TTCN, khôi phục lại sản xuất với bước đi và hình thức thích hợp, khuyến khích,
khôi phục và quản lý chắc các ngành nghề truyền thống của Quận. Trong 2 năm 1977
- 1978, Quận đã tăng giá trị sản lượng tiểu thủ công nghiệp lên 25 triệu đồng thu hút
trên 7.500 lao động.

Đầu năm 1978, Quận 11 thành lập được 120 tổ sản xuất tập thể, thu hút được
4.869 lao động, xây dựng được 3 hợp tác xã sản xuất với 385 xã viên, hướng dẫn và
tổ chức sản xuất 365 cơ sở với 7.786 lao động (chiếm 47% lao động). Quận còn chủ
trương vận động các nhà trung, tiểu thương chuyển sang sản xuất, thành lập các xí
nghiệp hoạt động dưới sự hướng dẫn kiểm soát của Nhà nước, nhiều ngành nghề mới

nghiệp với một cơ sở hợp lý. Công nghiệp đó lại chưa được đảm bảo về nguyên liệu
và năng lượng. Cơ cấu kinh tế của Thành phố đã què quặt lại bị tâm lý thói quen sản
xuất nhỏ, xé lẻ, phân tán, chia cắt...; cộng thêm sự non kém trong quản lý kinh tế,
biểu hiện nóng vội, tính toán giản đơn trong cải tạo xã hội chủ nghĩa... làm cho sự
mất cân đối đã gay gắt, càng gay gắt hơn. Tất cả tình hình đó làm ảnh hưởng đến toàn
xã hội mà nhất là khu vực làm công ăn lương. Nhiều xí nghiệp công nhân phải nghỉ
việc và hưởng 70% lương nhà nước. Trước tình hình gay gắt đó, Nghị quyết Hội nghị
Ban chấp hành Trung ương Đảng lần 6 (khóa IV) tháng 9 năm 1979 đến với Đảng bộ
và nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Đối với Đảng bộ và nhân dân Quận 11, Nghị
quyết đó mở ra những hướng mới để "bung ra" cho kinh tế phát triển. Chính sự
chuyển hướng chính sách kinh tế từ Trung ương đã vạch ra phương hướng đúng giải
phóng sức sản xuất, xoay chuyển tình thế, đưa nền kinh tế đi lên, ổn định lại trật tự
kinh tế có lợi cho chủ nghĩa xã hội.

Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quận 11 lần thứ 1, vận dụng tinh thần
Nghị quyết 6 của Trung ương (khóa IV), Đảng bộ Quận đã có biện pháp tổ chức lại
sản xuất, làm cho sản xuất phát triển, đời sống vật chất của nhân dân được ổn định.
Đảng bộ coi đây là nhiệm vụ trung tâm cơ bản nhất. Vì vậy, đến cuối năm 1979,
Quận đã cải tạo được 24 xí nghiệp tư nhân (qui mô nhỏ) thành xí nghiệp quốc doanh
do Quận quản lý, xây dựng được 114 hợp tác xã sản xuất và 249 tổ sản xuất. Đến

16


năm 1980 toàn Quận có 3.543 cơ sở sản xuất trong đó có 252 tổ sản xuất, 3.250 hộ tư
nhân và cá thể với 22.982 lao động (lao động khu vực tập thể chiếm tỷ lệ 50%), giá trị
hàng hóa khu vực tập thể không ngừng tăng lên. Trong năm 1979 đạt được 128 triệu
đồng, hàng xuất khẩu đạt 78% kế hoạch. Quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa đã từng
bước được xây dựng và phát huy tác dụng, từng bước quản lý chặt chẽ lực lượng lao
động, máy móc, vật tư hàng hóa; từng bước đưa đưa sản xuất đi vào kế hoạch và hoạch



xuất, thường xuyên bám sát kiểm tra, thực hiện kế hoạch của cơ sở. Đảng bộ và chính
quyền quận đã quan tâm tạo điều kiện nhất định về vật chất (điện - vật tư), xây dựng
khu vực sản xuất quốc doanh và tập thể trong đó sáng tạo ra mô hình xí nghiệp hợp
doanh để tận dụng được những thế mạnh vào sản xuất là một nỗ lực đáng kể. Việc ưu
tiên về vốn và mặt bằng cho việc sản xuất ra các mặt hàng xuất khẩu, phát huy tính
năng động nhạy bén của cơ sở sản xuất và người lao động đã tạo sự chuyển biến lớn
trong hoạt động sản xuất, đặc biệt trong lĩnh vực sản xuất tiểu thủ công nghiệp. Chính
những thay đổi đó mà những tiềm năng và óc sáng tạo của người lao động ở Quận 11
được khơi dậy. Trong 3 năm 1983 - 1985, tiểu thủ công nghiệp ở Quận 11 đã phát
triển mạnh. Sản phẩm của tiểu thủ công nghiệp không chỉ đáp ứng được nhu cầu của
Thành phố mà còn cung cấp cho nhu cầu xuất khẩu. Tổng số vốn tiểu thủ công nghiệp
tăng từ 30 - 35% (so với năm 1980) số lượng ngành nghề và chủng loại mặt hàng tăng
nhanh, nhiều ngành nghề truyền thống được khôi phục, nhiều ngành nghề mới được
xuất hiện do yêu cầu của tiêu dùng và xuất khẩu.

Sự phát triển của tiểu thủ công nghiệp Quận 11 đã góp phần tạo ra nhiều mặt hàng
về kinh tế, giải quyết công ăn việc làm cho hàng nghìn người lao động, tạo điều kiện cải
thiện đời sống chung cho xã hội, củng cố thêm tính ưu việt của nền kinh tế xã hội chủ
nghĩa, đồng thời trong quá trình phát triển đó cũng làm tăng thêm vị trí chủ đạo của kinh
tế quốc doanh trong Quận.

Trong mười năm sau giải phóng, dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng,
Thành ủy, Đảng bộ và nhân dân Quận 11 đã đạt được những thành tựu cơ bản sau:

- Thành tựu lớn nhất đạt được trước hết là duy trì phát triển được sản xuất CN
- TTCN trên địa bàn Quận với nhịp độ ngày càng tăng. Việc cải tạo xã hội chủ nghĩa
đối với nền sản xuất nhỏ phân tán ngày càng được xác định cùng với việc phát triển
sản xuất, quan hệ sản xuất mới từng bước được xây dựng. Công tác cải tạo xã hội chủ

đầu tư cho hợp lý. Nhìn chung tình hình sản xuất ở Quận 11 thời kỳ 1975 - 1985 là
chưa ổn định, thiếu vững chắc, vẫn chưa xác định rõ ngành nào là ngành mũi nhọn.
Do chạy theo chỉ tiêu kế hoạch và số lượng đơn thuần nên nhiều mặt hàng sản xuất ra
23


kém chất lượng. Mặt khác, do bị động về thị trường tiêu thụ cả trong nước và ngoài
nước, nên cũng không kích thích được sản xuất tiểu thủ công nghiệp phát triển.

- Trong việc cải tạo quan hệ sản xuất, sau nhiều năm nỗ lực, Quận 11 đã xây
dựng được một số hợp tác xã và tổ sản xuất. Hình thức tổ chức sản xuất này có làm
cho sản phẩm gia tăng, nhưng chất lượng sản phẩm chưa tốt. Công tác cải tạo chưa
vững chắc, việc đầu tư xây dựng, phát triển các cơ sở quốc doanh thiếu được quan
tâm. Hiệu quả kinh tế khu vực này còn thấp. Tình hình sản xuất chưa ổn định, do còn
lúng túng trong phương hướng sản xuất, trình độ quản lý còn yếu. Vì vậy, kinh tế
quốc doanh chưa xác lập được vai trò chủ đạo.

Trong lĩnh vực sản xuất tập thể, còn một số cơ sở trá hình của tư nhân dưới
dạng "đoàn kết sản xuất". Do tư tưởng nóng vội, các nguyên tắc tự nguyện, cùng có
lợi và quản lý dân chủ trong xây dựng hợp tác xã bị vi phạm, không được chấp hành
nghiêm chỉnh.

Trong cách nghĩ, cách làm và nhận thức của cán bộ, đảng viên chưa đánh giá
hết tình hình phức tạp của cuộc đấu tranh giữa hai con đường xã hội chủ nghĩa và tư
bản chủ nghĩa, chưa nhận thức sâu sắc mối quan hệ giữa cải tạo và xây dựng; chưa
thúc đẩy sản xuất phát triển, đồng thời gắn liền với cuộc đấu tranh chống kiểu chiến
tranh phá hoại nhiều mặt của bọn phản cách mạng. Trong lãnh đạo và quản lý kinh tế
có hiện tượng buông lỏng chuyên chính vô sản trong mặt trận lưu thông phân phối
trong một thời gian dài, đời sống của nhân dân có được cải thiện một bước nhưng vẫn
còn nhiều khó khăn. Việc phát triển các cơ sở vật chất phục vụ cho đời sống tinh thần

Đảng đã đánh giá: "Sản xuất tuy có tăng, nhưng tăng chậm so với khả năng sẵn có và
công sức bỏ ra... hiệu quả sản xuất và đầu tư thấp, các xí nghiệp nói chung chỉ sử
dụng được khoảng một nửa công suất thiết kế..., lưu thông không thông suốt, phân
phối rối ren, vật giá tăng nhanh, đang tác động tiêu cực đến sản xuất, đời sống và xã
hội; những mất cân đối lớn trong nền kinh tế... chậm được thu hẹp, có mặt còn gay

25


Trích đoạn Nhận thức đúng vai trò của sản xuất CN-TTCN trên địa bàn Quận với nhiều thành phần khác nhau để có chủ trương, biện pháp phát triển phù hợp Trong các đề án, chiến lược của Quận cũng như khi phê duyệt các dự án phát triển sản xuất CN TTCN trên địa bàn Quận cần phải chú ý tới các vấn đề mô
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status