Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Văn Duy
CHƯƠNG MỞ ĐẦU
GIỚI THIỆU CHUNG
1. Sự phát triển của mạng thông tin máy tính và ứng dụng
Trong xu thế toàn cầu hoá hiện nay, máy tính và các hệ thống mạng
thông tin máy tính ngày càng được sử dụng rộng rãi trong hầu hết các lĩnh
vực kinh tế, văn hoá và xã hội. Các ứng dụng phong phú của mạng máy
tính có thể kể đến ở đây là:
• Sử dụng chung tài nguyên như máy in Laser, máy in nhanh, ổ đĩa
cứng với dung lượng lớn (hàng chục đến hàng trăm GigaByte)
trong tự động hoá văn phòng; sử dụng chung tài nguyên tính toán
chính là các máy PC có công suất ngày càng lớn trong mạng cục
bộ đối với các tính toán khoa học.
• Truy nhập từ xa đối với các hệ thống tính toán có công suất lớn
hoặc các mạng cục bộ với các dịch vụ thông tin giá trị gia tăng
phong phú.
• Các hệ thống thông tin tài chính, ngân hàng cho phép thanh toán
và kiểm tra tài khoản trên phạm vi toàn cầu.
• Các hệ thống thông tin dịch vụ liên quốc gia như đăng ký và đặt
chỗ khách sạn, đăng ký và thanh toán vé máy bay, vé tầu
hoả,.v.v..
• Các hệ thống quản lý như hệ thống thông tin thư viện, hệ thống
phục vụ cho công tác quản lý đào tạo trong các trường đại
học,.v.v..
• Các hệ thống thông tin xã hội công cộng.
Những yếu tố thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng của máy tính và
mạng thông tin máy tính, đó là:
6
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Văn Duy
• Những tiến bộ đáng kể của công nghiệp vi điện tử, cho phép sản
xuất các linh kiện điện tử (các bộ vi xử lý, bộ nhớ, các vi mạch
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Văn Duy
2. Nội dung của luận văn
Dựa vào nền tảng của sự phát triển công nghệ mạng thông tin máy
tính, một phần ứng dụng để phát triển môi trường mạng trong bài luận văn
tốt nghiệp của tôi là “Truy nhập cơ sở dữ liệu trên mạng trong môi trường
mạng Internet và Intranet”.
Trong bài luận văn gồm bốn chương và một phụ lục có cấu trúc như
sau:
Chương mở đầu: Giới thiệu chung.
Chương I: Khái niệm cơ sở dữ liệu trong môi trường Client/Server.
Chương II: Thiết kế bài toán thực tế.
Chương III: Mạng máy tính và ứng dụng công nghệ mạng đối với bài
toán thực tế.
Chương IV: Kết luận.
Phụ lục: Mã nguồn của chương trình.
Đề tài của luận văn là vấn đề mới đối với sinh viên và do những hạn
chế nhất định về thời gian, chắc rằng luận văn không thể tránh khỏi có
những thiếu sót. Rất mong được sự chỉ bảo của các thầy cô giáo và góp ý
của các bạn để tôi có thể hoàn thiện về mặt kiến thức để tiếp tục nghiên cứu
phát triển sau này.
8
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Văn Duy
CHƯƠNG I
KHÁI NIỆM CƠ SỞ DỮ LIỆU
TRONG MÔI TRƯỜNG CLIENT/SERVER
Trước khi nêu các khái niệm cơ sở dữ liệu trong môi trường
Client/Server ta nêu khái niệm Client, Server, Client/Server.
Khái niệm về thành phần Client: phần mềm chịu tránh nhiệm thu
nhận yêu cầu của người sử dụng, xử lý sơ bộ và chuyển cho Server dưới
một dạng thích hợp. Nó cũng làm nhiệm vụ nhận kết quả từ Server gửi đến
• Các thành phần của quá trình ứng dụng.
• Thành phần phần mềm cơ sở dữ liệu.
• Cơ sở dữ liệu.
1.1. Cấu hình cơ sở dữ liệu Client/Server
Các mô hình xử lý cơ sở dữ liệu khác nhau tuỳ thuộc vào nơi đặt các
thể hiện của ba phạm trù thành phần trên. Phần này lần lượt xét năm mô
hình kiến trúc; tất cả đều dựa trên cấu hình phân tán truy nhập dữ liệu của
tính toán Client/Server:
• Mô hình cơ sở dữ liệu tập trung.
• Mô hình cơ sở dữ liệu dùng máy chủ file.
• Mô hình xử lý lấy dữ liệu từ cơ sở dữ liệu.
• Mô hình cơ sở dữ liệu Client/Server.
• Mô hình cơ sở dữ liệu phân tán.
Năm mô hình này có thể dùng hỗn hợp để tạo nên cấu hình ứng dụng
cơ sở dữ liệu đa dạng.
1.1.1. Mô hình cơ sở dữ liệu tập trung
Trong mô hình tập trung, các thành phần ứng dụng, phần mềm cơ sở
dữ liệu và bản thân cơ sở dữ liệu đều trên cùng bộ xử lý.
10
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Văn Duy
Chẳng hạn người dùng máy cá nhân có thể chạy chương trình ứng
dụng với phần mềm ORACLE để truy nhập cơ sở dữ liệu trên đĩa cứng
trong máy. Do các thành phần ứng dụng, phần mềm cơ sở dữ liệu và cơ sở
dữ liệu trên cùng máy, ứng dụng này phù hợp với mô hình tập trung.
Nhiều quá trình xử lý thông tin của các tổ chức lớn vẫn theo mô hình
xử lý tập trung, chẳng hạn bộ xử lý mainframe chạy phần mềm IMS hay
DB2 của IBM có thể cho phép các trạm đầu cuối khai thác với độ phân tán
rộng. Tuy nhiên trong nhiều hệ thống như vậy, cả ba thành phần của ứng
dụng cơ sở dữ liệu khai thác cùng trên mainframe.
1.1.2. Mô hình cơ sở dữ liệu dùng máy chủ file
Ứng dụng
Mạng truyền thông
Server
Cơ sở dữ liệu
Phần mềm cơ sở dữ liệu
Hình 2. Mô hình cơ sở dữ liệu máy chủ file.
Ứng dụng
Mạng truyền thông
Máy Server
Cơ sở dữ liệu
Phần mềm cơ sở dữ liệu
Cơ sở dữ liệu
Ứng dụng
Phần mềm cơ sở dữ liệu
Hình 3. Mô hình rút dữ liệu.
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Văn Duy
Với mô hình này người ta có các cơ sở dữ liệu trên các máy nối
mạng. Một máy dùng phần mềm cơ sở dữ liệu để truy nhập máy kia và rút
dữ liệu cần thiết. Kết quả chuyển về máy yêu cầu, trên đĩa cứng của máy
này. Người dùng sử dụng bản sao tại chỗ của dữ liệu.
Bằng tiếp cận này, người dùng cần biết nơi cất dữ liệu và cách truy
nhập cơ sở dữ liệu ở xa, cũng như bảo trì cơ sở dữ liệu. Phần mềm ứng
dụng phụ trợ cần đặt trên cả hai hệ thống tính toán để truy nhập dữ liệu và
chuyển dữ liệu giữa hai hệ thống. Tuy nhiên phần mềm cơ sở dữ liệu chạy
trên hai máy không cần báo trước những truy nhập từ xa, do hai máy hoạt
động độc lập.
1.1.4. Mô hình cơ sở dữ liệu Client/Server
Trong mô hình cơ sở dữ liệu Client/Server thực sự mô tả trong hình
vẽ, cơ sở dữ liệu đặt trên một máy tính; các máy khác chạy các thành phần
xử lí ứng dụng. Nhưng phần mềm cơ sở dữ liệu được tách ra trên các máy
phía sau, tuyến sau:
(a) Phần mềm tuyến trước: Mô hình cơ sở dữ liệu Client/Server
thường dùng phần mềm gọi là phần mềm làm trước, phần mềm làm sau.
Phần mềm tuyến trước đặc trưng ở chỗ chạy trên máy cá nhân hay trạm
làm việc tại chỗ và đáp ứng nhu cầu tính toán cho các cá nhân khác. Điển
hình là phần mềm này giữ vai trò Client trong ứng dụng cơ sở dữ liệu
Client/Server và thực hiện chức năng hướng về nhu cầu người dùng. Nhìn
chung phần mềm tuyến trước thuộc về một trong những phạm trù sau:
• Phần mềm cơ sở dữ liệu cho người dùng.
• Phần mềm lập báo cáo và hỏi đơn giản.
• Phần mềm phân tích dữ liệu.
• Các công cụ phát triển ứng dụng.
• Các công cụ quản trị cơ sở dữ liệu.
14
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Văn Duy
(b) Phần mềm tuyến sau: Phần mềm này gồm phần mềm cơ sở dữ
liệu Client/Server và phần mềm mạng chạy trên máy tính dùng làm máy
Server cơ sở dữ liệu.
1.1.5. Mô hình cơ sở dữ liệu phân tán
Mô hình máy chủ file và mô hình cơ sở dữ liệu Client/Server đều giả
thiết cơ sở dữ liệu đặt trên một bộ xử lý và chương trình ứng dụng truy
nhập cơ sở dữ liệu được đặt trên bộ xử lý khác. Mô hình phân tán thực sự
giả thiết bản thân cơ sở dữ liệu nằm trên nhiều máy, tức là nhiều hệ thống
xử lí.
Phần tiếp theo sẽ mô tả các cơ chế dùng trong hệ thống cơ sở dữ liệu
phân tán. Rồi sẽ là các mô hình kiến trúc khác nhau để xây dựng môi
trường cơ sở dữ liệu phân tán.
1.2. Cơ chế phân tán dữ liệu
15
Ứng dụng
• Tất cả các bảng đối với bất kỳ cơ sở dữ liệu nào cũng có thể ghi ở
một chỗ; cơ sở dữ liệu khác nhau ghi tại nơi khác nhau. Tất cả các
cơ sở dữ liệu có thể được xử lí bằng cùng phần mềm cơ sở dữ
liệu.
• Các bảng khác nhau của cùng một cơ sở dữ liệu có thể được ghi
tại nhiều nơi khác nhau.
• Các phần tử dữ liệu tạo nên bảng quan hệ có thể được phân tách,
hoặc theo dòng hoặc theo cột.
Người ta dễ dàng phát hiện ra phần mềm cơ sở dữ liệu tại những nơi
đặt dữ liệu. Bản thân phần mềm cơ sở dữ liệu có thể lưu trữ tất cả thông tin
liên quan đến vị trí của dữ liệu, hoặc người ta dùng dịch vụ thư mục toàn
16
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Văn Duy
mạng để giúp phần mềm cơ sở dữ liệu định vị những phần khác nhau của
cơ sở dữ liệu.
1.2.3. Bảo sao dữ liệu và trích dữ liệu
Với tiếp cận phân đoạn hay tập trung, không có một bản sao dữ liệu
nào trong cơ sở dữ liệu. Mỗi dữ liệu được ghi chỉ ở một nơi. Hai tiếp cận
phụ dùng để tạo nên nhiều bản sao của toàn bộ hay một phần dữ liệu được
dùng dưới dạng kĩ thuật sau:
• Trích dữ liệu. Bản sao cơ sở dữ liệu được gọi là trích (extract) khi
bản sao được dùng với phép đọc. Các giá trị phần tử dữ liệu trích
ra không phục vụ cho mục đích cập nhật.
• Bảo sao dữ liệu. Bản sao cơ sở dữ liệu được gọi là sao (replica)
khi giá trị phần tử dữ liệu sao chép dùng được cho mục đích cập
nhật. Khi đó giá trị mới sẽ được cập nhật trong toàn cơ sở dữ liệu,
tức trên cả bản sao khác.
Nhờ kĩ thuật trích và sao dữ liệu, các giá trị dữ liệu của cơ sở dữ liệu
được ghi tại nhiều nơi khác nhau; người ta có thể nâng tính sẵn sàng, giảm
tỉ lệ mất dữ liệu do sai sót và tăng hiệu suất. Tuy nhiên đó lại là nguy cơ
(secondary replica). Phép toán cập nhật cơ sở dữ liệu được coi là hoàn
thành khi mà bản sao chính đã được cập nhật. Thành phần phần mềm cơ sở
dữ liệu ứng với bản sao chính có trách nhiệm truyền tất cả những cập nhật
tới các bản sao phụ sau một khoảng thời gian.
Lược đồ khác dùng hàm hội nhập (convergence funtion) để đồng bộ
hoá bản sao của cơ sở dữ liệu và khẳng định lại tại cơ sở dữ liệu chính.
Hàm hội nhập là hàm phân tán, có các thành phần chạy trên các máy lưu
bản sao. Hàm này có thể chạy thường kì hay đột xuất tuỳ theo yêu cầu hội
nhập trong cơ sở dữ liệu cụ thể.
Phần mềm cơ sở dữ liệu có thể đảm bảo các cơ chế đồng bộ hoá đa
dạng. Người thiết kế cơ sở dữ liệu hay quản trị cơ sở dữ liệu có thể xác
định cơ chế đồng bộ dùng trên cơ sở dữ liệu hay trên vài bản sao. Tất nhiên
dù với hàm đồng bộ hoá nào, không cơ sở dữ liệu phân tán nào đạt được
hoàn toàn đồng bộ tại mọi thời điểm.
1.3. Cập nhật cơ sở dữ liệu có bản sao
Khi tất cả các phần của cơ sở dữ liệu có bản sao thì cơ chế dùng để
hội nhập các bản sao có thể hạn chế theo kiểu cập nhật áp dụng với cơ sở
dữ liệu. Trong môi trường có nhiều bản sao, loại cập nhật đơn giản nhất đối
với hàm hội nhập có các đặc tính sau:
18
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Văn Duy
• Toàn bộ. Cập nhật được gọi là toàn bộ khi nó dùng để bổ sung
phần tử dữ liệu mà không để ý đến bất kỳ cập nhật đã thực hiện
với cập nhật này.
• Như cũ. Cập nhật có tính chất như cũ (idempotent) gây cùng một
tác dụng trên cơ sở dữ liệu không lệ thuộc vào nhiều lần áp dụng.
• Giao hoán. Một dãy cập nhật là giao hoán nếu kết quả không phụ
thuộc vào thứ tự áp dụng từng phép cập nhật.
Đặc tính cập nhật như cũ và toàn bộ được thể hiện qua một số nhất
định các kiểu phép toán. Chẳng hạn thay thế giá trị phần tử dữ liệu cũ bằng
phân tán với việc truy nhập dữ liệu. Với tiếp cận phân đoạn, các phần của
dữ liệu được lưu tại nhiều nơi để tăng hiệu quả sử dụng. Một đích quan
trọng của phần mềm cơ sở dữ liệu phân tán là đảm bảo chương trình người
dùng độc lập với vị trí của dữ liệu.
Phần tiếp sau đây sẽ xét các kiến trúc khác nhau để phát triển tiện
nghi khi truy nhập cơ sở dữ liệu từ xa và truy nhập cơ sở dữ liệu phân tán
theo phần mềm cơ sở dữ liệu.
2. Kiến trúc phần mềm cơ sở dữ liệu phân tán
Thực hiện hệ thống cơ sở dữ liệu phân tán có thể đơn giản hay phức
tạp. Trong môi trường đồng nhất, các kiểu hệ thống tính toán làm việc trên
cơ sở dữ liệu được điều khiển chặt. Do vậy không mấy vất vả. Một vài lược
đồ phân tán cơ sở dữ liệu được thiết kế trên nền tảng cụ thể, gồm phần
cứng, hệ thống điều hành và phần mềm mạng cân xứng. Chẳng hạn có hệ
thống dùng toàn máy cá nhân dựa trên vi xử lý Intel, với hệ thống điều
hành của Microsoft, hệ điều hành mạng Novell. Do vậy người thiết kế cơ
sở dữ liệu phân tán chuyên tâm vào phần mềm cho môi trường đồng nhất,
các chức năng đơn giản.
Bên cạnh đó, các môi trường không đồng nhất về phần cứng, phần
mềm đòi hỏi người ta có những cố gắng nhiều hơn. Người ta có thể dùng
hệ thống điều hành Apple, IBM, Microsoft, UNIX với vi xử lí Intel,
Motorola... Nhiều giao thức truyền thông đa dạng như TCP/IP, SNA của
IBM, IPX/SPX của NetWere... Chức năng thực hiện của phần mềm cơ sở
dữ liệu phân tán trong môi trường không đồng nhất cần phức tạp hơn
nhiều.
Để tiện tạo nên môi trường cơ sở dữ liệu phân tán không đồng nhất,
người ta dùng ba mô hình kiến trúc phần mềm sau:
• Mô hình cổng.
• Mô hình giao diện chuẩn.
20
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Văn Duy
Cổng ORACLE/DB2
Giao diện API của DB2
Giao diện API của DB2
Cơ sở dữ liệu DB2
Phần mềm cơ sở dữ liệu DB2
Hình 7. Mô hình cổng qua thí dụ khai thác từ ORACLE.
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Văn Duy
Với kiến trúc truy nhập cơ sở dữ liệu cổng, chương trình ứng dụng
dùng một API. Thành phần phần mềm phân biệt gọi là cổng sẽ chuyển
chương trình từ API này sang API khác để phần mềm cơ sở dữ liệu trên
API khác có thể hiểu chương trình này.
Kiến trúc cổng có thể hỗ trợ bất kì cấu hình cơ sở dữ liệu phân tán
nào. Trong trường hợp đơn giản, chương trình ứng dụng, thành phần cổng,
và phần mềm cơ sở dữ liệu đều được đặt trên cùng một máy tính. Còn với
trường hợp phức tạp, các thành phần đó nằm trên nhiều máy khác nhau.
Trong môi trường phân tán, các thành phần Client truyền thông và
Server truyền thông để truyền dữ liệu trên nhiều máy tính. Với tiếp cận
cổng trong hệ thống phân tán, nhà cung cấp có thể viết phần mềm cổng và
các thành phần Client truyền thông, Server truyền thông. Các thành phần
cổng cần được cắt may cho phù hợp với API của cơ sở dữ liệu cụ thể, và
nhiều người cũng thấy được ưu điểm của chúng và tìm mua. Client truyền
thông và Server truyền thông cần trợ giúp cơ chế truyền thông cụ thể và trợ
giúp cho cả giao thức truyền thông.
Trong mô hình cổng người ta thường để cùng một người thiết kế
thành phần cổng và Client truyền thông, Server truyền thông. Sở dĩ như
vậy là do chưa có chuẩn quản lí các giao diện, dịch vụ và chức năng trong
môi trường này. Nhà cung cấp có thể dùng API của cơ sở dữ liệu hiện có
và ngôn ngữ truy nhập dữ liệu người dùng đang sử dụng. Môi trường cũng
có thể dùng phần mềm cơ sở dữ liệu đã có tuy nó chưa đáp ứng được với
cơ sở dữ liệu phân tán.
Phần mềm cơ sở dữ liệu DB2
Hình 8. Truy nhập cơ sở dữ liệu DB2 qua ORACLE.
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Văn Duy
Phần mềm trên máy Client có thành phần quản trị thiết bị; thành
phần này thực hiện hai giao diện sau:
• Giao diện dịch vụ. Đây là API mà các thiết bị sử dụng để lập giao
diện với quản trị thiết bị. Nhà phân phối phần mềm viết thiết bị
cho phù hợp với giao diện dịch vụ để phần mềm cơ sở dữ liệu của
họ giao tiếp được với quản trị thiết bị.
• Giao diện chương trình ứng dụng. Đây là API mà chương trình
ứng dụng dùng để yêu cầu dịch vụ cơ sở dữ liệu.
Do sự phụ thuộc vào thiết bị và quản trị thiết bị, mô hình giao diện
đôi khi được gọi là mô hình thiết bị. Mô hình giao diện chuẩn có nhiều
điểm tương tự như mô hình cổng. Khác nhau chính ở chỗ mô hình này phụ
thuộc vào API chuẩn mà tất cả các cơ sở dữ liệu đều dùng. Người ta phát
triển ứng dụng cơ sở dữ liệu muốn tham gia vào môi trường mô hình giao
diện chuẩn cần phải viết chương trình theo API chuẩn hoặc sử dụng phần
mềm chuyển API riêng sang API chuẩn.
2.3. Liên kết cơ sở dữ liệu mở của Microsoft
Để mô hình thiết bị hữu dụng trong môi trường không đồng nhất,
nhiều tổ chức đủ mạnh cần tạo và thông báo về API yêu cầu và chuẩn giao
diện thiết bị. Ngoài ra số lớn người dùng và nhà cung cấp phần mềm cơ sở
dữ liệu cần cam kết tham gia chuẩn này. Trên môi trường máy cá nhân,
Microsoft là tổ chức như vậy.
Hãng này đã xây dựng chuẩn giao diện cơ sở dữ liệu gọi là liên kết
cơ sở dữ liệu mở ODBC (open database connectivity); giao diện này phù
hợp với mô hình giao diện chuẩn. Một số nhà cung cấp phần mềm cơ sở dữ
liệu cho thị trường máy cá nhân đã tạo thiết bị ODBC cho các bộ phần
mềm của họ, và ODBC đã trở thành chuẩn truy nhập cơ sở dữ liệu phân tán
được công nhận cho dịch vụ môi trường máy cá nhân.
Chương trình ứng
dụng cơ sở dữ liệu
API cơ sở dữ liệu A
Client truyền thông
Server truyền thông
API cơ sở dữ liệu B
Phần mềm cơ sở
dữ liệu B
Giao diện
chuẩn
Cơ sở dữ
liệu B
Hình 9. Mô hình cơ sở dữ liệu phân tán có giao thức chuẩn.
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Văn Duy
phối tham gia chuẩn và cài đặt thành phần Client, Server truyền thông để
thực hiện giao thức chuẩn. Trong môi trường mainframe, IBM đóng vai trò
tổ chức như vậy.
IBM đã đề xuất chuẩn giao thức truy nhập cơ sở dữ liệu gọi là kiến
trúc cơ sở dữ liệu quan hệ phân tán DRDA. Họ đưa ra chuẩn này để trợ
giúp phần mềm DB2 trên máy mainframe. Phạm vi của DRDA lan rộng
đến các ứng dụng trên máy vi tính.
2.5.1. Các mức truy nhập cơ sở dữ liệu phân tán
Chuẩn DRDA xác đình bốn mức truy nhập cơ sở dữ liệu phân tán
dựa trên độ phức tạp của giao tác do ứng dụng tạo ra, dựa trên phạm vi
chức năng của phần mềm cơ sở dữ liệu dành cho mỗi loại giao tác, và dựa
trên khả năng của giao thức truyền thông giữa những thành phần. Bốn mức
đó gồm:
• Yêu cầu từ xa. Tại mức truy nhập này, phần mềm cơ sở dữ liệu
trợ giúp giao tác; mỗi giao tác là câu SQL đơn, truy nhập cơ sở
dữ liệu ở xa. Phần mềm cơ sở dữ liệu cần đến chức năng xử lí
truyền thông đều chạy trên hệ thống tính toán cục bộ. Thành phần Client
truyền thông gửi thông báo qua mạng đến chức năng phần mềm bổ sung
gọi là máy Server cơ sở dữ liệu. Giao thức chuẩn do DRDA xác định sẽ
dùng vào việc truyền thông giữa thành phần Client và Server. Thành phần
Server truyền thông, phần mềm cơ sở dữ liệu, và bản thân cơ sở dữ liệu
được đặt trên hệ thống tính toán ở xa. Hình vẽ cho thấy cấu hình xử lí yêu
cầu từ xa.
27
Máy Client
Máy Server
Chương trình ứng dụng
Client
truyền
thông
Mạng
truyền
thông
Phần mềm cơ sở dữ liệu
Cơ sở dữ liệu
Server
truyền
thông
Hình 10. Cấu hình yêu cầu từ xa.
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Văn Duy
Thành phần Server truyền thông chạy trên hệ thống tính toán ở xa
đưa yêu cầu truy nhập cơ sở dữ liệu mà nó nhận được đến phần mềm cơ sở
dữ liệu đang chạy ở đó. Rồi Server truyền thông gửi kết quả truy nhập cơ
sở dữ liệu về Client tính toán trong hệ thống ứng dụng cục bộ. Thành phần
Client truyền thông lại chuyển các dữ liệu yêu cầu đến chương trình ứng
dụng cục bộ.
Mạng
truyền
thông
Phần mềm cơ sở dữ liệu
Cơ sở dữ liệu
Phần mềm cơ sở dữ liệu
Hình 11. Cấu hình đơn vị công tác ở xa.
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Văn Duy
Với xử lí đơn vị công tác ở xa, ứng dụng có thể truy nhập cơ sở dữ
liệu quan hệ đơn trên hệ thống tính toán ở xa. Chương trình ứng dụng có
thể dùng các câu lệnh SQL như một phần của cùng giao tác. Hai thành
phần phần mềm cơ sở dữ liệu phụ trợ bảo trì thông tin trạng thái liên quan
đến quá trình của toàn bộ giao tác thông qua các câu lệnh SQL. Chúng có
khả năng thực hiện quá trình khẳng định và khôi phục dữ liệu đối với giao
tác cũng như đối với toàn bộ quá trình.
Cấu hình đơn vị công tác ở xa trong suốt về nhiều loại lỗi đối với
chương trình ứng dụng. Vì truyền thông giữa hai máy tính được bản thân
phần mềm cơ sở dữ liệu quản lý, phần mềm cơ sở dữ liệu có thể được thiết
kế để khôi phục sau sự cố tại máy tính cục bộ, máy ở xa hay trên mạng
truyền thông. Do toàn bộ cơ sở dữ liệu được đặt trên một máy tính, các
chức năng quản trị một giao tác cần cho việc khôi phục và xử lí quay lui là
đơn giản. Giao thức khẳng định khoá hai pha không yêu cầu cài đặt mức
truy nhập cơ sở dữ liệu này.
2.5.1.3. Cấu hình cơ sở dữ liệu phân tán
Hai mức DRDA nêu trên để truy nhập cơ sở dữ liệu từ xa cho phép
chương trình truy nhập cơ sở dữ liệu đơn trên máy tính đơn ở xa. Hai mức
hỗ trợ truy nhập tiếp theo đây cho phép chương trình truy nhập cơ sở dữ
liệu phân tán trên nhiều máy tính ở xa. Hai tiếp cận xử lí cơ sở dữ liệu phân
tán có thể lập nên cấu hình được mô tả như trong hình vẽ sau:
29
một số máy ở xa, và một câu SQL được phép tham chiếu dữ liệu trên nhiều
hệ thống tính toán phân biệt. Theo tiếp cận yêu cầu phân tán, chương trình
ứng dụng hoàn toàn độc lập với vị trí của dữ liệu. Cơ sở dữ liệu phân tán có
thể được tổ chức lại và thay đổi vị trí dữ liệu mà không cần chỉnh lí chương
trình ứng dụng. Phần mềm cơ sở dữ liệu cần đáp ứng các hỗ trợ cần thiết để
đảm bảo truy nhập trong suốt đến dữ liệu của hệ thống tính toán ở xa.
30