Đồ án tốt nghiệp
ĐẶT VẤN ĐỀ
Năng lượng là một trong những nhu cầu cấp thiết nhất trong đời sống con
người hiện nay. Năng lượng không những được sử dụng trong sản xuất mà còn
được sử dụng nhiều trong cuộc sống hàng ngày của con người, mỗi gia đình.
Nhưng do sự khai thác không ngừng của con người nên nguồn nhiên liệu
dầu mỏ ngày càng cạn kiệt, bên cạnh đó khoa học kỹ thuật không ngừng phát
triển. Các ngành công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải… đòi hỏi cần
cung cấp nhiều nhiên liệu.
Hiện nay trong chiến lược năng lượng toàn cầu nhiều nước đã sử dụng
năng lượng mới, năng lượng tái sinh, năng lượng từ gió, từ mặt trời, từ dòng
chảy hoặc thủy triều … Trong tương lai người ta dự kiến cải tiến cơ cấu năng
lượng – nhiên liệu theo hướng giảm bớt năng lượng từ dầu mỏ, than đá và củ
đốt, bù vào đó là tăng tỷ trọng của khí đốt và nguồn năng lượng mới. Xa hơn
nữa khi lo đến sự cạn kiệt của các nguồn năng lượng hóa thạch thì các dạng
năng lượng mới, năng lượng tái sinh đang được các nhà khoa học trên thế giới
quan tâm một cách đặc biệt.
Chính vì nguồn nhiên liệu từ thiên nhiên đang cạn kiệt dần đó đã thôi thúc
các nhà khoa học phải nghiên cứu tìm ra nguồn năng lượng mới để thay thế các
nguồn nhiện liệu từ thiên nhiên. Và qua quá trình nghiên cứu họ đã tìm ra nguồn
nhiên liệu mới đó là nguồn nhiên liệu sinh học. Họ đã tìm ra một loại cây mà hạt
của nó ép lấy dầu rồi pha trộn với dầu diezen một lượng nhất định thì động cơ
vẫn hoạt động được đó là cây Jatropha. Để biết chính xác lượng pha trộn là bao
nhiêu thì họ đã tiến hành khảo nghiệm động cơ diezen sử dụng nhiên liệu
Jatropha.
Khảo nghiệm động cơ là một phương pháp thực nghiệm hợp lý, đây là
phương pháp đơn giản nhưng mang lại cho ta kết quả cao. Từ yêu cầu của thực
tiễn và qua sự tham khảo một số phương pháp khảo nghiệm động cơ đốt trong,
1
1
Đồ án tốt nghiệp
tô đầu tiên của Pháp. Năm 1894, xe do ba người này thiết kế đã có các bộ phận
chính, bố trí theo các vị trí mà sau này trở thành kinh điển.
Nhưng nhiều nhà chế tạo khác cũng vào cuộc, nhất là De Dion - Bouton,
người đã nhận bằng phát minh sự truyền động cho bánh sau, bằng các-đăng
cũng trong năm 1894 ấy; năm sau, ông đưa ra hệ đánh lửa dùng ắcquy. Năm
1895 cũng là năm đầu tiên mà chiếc ô tô do Daimler chế tạo được lắp bánh hơi,
nhờ Michelin. Và về Daimler, chúng ta ghi nhận rằng, năm 1897 ông đã sáng
chế bộ tản nhiệt hình tổ ong. Năm 1898, một nhà chế tạo là Louis Renault thành
công ngay lập tức với chiếc xe con của ông. Đặc biệt, nó là cái xe đầu tiên được
trang bị một hộp số ba tốc độ, mà một được nối trực tiếp. Cũng chính trên chiếc
xe này, lần đầu tiên xuất hiện máy phát điện một chiều. Boudeville năm 1900 đã
3
3
Đồ án tốt nghiệp
hoàn thành manhêtô đánh lửa (tới lúc ấy hệ thống thường dùng là cái ống nóng
sáng, mà đầu được cái bếp nung cho nóng đỏ, đước ấn sâu vào xilanh).
Trong lúc đó, các nhà sáng chế vẫn kiên trì nghiên cứu và hoàn chỉnh xe
điện. Người ta hiểu được lòng tin của họ vào công thức ấy, khi nhớ lại năm
1899, một trong số họ là Jenatzy đã đạt kỉ lục tuyệt đối về tốc độ khi lái chiếc
Jamais Contente (không bao giờ hài lòng) của ông với tốc độ 105,882 km/h. Đầu
thế kỉ 20, ô tô đã tự giải thoát khỏi hình dáng của xe ngựa, trong diện mạo của
nó, chiếc Mercédes năm 1901 là đặc trưng cho sự thay đổi ấy, mà Renault đã
khởi đầu năm 1898. Thời kì này cũng đánh dấu sự khởi đầu của sản xuất ô tô
hàng loạt: Ramson E. Olds sản xuất 1500 ô tô/năm.
Tuy nhiên, các tiến bộ kĩ thuật vẫn phát triển. Những năm đầu thế kỉ 20 đã
chứng kiến việc dùng phanh tang trống và khung gầm bằng tôn dập (khung
Daimler, ở Đức, khung Arbel, của xưởng rèn Douai, ở Pháp). Rồi từ 1904, chiếc
ô tô Vauxhall có cần sang số lắp trên cột tay lái. Năm 1905, Pieere Bossu sáng
chế bộ khởi động bằng điện (tuy nhiên mãi đến năm 1911 mới được Kettering
dùng trên một chiếc Cadillac, nên người ta thường gán sáng chế này cho
hai: năm 1950, ở Anh đã chế tạo chiếc xe ô tô đầu tiên chạy bằng tuabin khí
(Rover); năm 1952, những chiếc ô tô đầu tiên được sản xuất hàng loạt với tay lái
có trợ lực Chrysler ; năm 1953, xuất hiện cái phanh đĩa trên xe Jaguar của Anh,,
khi tham gia "Hai mươi bốn giờ ở Mans". Năm 1960, ô tô NSU Wankel có động
cơ dùng piston quay và ô tô chạy trên đệm không khí xuất hiện.
Từ những năm 1970 trở đi, các thế hệ ô tô mới đều có đặc điểm chủ yếu là
nâng cao công suất, giảm mức tiêu thụ chất đốt, và khí gây ô nhiễm,. gia tăng
vai trò của thiết bị điện tử (năm 1990 các hệ thống điện tử lắp đặt cho ô tô đã
chiếm 6% giá tiền một xe, và con số này tời năm 2000 tăng gấp ba), các nỗ lực
tăng tiện nghi , độ an tòan, sự hoàn thiện và trang thiết bị: chẳng hạn, đai an toàn
(bắt buộc từ 1973 ở Pháp), hệ thống phanh ABS, đệm an toàn tự thổi phồng, hay
5
5
Đồ án tốt nghiệp
Air Bags (được Mercédes tung ra thị trường lần đầu tiên vào năm 1981), ống xả
xúc tác (do General Motors hoàn chỉnh năm 1974), nó trở thành bắt buộc ở
nhiều nước công nghiệp. Nói chung, các xe loại trung bình có xu hướng bắt kịp
mức về thiết bị và sự hoàn thiện, trước đây chỉ dành cho ô tô loại sang. Thùng
xe được làm thuôn để giảm tối thiểu sức cản không khí và sử dụng hợp kim hoặc
vật liệu composite nhẹ, nhưng chịu đựng tốt cả sự va chạm lẫn ăn mòn.
Hiện nay, người ta phát triển các hệ thống trợ giúp bên ngoài cho người lái,
các hệ này dựa vào các thông tin đã đặt sẵn trong xe và các tín hiệu thu được từ
ngoài (khí tượng, mức độ ùn tắc, ...) mà đưa ra cho người lái xe những chỉ dẫn
và lời khuyên để đưa xe theo lộ trình tốt nhất: năm 1995 chiếc xe Safrana
Carmina, đó là chiếc xe ô tô đầu tiên ở châu Âu có trang bị một hệ bản đồ định
vị (GPS) và chỉ dẫn hành trình. Các loại xe sử dụng động cơ hybrid, vừa chạy
điện vừa chạy xăng. Các loại động cơ hiện đại như động cơ MultiAir tăng áp có
thể đạt đến 25% hiệu quả kinh tế đối so với động cơ thường trong cùng một
điều kiện…
1.1.2. Sự phát triển của động cơ đốt trong trên thế giới
diesel nào càng dễ kích nổ càng tốt. Tuy nhiên, đặc điểm quan trọng nhất là
nồng độ lưu huỳnh trong của nhiên liệu diesel. Ở Việt Nam, diesel hiện được
bán có nồng độ lưu huỳnh dưới 5%.
7
7
Đồ án tốt nghiệp
Hình 1.2: Động cơ diesel của Mercedes SLK 320
Ngành vận tải có lẽ là nơi duy nhất ưu ái với động cơ diesel ngay từ khi ra
đời do nó bền hơn từ 2 đến 3 lần so với động cơ xăng và sinh ra nhiều mô-men
xoắn hơn. Đại lượng mô-men xoắn đồng nghĩa với khả năng đẩy một vật từ vị
trí đứng yên sang trạng thái chuyển động. Vì vậy, khi mô-men xoắn đủ lớn,
động cơ dễ dàng giúp chiếc xe đạt vận tốc như mong muốn từ trạng thái dừng.
Trong khi người Mỹ giữ thái độ “ghẻ lạnh” với diesel thì châu Âu và châu
Á lại coi đó như một nguồn nhiên liệu hiệu quả. Các phát minh cải tiến xuất phát
chủ yếu từ những hãng xe của hai châu lục này. Cùng với sự phát triển của công
nghệ, vấn đề khí thải của động cơ diesel được giải quyết thông qua bộ trung hòa
xúc tác. Còn để giảm thiểu tiếng ồn, các nhà nghiên cứu tập trung phát triển hệ
thống nạp nhiên liệu mới hoạt động êm ái hơn. Giới thiệu lần đầu tiên năm
1995, hệ thống nạp liệu CRD (common rail direct injection) sử dụng bơm cao áp
(lên tới 1.579 atm) cung cấp nhiên liệu sơ cấp tới các đầu phun. Động cơ ứng
dụng công nghệ CRD có công suất cao, tiết kiệm nhiên liệu và giảm thiểu tiếng
ồn. Những năm sau đó, hệ thống điều khiển điện tử tích hợp trên CRD khiến
công nghệ này ngày càng trở nên tối ưu hơn.
8
8
Đồ án tốt nghiệp
Hình 1.3: Volkswagen Pheaton V10 CDI chạy diesel
Hiện nay, không chỉ có các dòng xe tải, xe van chở hàng mà dòng xe du lịch
cũng sử dụng diesel. Mercedes, BMW và Volkswagen là những hãng đi đầu trong
ứng dụng công nghệ diesel trên các sản phẩm hạng sang. Mercedes có E320 CDI
nhưng nhìn lại mấy mươi phần trăm đó cũng chỉ nằm gọn trong mấy chữ: sơn,
gò, hàn, lắp ráp hoặc cũng có khả năng sản xuất được một số phụ tùng xe nhưng
chỉ là những linh kiện nhỏ như ghế, kính... đó chỉ là những việc nhỏ trong tổng
thể ngành công nghiệp ô tô.
10
10
Đồ án tốt nghiệp
Biết là nhỏ nhưng dù muốn làm hơn, các doanh nghiệp lắp ráp có tâm huyết
với việc nội địa hóa cũng đành “lực bất tòng tâm” khi hệ thống mạng lưới sản
xuất phụ tùng linh kiện của ngành công nghiệp phụ trợ chưa phát triển. Theo
ông Nguyễn Xuân Chuẩn, Chủ tịch Hiệp hội Cơ khí Việt Nam, đây là yếu tố vô
cùng quan trọng để phát triển ngành công nghiệp ô tô nhưng cho đến nay chúng
ta vẫn còn rất yếu mảng này. Chẳng hạn như thép để làm xi lanh, piton, trục
khuỷu… thì đòi hỏi chất liệu phải khác nhưng ở nước ta hiện nay chỉ mới làm
được thép xây dựng. Đó là chưa nói tới nhôm, thép gió, thép cứng, lá kim đánh
lửa… cũng chưa sản xuất được; sơn điện ly cũng phải nhập khẩu.
Ô tô Việt Nam không có lợi thế về nội địa hóa nhưng có điều kiện để thực
hiện việc nội địa hóa đó ở những mức độ khác nhau. Ông Nguyễn Tiến Dũng,
Tổng Giám đốc Tổng Công ty Cơ khí GTVT Sài Gòn (Samco), cho rằng điều
quan trọng là phải xóa bỏ tư tưởng làm được một chiếc xe 100% Việt Nam mà
phải từ từ trở thành một mắt xích của ngành công nghiệp ô tô của khu vực hay
toàn cầu. Từ mắt xích đó mới có cơ sở tiến tới làm được, sản xuất được những
chi tiết cơ bản.
Hình 1.5: Dây chuyền sản xuất của Công ty Toyota Việt Nam
11
11
Đồ án tốt nghiệp
Thực tế cho thấy, hiện nay chúng ta chưa có một nền công nghiệp ô tô thực
sự mà đơn thuần chỉ là ngành lắp ráp ô tô, mà lắp ráp cũng chưa đầy đủ. Hầu
như chưa có doanh nghiệp nào đầu tư vào chiều sâu của lắp ráp chứ chưa nói
mọi tầng lớp xã hội trên đất nước chúng ta.
Động cơ có công suất nhỏ làm động lực cho các máy xay xát, máy bơm
nước, máy kéo, máy phun thuốc trừ sâu, máy cắt cỏ…đang sử dụng chủ yếu ở
Việt Nam.
Trong giao thông vận tải đường thuỷ, động cơ nhỏ còn dùng cho tàu thuỷ
hoặc thuyền dân dụng. Trong giao thông đường bộ sử dụng cho các loại xe công
nông (đầu dọc, đầu ngang)…
Trong công nghiệp và xây dựng, động cơ nhỏ được sử dụng phổ biến ở
những cơ sở sản xuất nhỏ như máy ép vật liệu, máy cưa, máy cắt vật liệu, máy
trộn vật liệu xây dựng của các cơ sở tư nhân hoặc hợp tác xã.
Động cơ nhỏ cho đến nay và về lâu về dài vẫn là một nhu cầu sử dụng
không thể thiếu cho các ngành sản xuất.
1.3. Khái quát về các đặc tính của động cơ, các phương pháp xác
định đặc tính động cơ
1.3.1. Đường đặc tính của động cơ
Động cơ đặt trên các máy kéo và ô tô chủ yếu là động cơ đốt trong loại
pitông. Các chỉ tiêu năng lượng và tính kinh tế của động cơ được thể hiện rõ
trên đường đặc tính làm việc của nó. Tính chất hoạt động của động cơ ảnh
hưởng rất lớn đến tính năng sử dụng của ô tô máy kéo. Vì vậy cần thiết phải
nắm vững các đường đặc tính của động cơ để giúp cho việc giải quyết vấn đề
cơ bản trong lý thuyết ô tô máy kéo như nghiên cứu các tính năng kéo và tính
năng động lực học của máy kéo.
13
13
Đồ án tốt nghiệp
Các đường đặc tính của động cơ có thể chia làm 2 loại : đường đặc tính
tốc độ và đường đặc tính tải trọng.
1.3.2. Đường đặc tính tốc độ
Đường đặc tính tốc độ là đồ thị chỉ sự phụ thuộc của công suất hiệu dụng
N
14
14
Hình 1.6: Đường đặc tính tự điều chỉnh của động cơ Điezen.
n
NeMe Gege
Nn = Nemax
Memax
Me
Ne
Mn
ge
Ge
Geo
nM
nn
nck
Đồ án tốt nghiệp
Qua đó ta thấy rằng, ở chế độ tốc độ n
n
công suất động cơ đạt giá trị cực
đại N
emax
và chi phí nhiên liệu riêng đạt giá trị cực tiểu g
emin
, khi đó động cơ
làm việc có hiệu quả nhất và được gọi là chế độ làm việc danh nghĩa hoặc chế
độ làm việc định mức. ở chế độ này các chỉ tiêu của động cơ cũng có tên gọi
tương ứng : công suất định mức N
n
= N
trong thời gian dài, chỉ được phép sử dụng để khắc phục các hiện tượng quá
tải tức thời.
Ở nhánh quá tải, mô men quay vẫn tiếp tục tăng nhưng chậm và sau khi
đạt giá trị cực đại M
max
nếu tải trọng tiếp tục tăng lên thì mô men động cơ M
e
và tốc độ quay n sẽ giảm dần rồi ngừng quay vì lúc đó quá trình tự đốt cháy
nhiên liệu không thực hiện được. Do vậy động cơ chỉ có thể hoạt động được với
tải trọng M
c
< M
max
tương ứng với tốc độ quay n > n
M
.
Đối với động cơ xăng, đường đặc tính cũng có có dạng tương tự như động
cơ điê den, tuy nhiên nó cũng có những đặc điểm khác nhau nhất định. Trên
hình 1.7 là đường đặc tính tốc độ ngoài của động cơ xăng khi không có bộ phận
hạn chế số vòng quay (a) và khi có bộ phận hạn chế số vòng quay (b).
16
16
nmin
Đồ án tốt nghiệp
a) b)
Hình 1.7: Đường đặc tính tốc độ ngoài của động cơ xăng
a
−
không có hạn chế số vòng quay; b
−
số truyền và dẫn đến bị chết máy. Do vậy chỉ nên sử dụng công suất động cơ
nhỏ hơn công suất định mức và tất nhiên chỉ cho phép làm việc lâu dài ở
nhánh tự điều chỉnh. Mức độ sử dụng công suất động cơ được đánh giá bởi hệ
số sử dụng tải trọng :
γ = (1.2)
trong đó : M
c
- mô men cản đặt lên trục khuỷu;
M
n
- mô men quay định mức của động cơ.
Khi tính toán các chỉ tiêu kéo của máy kéo có thể chọn γ = 0,8 ÷ 0,9.
Đường đặc tính tốc độ ngoài được sử dụng như một tài liệu kỹ thuật để
đánh giá tính năng kinh tế - kỹ thuật của động cơ. Trong lý thuyết máy kéo
thường được sử dụng để tính toán tính năng kéo và tính năng động lực học
hoặc sử dụng để tính toán các chỉ tiêu sử dụng các liên hợp máy kéo (máy
kéo liên hợp máy công tác).
Việc xây dựng chính xác đường đặc tính của động cơ chỉ có thể tiến
hành bằng thực nghiệm. Tuy nhiên, nếu chấp nhận độ chính xác tương đối
cũng có thể sử dụng phương pháp giải tích kết hợp sử dụng một số công thức
hoặc hệ số thực nghiệm. Một trong những công thức hay được sử dụng là
công thức S.R. Lay Đecman, có dạng như sau :
18
M
M
c
n
18
Đồ án tốt nghiệp
(1.3)
hiệu dụng N
e
, số vòng quay của trục khuỷu n và chi phí nhiên liệu giờ G
T
với
mô men quay của động cơ M
e
. Đường đặc tính tải trọng có dạng như hình 1.8.
Về bản chất của các mối liên hệ giữa các thông số và cách xây dựng các
mối quan hệ đó hoàn toàn giống như đã phân tích trên đường đặc tính tốc độ.
Nhưng đường đặc tính tải trọng sẽ thuận lợi hơn cho một số vấn đề nghiên
cứu, nhất là khi nghiên cứu các tính năng kéo của máy kéo. Vì rằng, nhánh
điều chỉnh trong đường đặc tính tải trọng (tương ứng với khoảng thay đổi mô
19
N N a
n
n
b
n
n
c
n
n
e n
n n n
= +
NenGege
n
Ne
Ge
0
ge
Me
Memax
Mn
Hình 1.8: Đường đặc tính tải trọng của động cơ
Đồ án tốt nghiệp
men từ 0 đến M
n
) có thể bố trí được rộng hơn so với nhánh điều chỉnh ở
đường đặc tính tốc độ (trong khoảng n
n
- n
ck
). Nhờ đó khi xác định giá trị của
các thông số trên đồ thị sẽ chính xác hơn. Tuy nhiên, để đánh giá tính năng
kinh tế - kỹ thuật của động cơ thì đường đặc tính tốc độ thể hiện đầy đủ hơn,
dễ so sánh giữa các động cơ với nhau thông qua chi phí nhiên liệu riêng g
e
.
1.4. Tổng quan về sử dụng nhiên liệu sinh học hiện nay
1.4.1. Sử dụng nhiên liệu sinh học trên thế giới
Theo thông tin của EU tháng1/2007 tiêu thụ năng lượng toàn cầu đã tăng lên gấp
đôi từ 10 tỷ tấn qui ra dầu/năm tăng lên 22 tỷ tấn qui dầu/năm vào năm 2050.
Giáo sư Nghê Duy Đấu,Viện sĩ công trình Đại học Thanh Hoa (Bắc Kinh)
cho biết theo Bộ Năng lượng Mỹ và Uỷ ban năng lượng thế giới dự báo nguồn
lượng thay thế có thể tồn tại, tái sinh và điều chỉnh theo ý muốn của con người.
Hiên có 2 dạng năng lượng sinh học chủ yếu là ethanol sinh học và diesel
sinh học:
+) Ethanol sinh học
21
21
Đồ án tốt nghiệp
Ethanol là một loại nhiên liệu thay thế dạng cồn, được sản xuất bằng
phương pháp lên men và chưng cất các loại ngũ cốc chứa tinh bột có thể chuyển
hóa thành đường đơn, như bắp, lúa mì, lúa mạch. Ngoài ra, ethanol còn được sản
xuất từ cây, cỏ có chứa cellulose. Với nguyên liệu là tinh bột và đường nhờ quá
trình phân giải của vi sinh vật có thể sản xuất ra ethanol, sau đó tách nước bổ sung
các chất phụ gia thành ethanol biến tính gọi là ethanol nhiên liệu biến tính hay cồn
nhiên liệu.
Ethanol là chất phụ gia để tăng trị số Octane (trị số đo khả năng kích nổ) và
giảm khí thải độc hại của xăng. Trong chính sách năng lượng của mình, từ khối
EU đến Mỹ, Trung Quốc, Ôxtrâylia, Nhật Bản… đều chú trọng đến ứng dụng
ethanol.
Người ta dự báo nhu cầu nhiên liệu ethanol toàn cầu đến năm 2010 có thể tăng
gấp 4 lần, lên khoảng 80 tỷ lít, và chỉ trong 2 đến 3 năm nữa, các con tàu khổng
lồ chở ethanol sẽ xuôi ngược khắp các đại dương, như hình ảnh tàu chở dầu hiện
nay. Những chiếc xe chỉ chạy được bằng xăng sẽ phải nhường chỗ cho các thế
hệ xe chạy bằng ethanol. Lúc đó, sẽ diễn ra sự cạnh tranh gay gắt trong thị
trường nhiên liệu và cả trong thị trường xe hơi thế giới…
+) Diesel sinh học
Diesel sinh học nói riêng hay nhiên liệu sinh học nói chung là một loại năng
lượng tái tạo.Về phương diện hoá học diesel sinh học là methyl este của axit béo.
Dầu diesel sinh học được chế biến từ dầu thực vật và mỡ động vật.
Để sản xuất diesel sinh học người ta pha khoảng 10% mêtanol vào dầu thực vật
và dùng nhiều chất xúc tác khác nhau (đặc biệt là hiđrôxít kali, hiđrôxít natri và
được sử dung thay thế chất MTBE là chất phụ gia vào xăng đựoc coi là chất
ngấm vào nước ngầm có thể gây ung thư. Năm 2005 Mỹ có Luật năng lượng đề
ra tiêu chuẩn bắt buộc trong xăng tiêu dùng phải pha nhiên liệu sinh học với tỷ
lệ tăng dần hàng năm. Dự kiến đến 2017 hàng năm sản xuất 132 tỷ lít nhiên liệu
sinh học, giảm 20% lượng xăng. Hiện nay Mỹ có 114 nhà máy đang sản xuất
ethnol sinh học,79 nhà máy đang xây dựng, mở rộng 11 nhà máy và 200 nhà
máy sẽ hoạt động vào tháng 9 năm 2008. Hãng dầu mỏ lớn thứ 3 nước Mỹ là
Conoco Phillips sẽ đầu tư 22,5 triệu USD cho đại học Iowa State University
(ISU, Mỹ) trong 8 năm để phát triển các công nghệ sinh học mới.
Mới đây tại Hội nghị năng lượng sinh học Trường đại học Georgia (Mỹ),
giáo sư vật lý đã nghỉ hưu 70 tuổi - hiện là lão nông – Zimmy Grine đã giới
thiệu một loại ethanol nhiên liệu được chưng cất từ lúa mì và lạc. Theo tính toán
về nhiệt lượng thì 1,5 lít ethanol có thể thay thế 1 lít xăng. Nếu pha ethanol với
xăng thì tuỳ theo độ tinh khiết của chúng có thể giảm lượng xăng từ 10 đến 15%
mà công suất và hiệu suất mài mòn động cơ không đổi.
Ấn Độ dự kiến số ô tô của quốc gia này vào năm 2007 là 10 triệu chiếc và
hàng năm nhu cầu nhập dầu mỏ của họ tăng khoảng 10%. Năm 2004 trong tổng
số 114 triệu tấn dầu của quốc gia này có đến 75 % là nhập từ nước ngoài với số
tiền là 26 tỷ USD. Trong báo cáo năm 2003 của Uỷ ban phát triển nhiên liệu
sinh học của Ấn Độ cho rằng khả năng sản xuất 29 triệu lít cồn ethanol của họ
đủ tạo ra hỗn hợp nhiên liệu 5% cồn cho đến kế hoạch lần thứ 12.
24
24
Đồ án tốt nghiệp
Braxin sản xuất 14 tỷ lít cồn (tương đương 20 vạn thùng) từ cây mía. Luật
pháp nước này qui định tất cả các loại xe phải sử dụng xăng pha với 22% cồn
ethanol và nước này đã có 20% số lượng xe chỉ dùmg cồn ethanol. Chương trình
sản xuất cồn này của họ tạo việc làm cho 1 triệu người và tiết kiệm được 60 tỷ
USD tiền nhập dầu trong 3 thập kỷ qua. Số tiền này lớn gấp 10 lần chi cho
chương trình trên và gấp 50 lần số tiền trợ cấp ban đầu.Từ sau 1985 sản lượng