CHƯƠNG 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Giới thiệu
Nuôi trồng thủy sản (NTTS) là một trong các ngành nghề đã có từ lâu đời và phát triển ở
khắp các quốc gia trên thế giới. Đa dạng từ về mô hình từ nuôi quảng canh cho đến nuôi
thâm canh và ngày nay đang dần dần tiến tới siêu thâm canh. Nguồn lợi và các sản phẩm
hải sản mang lại từ quá trình nuôi và khai thác đã đóng góp tích cực vào nhu cầu thực
phẩm cho con người và xuất khẩu.
Ngành thủy sản thế giới và nước ta đang có những bước phát triển nhanh chóng trong
nhiều lĩnh vực như: kỹ thuật nuôi trồng thủy sản, kỹ thuật khai thác thủy sản, quản lý môi
trường và nguồn lợi thủy sản, quản lý dịch bệnh thủy sản, công nghệ sinh học ứng dụng
trong thủy sản và chế biến thủy sản. Ngành thủy sản đã và đang trở thành ngành kinh tế
mũi nhọn của nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam.
Điều kiện địa lý tự nhiên ở Việt Nam với 653.000 ha sông ngòi, 394.000 ha hồ chứa,
85.000 ha đầm phá ven biển, 580.000 ha ruộng lúa nước, cùng với điều kiện khí hậu thuận
lợi, lượng mưa hàng năm khoảng 1500-2000 mm (Nguyễn Viết Thịnh và Đỗ Thị Minh
Đức, 2000) đã tạo điều kiện thuận lợi cho nghề nuôi thủy sản phát triển rộng khắp cả nuớc,
mang lại hiệu quả kinh tế cao, góp phần xóa đói giảm nghèo ở vùng nông thôn.
Đồng bằng sông Cửu Long (ÐBSCL) là một bộ phận của châu thổ sông Mê Kông có diện
tích 39.734 km², đây là vùng nuôi trồng thủy sản trọng điểm của nước ta. Ðiều kiện giao
thoa lợ, mặn, ngọt đã tạo nên một vùng sinh thái đặc thù ở nước ta. Với diện tích nuôi thủy
sản toàn vùng gần 824.000 ha, sản lượng đạt trên 1,9 triệu tấn, chiếm 89% diện tích và
93% sản lượng ở các tỉnh phía Nam.
Tuy nhiên, do hoạt động sản xuất thủy sản là vấn đề khá rộng và rất phức tạp về kinh tế, kỹ
thuật và xã hội nên ĐBSCL vẫn đang đối mặt với nhiều thách thức liên quan đến sản xuất,
chế biến và tiêu thụ. Do diện tích NTTS ngày càng mở rộng với nhiều mô hình nuôi, nhu
cầu sản lượng và con giống ngày càng tăng mà nguồn giống khai thác từ tự nhiên ngày
càng giảm không đủ cung ứng theo nhu cầu thực tiễn sản xuất nên việc tăng cường sản
xuất giống theo hình thức nhân tạo là rất cần thiết.
Trong những năm gần đây, công tác nghiên cứu cho sản xuất giống nhân tạo một số loài
giáp xác có giá trị kinh tế được phát triển nhanh chóng và đi kèm là sự đa dạng của các mô
sú được phân loại như sau:
Ngành: Arthropoda
Ngành phụ : Crustacea
Lớp: Malacostraca
Bộ: Decapoda
Họ chung: penaeidea
Họ: Peneaus Fabricius
Giống: Penaeus
Loài: Penaeus monodon Fabricius, 1798
Hình 2.1 Hình thái bên ngoài của tôm sú (Hình chụp)
Phân bố
Tôm sú thuộc loài rộng muối nên chúng có mặt rộng từ Ấn Ðộ Dương sang hướng Nhật
Bản, Ðài Loan, phía Ðông Tahiti, phía Tây Châu Phi và phía Nam Châu Úc (Racek. 1955,
Holthuis và Rosa. 1965, Motoh. 1981, 1985). Ðặc biệt hơn đối với nước ta tôm sú xuất
hiện dọc theo bờ biển Ðông và Vùng Ðảo Phú Quốc. Nhìn chung loài này phân bố từ kinh
3
độ 30
o
E đến 155
o
E và từ vĩ độ 35
o
N đến 35
o
S xung quanh các vùng xích đạo như:
Philipines, Malaysia, Indonesia và Việt Nam.
Tôm bột (Postlarvae), tôm giống (Juvenile) và tôm gần trưởng thành có tập tính sống gần
bờ biển và rừng ngập mặn ven bờ. Khi tôm trưởng thánh di chuyển xa bờ vì chúng thích
sống vùng nước sâu hơn.
Hình thái
C tôm
4
hoạt động không bình thường và có thể chết hàng loạt (Nguyễn Văn Chung, 2004). Bãi đẻ của
tôm sú thường ở vùng có độ mặn trên 33‰, pH 7,5 - 8,2, chất đáy bùn cát và độ sâu 10 – 20m
(Nguyễn Văn Chung, 2000).
Các giai đoạn phát triển của ấu trùng
Vòng đời của tôm sú được chia ra làm các giai đoạn: phôi, ấu trùng, hậu ấu trùng, tôm
giống, tôm tiền trưởng thành và trưởng thành (Nguyễn Thanh Phương & csv, 1999).
Giai đoạn phôi: giai đoạn này bắt đầu từ khi trứng thụ tinh và phân cắt thành 2, 4, 8, 16,
32, 64 tế bào, phôi dâu, phôi nang, phôi vị đến khi nở. Thời gian hoàn tất giai đoạn này
khoảng 12 đến 15 giờ tùy thuộc điều kiện nhiệt độ nước.
Nauplius (N): chia làm 6 giai đoạn phụ (N1- N6) kéo dài 2 đến 3 ngày. Đây là giai đoạn
ấu trùng có tính hướng quang mạnh. Dinh dưỡng bằng noãn hoàng
Zoae (Z): chia làm 3 giai đoạn phụ (Z1-Z3) kéo dài 4-5 ngày. Đây là giai đoạn ấu trùng
có tính hướng quang mạnh. Dinh dưỡng chủ yếu là tảo khuê
Mysis (M): chia làm 3 giai đoạn phụ (M1-M3) kéo dài 3-4 ngày.
Postlarvae (PL): sau khoảng 9-10 ngày, tôm sẽ biến thái sang giai đoạn hậu ấu trùng. Giai
đoạn này tôm bám thành bể, sống đáy, có hình dạng giống như tôm trưởng thành. Sau 5-6
tuần trở thành tôm giống.
Juvenile: giai đoạn trưởng thành. Tôm giống 6-8 tháng sau đạt tiêu chuẩn tôm trưởng
thành và có thể tham gia sinh sản (Nguyễn Thanh Phương và csv, 1999).
Hình 2.2: Vòng đời của tôm sú theo Motoh (1981)
(Nguồn: Motoh, 1981)
Quá trình lột xác
5
Quá trình lột xác của tôm sú trải qua một số giai đoạn sau: giai đoạn tiền lột xác là sự kết dính
giữa vỏ tôm và biểu mô bị lỏng lẻo ra. Giai đoạn lột xác cơ thể nhanh chóng rút ra khỏi vỏ cũ
với động tác uốn cong mình toàn cơ thể. Giai đoạn hậu lột xác cơ thể hấp thụ nước để nở rộng
vỏ và lớn nhanh. Giữa chu kỳ lột xác cơ thể tôm cứng lại sau 1-2 giờ với tôm nhỏ, 1-2 ngày
đối với tôm lớn nhờ chất khoáng và chất đạm. Tôm sau khi mới lột xác, vỏ còn mềm nên rất
tôm sú ăn nhiều nhuyễn thể để cung cấp dinh dưỡng cho buồng trứng. Tôm Sú có thể ăn
thịt lẫn nhau khi chúng thiếu thức ăn, tôm khỏe sẽ tấn công tôm yếu, tôm lớn tấn công tôm
nhỏ và tôm vỏ cứng tấn công tôm vỏ mềm.
Tôm Sú ăn suốt ngày nhưng chúng bắt mồi chủ yếu là lúc chiều tối và lúc rạng sáng, đặc
biệt là những đêm có ánh sáng trăng chúng bắt mồi rất mạnh vì chúng rất thích ánh sáng có
cường độ chiếu sáng yếu. Tôm thích ăn đáy và ven bờ, tôm sú phát hiện mồi và bắt mồi
chủ yếu là nhờ vào các cơ quan xúc giác nằm ở đầu như mút của râu, chân râu, phụ bộ
miệng và càng. Thị giác của tôm dường như không quan trọng trong việc phát hiện và định
hướng mồi (Nguyễn Thanh Phương và csv, 1999).
2.1.1.4 Đặc điểm sinh sản
Tôm sú thuờng từ 8 - 10 tháng đã có thể tham gia sinh sản. Chúng đẻ quanh năm nhưng
chủ yếu tập trung ở 2 thời kỳ chính là tháng 3-4 và tháng 7-10 hàng năm (Phạm Văn Tình,
2004). Tuổi thành thục sinh dục của tôm đực và tôm cái từ tháng thứ 8 trở đi. Xác định sự
thành thục của tôm cái dễ hơn, chỉ cần quan sát có túi tinh ở cơ quan sinh dục phụ. Phương
pháp xác định thành thục ở con đực khó hơn, chỉ khi nào tìm thấy được tinh trùng ở cuối
ống dẫn tinh. Thường dựa vào trọng lượng để xác định khi con đực nặng từ 50g trở lên.
Đối với tôm sú, con cái có kích thước to hơn con đực. Khi tôm trưởng thành phân biệt rõ
đực cái, thông qua cơ quan sinh dục phụ bên ngoài. Theo Nguyễn Văn Thường và Trương
Quốc Phú (2009), thì tôm đực và tôm cái được phân biệt bởi các điểm sau:
Tôm đực: Cơ quan sinh dục đực gọi là Petasma có cấu tạo bởi hai nhánh trong của chân
bụng 1. Có hình dạng khác nhau tùy theo loài. Túi tinh màu trắng sữa, dài 5-7mm có thể
nhìn thấy dễ dàng qua lớp vỏ dưới gốc chân ngực 5.
Tôm cái: Cơ quan sinh dục cái gọi là Thelycum. Buồng trứng nằm dọc theo mặt lưng phía
trên, hai ống dẫn trứng mở ra ở khớp háng đôi chân ngực thứ 3. Bộ phận chứa túi tinh gồm
2 tấm phồng lên ở đôi chân ngực thứ 4 và thứ 5 dưới bụng tôm cái.
Tôm đẻ trứng vào ban đêm từ 22:00 đến 3 giờ sáng ngày hôm sau. Trong tự nhiên tôm
thường đẻ một lần trong mỗi chu kỳ lột xác, trong điều kiện nuôi vỗ tôm có thể đẻ nhiều
lần (có thể đến 6 lần) (Lưu Hoàng Ly, 1991). Trước khi đẻ trứng, tôm cái nằm yên trên đáy
bể. Khi bắt đầu đẻ trứng, tôm cái bơi tới và thỉnh thoảng búng nhanh, sau đó bơi chậm lại
và đẻ trứng, trứng rơi vào nước, các chân bụng hoạt động nhanh để phân tán trứng đều
2003), Đông Nam Á và một khu vực khá hẹp của đông Bắc Á, giới hạn từ Ấn Độ đến phía
đông của nước Úc và đảo Solomon (Arrigon, 1994).
Ở Việt Nam tôm càng xanh phân bố tự nhiên từ Nha Trang trở vào đến Đồng bằng Nam
Bộ và tập trung chủ yếu ở ĐBSCL. Ở các thủy vực có độ mặn giao động từ 18‰ - 25‰
cũng thấy tôm xuất hiện (Nguyễn Thanh Phương và csv, 2003).
Hình thái
Theo Nguyễn Thanh Phương và csv (2003), Tôm càng xanh là loài có kích thước lớn nhất
trong nhóm tôm nước ngọt. Tôm càng xanh có cơ thể thon dài, đối xứng hai bên. Cơ thể
gồm có hai phần: Phần đầu ngực và phần bụng. Phần đầu ngực lớn, dạng hình trụ gồm
phần đầu với 5 đốt liền nhau, mang 5 đôi phụ bộ và phần ngực với 8 đốt liền nhau mang 8
đôi phụ bộ. Phần đầu ngực được bao dưới tấm vỏ dày gọi là giáp đầu ngực.
Phần bụng gồm có 6 đốt có thể cử động và 1 đốt đuôi. Mỗi đốt mang 1 đôi phụ bộ gọi là
chân bơi. Mỗi đốt bụng có tấm vỏ bao. Tấm vỏ phía trước xếp chồng lên tấm vỏ phía sau.
Tuy nhiên, tấm vỏ của đốt bụng thứ 2 phủ lên cả hai tấm vỏ phía trước và sau. Đặc điểm
này giúp dễ dàng phân biệt tôm càng xanh với nhóm tôm biển. Các đốt bụng hơi tròn trên
mặt lưng và dẹp hai bên. Cơ thể có dạng hơi cong như hình dấu phẩy, to ở phần đầu và
thon nhỏ về phía sau.
Tôm nhỏ, cơ thể có màu trong sáng. Trên giáp đầu ngực có những sọc xanh đen dọc hai
bên. Tôm trưởng thành có những vệt màu xanh hơi sậm ngang lưng xen kẽ với màu trắng
trong của cơ thể. Tôm có chủy dài vượt quá râu, uốn cong lên từ đoạn giữa chủy, gốc chủy
ở nơi hốc mắt nhô cao lên thành mào. Chủy có từ 11-16 răng trên chủy (2-3 răng sau hốc
mắt) và 10-15 răng dưới chủy.
Các phụ bộ có hình dạng, kích thước, chức năng khác nhau với hai đôi râu có chức năng
xúc giác, một đôi hàm lớn, hai đôi hàm nhỏ và ba đôi chân hàm có chức năng giữ và
nghiền mồi. Năm đôi chân ngực có chức năng bò, năm đôi chân bụng để bơi và một đôi
chân đuôi có chức năng như bánh lái. Hai đôi chân ngực đầu tiên chuyên hóa thành đôi
càng, đôi càng thứ hai to và dài dùng để bắt mồi vá tự vệ. Đặc điểm về kích cỡ, hình dạng,
màu sắc và các gai trên đôi càng sẽ thay đổi theo giai đoạn thành thục của tôm, nhất là tôm
đực. Khi tôm còn nhỏ, đôi càng màu trong sau chuyển thành vàng cam (còn gọi là càng
lửa), chưa có gai hay có gai rất mịn trên càng, chưa có hay có ít lông tơ. Khi tôm lớn, đôi
Bảng 2.1: Giai đoạn phát triển của ấu trùng tôm càng xanh
Giai
đoạn
Ngày tuổi
(ngày)
Chiều dài
(mm)
Đặc điểm
I 1 1,92 Mắt chưa có cuống
II 2 1,99 Mắt có cuống
III 3 - 4 2,14 Xuất hiện chân đuôi
IV 4 - 6 2,5
Có 2 răng chủy, chân đuôi có 2 nhánh, có lông
tơ
V 5 - 8 2,8 Telson hẹp, kéo dài ra có 5 nhánh
VI 7 - 10 3,75 Mầm chân bụng xuất hiện
VII 11 - 17 4,06 Chân bụng có 2 nhánh, chưa có lông tơ
VIII 14 - 19 4,68 Chân bụng có lông tơ
IX 15 - 22 6,07 Nhánh chân của chân bụng có nhánh phụ trong
X 17 - 24 7,05 Có 3 - 4 răng trên chủy
XI 19 - 26 7,73 Răng xuất hiện hết nửa trên chủy
PL 23 - 27 7,69
Răng xuất hiên cả trên và dưới chủy, có tập tính
như tôm lớn
12
Giai đoạn I II III
Giai đoạn IV V VI
Giai đoạn VII VIII IX
Giai đoạn X XI Postlarvae (PL)
Hình 2.6: Đặc điểm phân biệt các giai đoạn phát triển của ấu trùng tôm càng xanh
tim chạy dọc hai bên về phía bụng đỗ về túi chứa tinh. Ở đốt gốc của chân ngực thứ ba
(Nguyễn Thanh Phương và csv, 2003).
Trong tự nhiên cũng như trong điều kiện nhân tạo, tôm thành thục và giao vĩ xảy ra hầu
như quanh năm. Mùa vụ sinh sản của tôm càng xanh ở đồng bằng Nam Bộ tập trung từ
tháng 4 đến tháng 6 và tháng 8 đến tháng 10 (Nguyễn Việt Thắng, 1993).
Tôm thường đẻ trứng vào ban đêm. Tôm cái thường di chuyển lên từ tầng đáy lên tầng giữ
hay tầng mặt để đẻ. Trong quá trình đẻ trứng, trứng được thụ tinh khi đi ngang qua túi tinh.
Trứng sẽ lần lượt dính từng chum vào các lông tơ của các đôi chân bụng thứ 4, thứ 3, thứ 2
và thứ nhất. Thời gian đẻ trứng từ 10 đến 60 phút và thông thường từ 15- 25 phút. Những
tôm cái thành thục chín muồi nhưng không được giao vĩ vẫn đẻ trứng trong vòng 24 giời
14
sau khi lột xác. Những trứng này do không thụ tinh sẽ rụng sau một đến hai ngày (FAO,
1985).
Trong quá trình ấp trứng tôm cái thường dùng chân bụng quạt nước, tạo dòng nước, cung
cấp dưỡng khí cho trứng thời gian ấp đến trứng nở có thể từ 15-23 ngày phụ thuộc vào
nhiệt độ (Nguyễn Thanh Phương và csv, 2003).
Tuỗi thành thục của tôm càng xanh thường từ khoảng 180-270 ngày tuổi. Tuy nhiên, thời
gian này còn tùy thuộc vào các yếu tố môi trường đặc biệt là nhiệt độ và dinh dưỡng.
Buồng trứng của tôm phát triển ở phần đầu ngực trải qua 5 giai đoạn phát triển của buồng
trứng giao động trong khoảng 18-20 ngày. Khi buồng trứng phát triển đến giai đoạn V, tôm
lột xác (lột xác tiền giao vĩ), sau lột xác thời gian thích hợp cho tôm giao vĩ là 3-6 giờ,
khoảng 2-5 giờ và sau khi giao vĩ tôm đẻ trứng. Tùy vào kích cỡ và trọng lượng của tôm
cũng như chất lượng và số lần tham gia sinh sản của chúng và sức sinh sản của tôm có thể
thay đổi từ 7.000 đến 503.000 trứng. Trung bình sứ sinh sản tương đối của tôm là 500-
1.000 trứng/g trọng lượng tôm. Tuy nhiên tôm nuôi trong ao, hồ,… sức sinh sản của chúng
thấp hơn so với ngoài tự nhiên khoảng 300-600 trứng. Tôm cái có thể tái phát dục trong
vòng 16-45 ngày vài trường hợp cá biệt thời gian tái phát dục ngắn chỉ sau 7 ngày có thể
tái phát dục 4-6 lần trong vòng đời (Nguyễn Thanh Phương và csv, 2003). Sau khi trứng
thụ tinh, trứng được ấp trong khoảng 19-21 ngày ở nhiệt độ khoảng 28
o
2.2.1 Tình hình sản xuất giống Tôm Sú
2.2.1.1 Trên thế giới
Với sự phát triển của nghề nuôi tôm sú, nghề sản xuất giống đóng một vai trò hàng đầu và rất
quan trọng, nếu không có nghề sản xuất giống ra đời thì không thể phát triển nghề nuôi tôm sú.
Vì vậy có thể nói nghề sản xuất giống tôm sú rất phát triển mà đặc biệt là Thái Lan.
Năm 1934, Fujinaga, người được thế giới công nhận là ông tổ của nghề nuôi tôm, đã cho sinh
sản thành công và ương nuôi được một phần ấu trùng tôm he (Penaeus japonicus) ở Nhật Bản
(được trích dẫn bởi Nguyễn Văn Chung, 2000). Năm 1943, Panouse đã phát hiện ra phương
pháp nuôi vỗ tôm thành thục bằng cách cắt mắt. Từ đó đến nay phương pháp này đã được
hoàn thiện dần và được áp dụng trên nhiều nước trên thế giới (được trích dẫn bởi Ngô Anh
Tuấn, 1995).
Năm 1963, phòng thí nghiệm Galveston ở Texas (Mỹ) đã thành công trong việc cho sinh sản
và ương nuôi hai loài ấu trùng tôm he của Mỹ (P. setiferus và P. aztecus) (được trích dẫn bởi
Nguyễn Quốc Việt, 2001). Sau đó, kỹ thuật trên đã được ứng dụng cho các loài tôm sú (P.
monodon), tôm thẻ (P. merguiensis), tôm thẻ Ấn Độ (P. indicus) ở nhiều trại giống ở Châu Á
như Đài Loan, Philippin, Thái Lan và Malaysia.... Từ đó đến nay, nhiều công trình nghiên cứu
sản xuất giống tôm sú đã được tiến hành với những cải tiến khác nhau như việc kết hợp những
ưu điểm trong các hệ thống bể lớn của Nhật Bản, hệ thống bể nhỏ của Mỹ.
2.2.1.2 Trong nước
16
Theo Lê Xuân Sinh (2002), ở nước ta những nghiên cứu về sản xuất tôm giống nhân tạo phát
triển chậm hơn so với các nước trên thế giới hàng thập kỷ và đến năm 1980 một số trại ở miền
Trung bắt đầu cung cấp tôm giống cho người nuôi. Sang giai đoạn 1990 - 1994, hệ thống
mạng lưới sản xuất giống đã phát triển mạnh mẽ ở miền Trung, chủ yếu là sản xuất giống tôm
sú (P. monodon) để cung cấp cho miền Nam, thời kỳ này việc nghiên cứu sản xuất giống cũng
được bắt đầu được quan tâm và phát triển ở miền Nam. Năm 1994, cả nước có 800 trại sản
xuất giống tôm biển, năm 1999 là 2.125 trại (Bộ Thủy Sản, 1999) và năm 2002 cả nước có
4.774 trại đã sản xuất được 19 tỷ con giống. Các trại này tập trung chủ yếu ở các tỉnh Khánh
Hòa, Ninh Thuận và Cà Mau với số trại tương ứng là 1.260, 1.196 và 821 (Bộ Thủy Sản,
2003). Năm 2004, sản lượng tôm sú của Việt Nam là 290.000 tấn, trong đó ĐBSCL là 200.000