ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP CBHD: PGS.TS Đinh Xuân Thắng
Ths. Lâm Vónh Sơn
MỞ ĐẦU.
1. Đặt vấn đề.
Việt Nam là nước đang phát triển có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao với
việc trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức thương mại thế giới WTO được
xem là con hổ trẻ đầy năng động của châu Á khiến làn sóng đầu tư vào Việt
Nam ngày càng mạnh mẽ. Cơng nghiệp hóa - hiện đại hóa là chìa khóa quan
trọng cho sự phát triển kinh tế, hiện với hơn 800.000 cơ sở sản xuất cơng nghiệp và
gần 70 khu chế xuất - khu cơng nghiệp tập trung đã đóng góp một phần rất lớn vào
GDP của đất nước.
Cùng với sự phát triển của các ngành kinh tế trong nước, ngành cơng
nghiệp dệt nhuộm cũng không ngừng được củng cố và ngày càng đáp ứng tốt nhu
cầu của người tiêu dùng trong thời đại mới nhờ những ưu điểm: bền đẹp, tiện dụng,
hợp túi tiền vv… song bên cạnh đó nó cũng mang lại nhiều những hệ lụy về
môi trường đáng kể. Nguyên nhân chính của vấn đề này là do lượng nước thải
của các nhà máy thải ra quá lớn với tải lượng ô nhiễm cao, tuy nhiên hệ thống
xử lý hiện tại thường không hoàn thiện lại phải hoạt động trong tình trạng quá
tải cần được nâng cấp cải tao mở rộng.
Với đề tài “Thiết kế hệ thống xử lý nước thải xưởng dệt thuỷ lực
Weaving II công ty Hualon Corporation Việt Nam cơng suất 2000 m
3
/ngđ” Tôi
hy vọng sẽ đóng góp một phần nhỏ vào việc làm giảm thiểu sự ơ nhiễm do nước
thải ngành dệt nhuộm gây ra trong thời gian gần đây.
SVTH: Chu Đỗ Quyết Trang 1
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP CBHD: PGS.TS Đinh Xuân Thắng
Ths. Lâm Vónh Sơn
2. Mục tiêu đồ án.
- Nghiên cứu tổng hợp các nguồn tài liệu, các sơ đồ công nghệ về hệ
thống xử lý nước thải ngành dệt nhuộm hiện có từ đó tìm ra một sơ đồ công
nghệ tối ưu nhất cho nhà máy.
- Thu thập và phân tích các số liệu, các thông số về mức độ ô nhiễm nước
thải của xưởng dệt thông qua biên bản tổng hợp báo cáo đánh giá tác động môi
trường dự án.
- Phân tích các đặc trưng mức độ ô nhiễm của dòng thải, dự án xây dựng
nhà máy từ đó thiết kế hệ thống xử lý theo yêu cầu đặt ra.
5. Giới hạn đồ án.
Đồ án thực hiện trên cơ sở dự án đầu tư xây dựng xưởng dệt thủy lực
weaving II công suất 60.000.000 m /năm với lưu lượng nước thải là 2000
m
3
/ngđ. Hệ thống xử lý nước thải tập trung của nhà máy xây dựng theo quy
hoạch có công suất 9000 m
3
/ngđ hiện đang vận hành với công suất 2500 m
3
/ngđ
đạt chất lượng nước thải theo TCVV 5945: 1995 cột B để tiếp nhận xử lý nước
thải từ phân xưởng I và một số hệ thống xả thải khác có khả năng tiếp nhận
thêm lưu lượng thải của xưởng dệt II, tuy nhiên trong giai đoạn mở rộng sản
xuất sau này xưởng dệt cần phải có hệ thống xử lý nước thải riêng để đảm bảo
xử lý tốt hơn nữa lưu lượng cũng như chất lượng dòng thải.
SVTH: Chu Đỗ Quyết Trang 3
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP CBHD: PGS.TS Đinh Xuân Thắng
Ths. Lâm Vónh Sơn
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CÁC NHÀ MÁY DỆT NHUỘM VÀ
CÁC PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ NƯỚC THẢI DỆT NHUỘM.
thời gian sau này, với ngun liệu chủ yếu lấy ở trong nước.
1.1.2 Nguyên liệu dệt nhuộm.
a. Nguyên liệu dệt.
Ngun liệu chung cho các nhà máy dệt hiện nay là các loại sợi thuộc 3
nhóm sợi cơ bản sau:
- Sợi cotton: được kéo từ sợi bơng vải, có đặc tính hút ẩm cao, xốp, bền trong
mơi trường kiềm, phân hủy trong mơi trường axit. Mặt hàng này thích hợp với mùa
hè nóng. Tuy nhiên sợi còn lẫn nhiều tạp chất như sáp, mài bơng và dễ nhàu. Do
vậy cần xử lý kỹ trước khi nhuộm để loại bỏ tạp chất.
- Sợi polyeste: là sợi hóa học dạng cao phân tử được tạo thành từ q trình
tổng hợp hữu cơ, cứng bền ở trạng thái ướt xơ… Tuy nhiên kém bền với ma sát nên
loại vải này thường được trộn chung với các loại xơ khác. Sợi này bền với axit
nhưng kém bền với kiềm.
- Sợi pha PECO (polyeste và cotton): sợi polyeste là sợi hóa học dạng cao
phân tử được tạo thành từ q trình tổng hợp hữu cơ, hút ẩm kém, cứng bền ở trạng
thái ướt xơ. Tuy nhiên kém bền với ma sát nên loại vải này thường được trộn chung
với các loại xơ khác. Sợi này bền với axit nhưng kém bền với kiềm. Sợi pha PECO
được pha chế để khắc phục các nhược điểm của sợi polyeste và cotton kể trên.
b. Nguyên liệu nhuộm và in hoa.
Các loại sản phẩm nhuộm thường được sử dụng bao gồm:
- Phẩm nhuộm phân tán: là loại phẩm khơng tan trong nước nhưng ở trạng
thái phân tán và huyền phù trong dung dịch, có thể phân tán trên sợi và mạch phân
SVTH: Chu Đỗ Quyết Trang 5