Phong trào giải phóng dân tộc ở các nước Đông Nam Á sau chiến tranh
thế giới thứ hai
Phần I: Mở Đầu:
1. Lý do chọn đề tài:
Đông Nam Á là một vùng đất có tài nguyên thiên nhiên phong phú. Trong quá
trình phát triển Đông Nam Á cũng đã trải qua nhiều thăng trầm và biến động,
nhất là trong thời kì diễn ra những cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc của quần
chúng nhân dân phát triển rất mạnh mẽ. Với sự ra đời và lãnh đạo tài tình của các
lược lượng giải phóng dân tộc và mặt trận dân tộc đã chèo chống “con thuyền”
đấu tranh chống lại sự xâm lược của các nước thực dân phương Tây và phát xít
Nhật qua những chặng đường rất khó khăn trong một thời gian dài.
Với đề tài “phong trào giải phóng dân tộc ở các nước Đông Nam Á sau chiến
tranh thế giới thứ hai”, tôi muốn làm rõ hơn về sự hình thành và phát triển của
cách mạng các nước,đã lựa chọn cho mình những con đường khác nhau phù hợp
với hoàn cảnh từng giai đoạn lịch sử của mỗi nước cụ thể trong cuộc đấu tranh
của dân tộc, để tiến tới xây dựng đất nước phát triển . Qua đó giúp bạn đọc có
một cách nhìn toàn diện và sâu sắc hơn về vấn đề này.Đồng thời cũng góp phần
tíh cực vào công việc học tập và giảng dạy môn học lịch sử thế giới nói chung và
phần lịch sử Đông Nam Á nói riêng của tôi sau này.
Tuy đã có nhiều cố gắng và nhưng đề tài này của tôi không thể tránh những hạn
chế và thiếu sót, vì vậy mong nhậnh được sự góp ý kiến của thầy cô hướng dẫn,
các thầy cô trong bộ môn lịch sử cũng như bạn đọc để đề tài được hoàn thiện
hơn.
Xin chân thành cám ơn!
Sinh viên: Nguyễn Thị Bích
1
Lớp: ĐHSP Văn – Sử K51
trình bày một số ý kiến riêng của mình.
Sinh viên: Nguyễn Thị Bích
2
Lớp: ĐHSP Văn – Sử K51
Phong trào giải phóng dân tộc ở các nước Đông Nam Á sau chiến tranh
thế giới thứ hai
5. Đóng góp của đề tài:
Thông qua các vấn đề nêu trên của Đông Nam Á đề tài này của tôi đã tập
trung làm rõ phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở các nước Đông Nam Á
sau chiến tranh thế giới thứ hai đã phát triển một cách rực rỡ trong giai đoạn này,
thể hiện tinh thần đoàn kết của các nước trong khu vực để đi đến thắng lợi cuối
cùng của đất nước là hoàn toàn độc lập .
Qua đó cũng cho chúng ta thấy rõ hơn sự phát triển của ý thức hệ các nước
trong việc lựa chọn cho mình con đường đi riêng để hoàn thành cuộc đấu tranh
của dân tộc. Việc tìm hiểu các vấn đề phong trào giải phóng dân tộc có thể rút ra
những bài học kinh nghiệm bổ ích, có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc về cuộc đấu tranh
của nhân dân Đông Nam Á trong công cuộc hoàn thành nền độc lập dân tộc để
hướng tới xây dựng và phát triển của đất nước.
6.Cấu trúc của đề tài:
Ngoài phần mở đầu và phần kết thúc đề tài của tôi còn có các nội dung chính
như sau:
Phần nội dung:
a.Chương I: Khái quát bối cảnh lịch sử Đông Nam Á trong chiến tranh thế giới
thứ hai.
- ĐôngTimo.
Sinh viên: Nguyễn Thị Bích
4
Lớp: ĐHSP Văn – Sử K51
Phong trào giải phóng dân tộc ở các nước Đông Nam Á sau chiến tranh
thế giới thứ hai
Phần II: NỘI DUNG
Chương I: KHÁI QUÁT BỐI CẢNH LỊCH SỬ ĐÔNG NAM Á
TRONG CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ II
1. Phong trào giải phóng dân tộc ở Đông Nam Á trước chiến tranh thế giới
thư hai
Đông Nam Á là một khu vực khá rộng lớn, có diện tích khoảng 4,5 triệu
km2, với số dân 528 triệu người ( năm 2000), nằm khoảng 92 0 đến 1400 kinh
Đông và từ 280 vĩ Bắc, chạy qua xích đạo đến 150 vĩ Nam. Hiện nay, Đông Nam
Á gồm có 11 nước: Việt Nam , Lào, Campuchia, Thái Lan, Mianma, Xingapo,
Inđônêxia, Philippin, Brunây, ĐôngTimo, Malaixia.
Đông Nam Á được xem là một khu vực có ý nghĩa quan trọng trong tiến
trình phát triển lịch sử của loài người. Với vị trí chiến lược quan trọng về quân
sự, thương mại, hàng hải, hàng không quốc tế nối liền Châu Á với các Châu lục
còn lại . Đông Nam Á còn được xem như là chiếc cầu nối là đầu nối giao thông
quan trọng giữa Đông và Tây. Bên cạnh đó, trong quá trình phát triển các quốc
gia cư dân Đông Nam Á có một đời sống khá cao. Đến thế kỷ XVI Đông Nam Á
đã nổi lên như một trong những trung vị trí địa lý quan trọng , giàu tài nguyên
thiên nhiên nên Đông Nam Á sớm trở thành trung tâm văn minh một khu vực địa
giải phóng dân tộc theo con đường mới mang tư tưởng dân chủ tư sản.
Do sự xâm nhập của chủ nghĩa thực dân phương Tây, cơ cấu kinh tế - xã
hội của các nước Đông Nam Á bị xáo trộn một cách nghiêm trọng. Cùng với các
chính sách khai thác và bóc lột thuộc địa sử dụng chính sách thống trị triệt phá
nền kinh tế tự nhiên, tự cung, tự cấp đã lôi cuốn các nước Đông Nam Á vào bộ
máy sản xuất tư bản chủ nghĩa . Trong xã hội sự phân hóa giai cấp cũng diễn ra
một cách gay gắt hơn trên nền tảng của yếu tố tư bản chủ nghĩa .Với sự ra đời của
giai cấp tư sản đã đưa đến sự hình thành của hai khuynh hướng đấu tranh trong
phong trào giải phóng dân tộc của các quốc gia Đông Nam Á . Một khuynh
hướng chủ trương đấu tranh theo con đường bạo lực cách mạng và một con
đường chủ trương đấu tranh theo con đường cải lương. Bên cạnh các phong trào
đấu tranh do giai cấp tư sản lãnh đạo thì vào các thập niên 20 - 40 của thế kỷ
XX. Ở Đông Nam Á phong trào giải phóng dân tộc khu vực xuất hiện một xu
Sinh viên: Nguyễn Thị Bích
6
Lớp: ĐHSP Văn – Sử K51
Phong trào giải phóng dân tộc ở các nước Đông Nam Á sau chiến tranh
thế giới thứ hai
hướng cứu nước mới theo sự dẫn dắt của ý thức hệ tư tưởng Vô sản . Với thắng
lợi của cách mạng tháng mười Nga đã tác động một cách mạnh mẽ đến phong
trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở các nước khu vực theo xu hướng vô sản . Vì
vậy, cuộc đấu tranh của nhân dân Đông Nam Á chống ách thống trị của chủ
nghĩa thực dân phương Tây đã diễn ra dưới những sắc thái khác nhau nhưng cốt
lõi là sự khơi dậy của ý thức dân tộc và tinh thần dân chủ.
Cùng với sự xuất hiện và tồn tại song song hai xu hướng cách mạng tư sản
thế giới thứ hai
ngay càng đậm nét với mục tiêu đấu tranh giành độc lập cho dân tộc của nhân
dân Inđônêxia .
Trên cơ sở đó năm 1912 , các phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc của
nhân dân Inđônêxia đã đưa đến sự ra đời của Đảng cộng sản Inđônêxia, sau đổi
thành Đảng Quốc Dân, đã đấu tranh sôi nổi những năm 1926-1927, thì cuộc khởi
nghĩa của Xumatơra do Đảng Cộng sản lãnh đạo đã bị thất bại . Tuy rằng, bị thất
bại nhưng cơn bão táp cách mạng của quần chúng dưới sự lãnh đạo của Đảng
Cộng sản đã làm rung chuyển nền thống trị của thực dân Hà Lan ở Inđônêxia.
Sau thất bại của Đảng Cộng sản từ năm 1927 quyền lãnh đạo phong trào
cách mạng chuyển vào tay giai cấp tư sản dân tộc, đứng đầu là Xucácno. Với chủ
trương chống đế quốc, đoàn kết các lực lượng dân tộc, tiến hành đấu tranh dân
tộc bằng biện pháp hòa bình, và bằng phong trào bất hợp tác với chính quyền
thực dân. Đảng dân tộc đã chống giành được uy tín chính trị và trở thành lực
lượng dẫn dắt phong trào giải phóng dân tộc ở Inđônêxia .
Ở Philippin: Với đại diện của phong trào cách mạng theo khuynh hướng
cải lương là Hêxêridan. Sự chuẩn bị kỉ lưỡng về mặt chính trị, tư tưởng cho cuộc
đấu tranh chống thực dân Tây Ban Nha như qua các tác phẩm “ Đừng đụng đến
tôi”. Song Hêxêridan chủ tương đấu tranh bằng con đường hòa bình thông qua
việc đòi Philippin trở thành một tỉnh của Tây Ban Nha, yêu cầu khôi phục đại
diện của Philippin trong nghị viện Tây Ban Nha và đòi bình đẳng pháp luật cùng
với các quyền tự do dân chủ, tự do hội họp. Ngoài ra, ông còn đòi thủ tiêu các tòa
án dị giáo và hạn chế các đặc quyền đặc lợi của tầng lớp tăng lữ. Năm 1892,
Hôxêridan thành lập tổ chức “ Liên minh Philippin” thu hút chủ yếu các tầng lớp
tri thức, thương nhân ngoài ra còn có địa chủ, một số công nhân và nông dân. Với
chủ trương đường lối cải lương, ôn hòa để đòi cải cách, đòi bình đẳng giữa người
Tây Ban Nha và người Philippin, hạn chế các quyền của tăng lữ … vv. Sau một
thời gian hoạt động do không được sự ủng hộ của nhân dân nên tan rã.
Sinh viên: Nguyễn Thị Bích
Ở Mã Lai, đầu thế kỷ XX, với sự ra đời của tổ chức “Đại hội toàn Mã
Lai”. Phong trào đã chủ trương đòi quyền tự trị nhưng do sự khác biệt về tôn
giáo và dân tộc nên bị thực dân làm trở ngại cho việc tập hợp lực lượng thống
nhất trong cuộc đấu tranh chống lại thực dân Anh vì nền độc lập tự do của Mã
Lai.
Sinh viên: Nguyễn Thị Bích
9
Lớp: ĐHSP Văn – Sử K51
Phong trào giải phóng dân tộc ở các nước Đông Nam Á sau chiến tranh
thế giới thứ hai
Ở Miến Điện (Myanma), có “Phong trào Tha kin” đây là cuộc đấu tranh
đòi cải cách quy chế đại học đòi tự trị của sinh viên Miến Điện trong những năm
30 của thế kỷ XX (phong trào của những người làm chủ đất nước).
Cùng với phong trào xu hướng tư sản đã xuất hiện từ trước, xu hướng vô
sản trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc ở Đông Nam Á đã nhanh chóng phát
triển . Trong giai đoạn 5 năm 1920, Đảng cộng sản Inđônêxia được thành lập đại
diện cho nguyện vọng của nhân dân. Thì ở Việt Nam, sau thất bại của phong trào
Cần Vương, phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc đã chuyển sang một hướng
mới đánh dấu bước tiến mới trong phong trào giải phóng dân tộc của Việt Nam.
Bên cạnh đó phong trào Đông Du, Đông Kinh Nghĩa Thục và những cuộc vận
động Duy Tân theo khuynh hướng tư sản còn có phong trào đấu tranh yêu nước
của quần chúng nhân dân chống lại ách thống trị của thực dân pháp. Tuy nhiên
các phong trào ấy đều bị thất bại do thiếu của một sự lãnh đạo của một giai cấp
tiên tiến cách mạng , các phong trào chỉ mới là sự nổi dậy mà chưa có đường lối
cứu nước đúng đắn. Trên cơ sở đó Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đã đánh dấu
Phong trào giải phóng dân tộc ở các nước Đông Nam Á sau chiến tranh
thế giới thứ hai
công Lạng Sơn và đổ bộ vào Hải Phòng, mở đầu cho cuộc chinh phục Đông Nam
Á của Nhật.
Cũng từ đây, cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa phát xít Nhật đã trở thành
nội dung chính của phong trào giải phóng dân tộc lúc này. Đồng thời, cũng để
hòa nhập với phong trào dân chủ chống phát xít trên thế giới, nhân dân Đông
Nam Á đã đấu tranh làm cho cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa phát xít ngày càng
sôi nổi và mạnh mẽ hơn.
a.
Nhật xâm chiếm Đông Nam Á.
Với sự hình thành và phát triển mạnh mẽ của chủ nghĩa phát xít Đức,
Italia, Nhật đã làm cho tình hình thế giới càng thêm bất ổn. Sau sự kiện 1-9-1939,
chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ. Tháng 5-1940, Đức tấn công Pháp, sau đó
Pháp đầu hàng. Ở Viễn Đông, quân phiệt Nhật đã đẩy mạnh chiến tranh xâm lược
Trung Quốc và cho quân tiến sát hơn tới biên giới Việt- Trung.
Ngày 22/9/1940, Nhật gửi tối hậu thư cho Pháp đòi thi hành hiệp định
Tôkiô. Cũng trong ngày này, Nhật đã cho quân vượt biên giới Việt – Trung tấn
công Lạng Sơn và ném bom Hải Phòng rồi đổ bộ lên Đồ Sơn mở đầu cho cuộc
chinh phục Đông Nam Á của phát xít Nhật.
Với sự lớn mạnh của phe phát xít trên thế giới, ở Đông Dương. Ngày 23-9,
Pháp kí hiệp định chấp nhận quân Nhật chiếm toàn bộ Đông Dương thuộc Pháp,
biển Đông Dương thành căn cứ chiến lược trong kế hoạch tiến quân cứ phía Nam
của họ. Sau sự kiện Trân Châu Cảng (17-12-1941), Nhật đã tự do xâm chiếm
Đông Nam Á tấn công xâm lược với tốc độ nhanh. Cùng với ngày Nhật tấn công
Trân Châu Cảng, quân đội Nhật đã đổ bộ vào bán đảo Mã Lai ném bom Xingabo.
Cùng với quá trình đẩy mạnh xâm lược ở Đông Nam Á, ở giai đoạn đầu Nhật đã
kéo người bản địa ủng hộ người Nhật, chống lại thực dân phương Tây, thậm chí
gây ảo tưởng cho họ, và hứa hẹn một trật tự mới và nền độc lập cho các nước
Đông Nam Á, thành lập các chính phủ thân Nhật…Vì thế mà không ít người ở
Đông Nam Á như Xucácnô, Hat - ta của Inđônêxia, Phan Bội Châu ở Việt
Nam… đã hy vọng dựa vào Nhật để thoát khỏi thực dân Phương Tây, lấy lại nền
độc lập dân tộc mà họ đã đổ bao xương máu nhưng chưa được.
Về kinh tế: Sau khi chiếm đóng toàn bộ Đông Nam Á, quân Nhật đã thực
hiện chính sách áp bức, bóc lột một cách tàn bạo ở các nước thuộc địa. Mục đích
là khai thác các nguồn nguyên liệu, nhiên liệu, phục vụ chiến tranh và làm giàu
cho nước Nhật,các công ty của Nhật đóng ở khắp mọi nơi: Công ty Mítsubisi
khai thác đốt phá ở Đông Dương, khống chế xưởng tàu ở Xingapo , cao su, thiếc
Sinh viên: Nguyễn Thị Bích
13
Lớp: ĐHSP Văn – Sử K51
Phong trào giải phóng dân tộc ở các nước Đông Nam Á sau chiến tranh
thế giới thứ hai
ở Mã Lai.. Với sự bóc lột nặng nề của chủ nghĩa phát xít Nhật ở những năm 1944
-1945, đã đẩy nhân dân Đông Nam Á vào tình cảnh khốn khổ, đói kém như ở
Việt Nam, Inđônêxia, Philíppin…hàng triệu người dân bị điều động đi đắp hào,
đường sá, cầu cống, phục vụ cho cuộc chiến tranh của quân đội Nhật.
Với chính sách bóc lột tàn bạo của Nhật đã gây ra sự phản ứng một cách
mạnh mẽ của các nước Đông Nam Á, kể cả những người thân Nhật. Với sự áp
bức,bóc lột như vậy, đã thúc đẩy nhân dân Đông Nam Á nổi lên cao trào chống
Nhật cứu nước
b.Cuộc đấu tranh chống phát xít của nhân dân Đông Nam Á:
phát động tập hợp đoàn kết toàn dân tộc chuẩn bị các lực lượng chính trị, lực
lượng vũ trang, căn cứ địa cách mạng chuẩn bị chớp lấy thời cơ tổng khởi nghĩa
giành chính quyền tạo nên thắng lợi lớn của cách mạng Tháng Tám năm 1945.
Ở Lào: Sau khi phát xít Nhật đầu hàng đồng minh, cộng với thắng lợi lớn
của cách mạng Tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam, ngày 23/08/1945, nhân dân
Lào đã nổi dậy giành chính quyền, Chính phủ Lào ra mắt quốc dân và trịnh trọng
tuyên bố trước thế giới nền độc lập của nước Lào.
Ở Campuchia: Tuy thời cơ cách mạng đến nhưng do tình hình bất ổn,
Campuchia không có những thuận lợi như cách mạng Việt Nam và Lào. Vì thế đã
bỏ lỡ cơ hội giành độc lập. Đến khi Pháp xâm chiếm lại, chính quyền nhà nước
Campuchia vẫn nằm trong tay Xihanúc và thủ tướng Sơn Ngọc Thành.
Với tháng lợi của cách mạng Tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam, Lào đã
làm cho phong trào giải phóng dân tộc ở các nước còn lại ở Đông Nam Á, phong
trào nổi lên sôi nổi và ngày một mạnh mẽ hơn.
Ở Philíppin: Năm 1941, quân đội Nhật đổ bộ vào chiếm đóng và thiết lập
nền thống trị với chính phủ bù nhìn được dựng lên ngày 23/1/1942, các đảng phái
chính trị ở trong nước bị giải tán. Cũng như ở các nước khác Nhật thực hiện trao
trả “độc lập” và giúp đỡ nhóm những người thân nhật tuyên bố thành lập Cộng
hòa Philippin vào ngày 14/10/1943 do Giôsêloren làm tổng thống. Năm 1942,
Mặt trận dân tộc dân chủ thống nhất chống phát xít được thành lập sau đổi thành
Quân đội nhân dân chống Nhật gọi là Hukbalahap, do những người Cộng sản
lãnh đạo đây là đội quân nồng cốt trong cuộc kháng chiến chống Nhật . Dưới sự
lãnh đạo của Đảng Cộng sản phong trào kháng Nhật cứu nước nổi lên một cách
mạnh mẽ ở hầu hết Philippin dưới mọi hình thức đấu tranh. Với sự kết hợp giữa
giai cấp tư sản dân tộc với các tổ chức yêu nước chống Nhật như “ Philippin tự
do”, “Người thợ săn” v.v… hợp tác với “Quân đội nhân dân đấu tranh chống
Nhật”. Trong quá trình kháng chiến chống Nhật cứu nước , Quân đội Philippin
Sinh viên: Nguyễn Thị Bích
lượng vũ trang chống Nhật ở Miến Điện liền phối hợp mở cuộc phản công chóng
chủ nghĩa phát xít Nhật, và chiếm được thủ đô Rangu. Tháng 8-1945, quân nhật
đầu hàng vô điều kiện. Sau khi chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, nhân dân
Miến Điện cũng đã bước vào thời kỳ cuối trong cuộc đấu tranh chống Anh, giải
phóng đất nước .
Sinh viên: Nguyễn Thị Bích
16
Lớp: ĐHSP Văn – Sử K51
Phong trào giải phóng dân tộc ở các nước Đông Nam Á sau chiến tranh
thế giới thứ hai
Ở Mã Lai : Năm 1942, “Liên minh nhân dân Mã Lai” ra đời cùng với các
đơn vị quân đội nhân dân chống Nhật . Lúc đầu, giai cấp vô sản chiếm ưu thế hơn
giai cấp tư sản trong vai trò đấu tranh, song trong quá trình phát triển cuộc đấu
tranh giai cấp vô sản tụt lại, bỏ rơi mất ngọn cờ lãnh đạo .
Năm 1943, giai cấp tư sản nắm ngọn cờ lãnh đạo trong cuộc chiến đấu
chống Nhật. Các phong trào đấu tranh sôi nổi hơn khi Quân đội nhân dân kháng
Nhật tiến hành chiến tranh du kích, tấn công trực tiếp vào quân đội Nhật phá hoại
giao thông đường sắt và đến năm 1945, đã làm tê liệt hệ thống giao thông của
Nhật khi quân đội Anh tấn công vào.
Sau khi quân Nhật đầu hàng, Quân đội nhân dân kháng Nhật của Mã Lai
đã tiến hành giải giáp quân Nhật và “Quân đội quốc gia Ấn Độ”. Tháng 9-1945,
hơn 250.000 quân Anh trở lại Mã Lai và thiết lập chế độ ở đây với lý do giải giáp
tán quân đội nhân dân kháng Nhật. Như vậy, tuy nhân Mã Lai đã rất nổ lực trong
việc kháng chiến chống Nhật, nhưng họ đã lỡ mất cơ hội để tuyên bố độc lập, khi
quân đội Anh với danh nghĩa Đồng minh trở lại bán đảo Mã Lai. Nhân Mã lai lại
các nước này đã bị bỏ lỡ, quân Mĩ trở lại Philippin,quân Anh trở lại Miến Điện,
Mã Lai, Xingapo và Brunây… Đặc biệt với tần góc vĩ đại của cuộc cách mạng
tháng 8 -1945 và bản tuyên ngôn độc lập ngày 2-9-1945 ở Việt Nam trở thành
một trường hợp điển hình của phong trào giải phóng dân tộc ở Đông Nam Á. Và
trên thế giới.
Với cao trào kháng Nhật cứu nước đã làm cho phong trào đấu tranh của
nhân dân Đông Nam Á thêm mạnh mẽ hơn với sự lãnh đạo tài tình của Đảng
Cộng sản. Thể hiện được tinh thần đoàn kết dân tộc của các nước trong khu vực
Đông Nam Á đã cùng nhau chống lại kẻ thù chung . Đến đây, đã khép lại một
thời kỳ đấu tranh giải phóng dân tộc của các nước Đông Nam Á và mở ra một
thời kỳ mới trong phong trào đấu tranh giành độc lập của các dân tộc .
Sinh viên: Nguyễn Thị Bích
18
Lớp: ĐHSP Văn – Sử K51
Phong trào giải phóng dân tộc ở các nước Đông Nam Á sau chiến tranh
thế giới thứ hai
Chương II: Phong trào giải phóng dân tộc ở Đông
Nam Á sau chiến tranh thế giới thứ hai.
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở
Đông Nam Á phát triển lên một giai đoạn mới. Hai con đường đấu tranh giải
phóng dân tộc được hình thành trước chiến tranh thế giới thứ hai đã thể hiện rõ
nét trong thực tiễn đấu tranh giải phóng ở hai nhóm nước: Đông Dương và các
nước còn lại của khu vực Đông Nam Á. Với sự phát triển cao của phong trào giải
phóng dân tộc ở Đông Nam Á trong những năm cuối của chiến tranh thế giới thứ
khỏi lãnh thổ miền Bắc Việt Nam, Lào, Cămpuchia.
Ngay sau khi thực dân Pháp bị đánh bại, đế quốc Mỹ liền tìm mọi cách để
hất cẳng Pháp và phát động cuộc chiến tranh xâm lược, nhằm biến ba nước Đông
Dương thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của Mỹ. Một lần nữa nhân
dân Việt Nam, Lào, Cămpuchia lại sát cách cùng nhau chiến đấu chống lại kẻ thù
chung. Thắng lợi to lớn của cách mạng Việt Nam năm 1975 đã cổ vũ mạnh mẽ và
tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân Lào,Cămpuchia tiến lên giành thắng lợi
hoàn toàn.
Ở các nước khác sau khi thực dân quay trở lại xâm lược thì ở Inđônêxia
phong trào chống thực dân Hà Lan càng trở nên rầm rộ hơn. Ở Malixia phong
trào chống thực dân Anh… Cuối cùng các phong trào đấu tranh giành độc lập của
các nước Đông Nam Á, cũng đi đên thắng lợi cuối cùng bằng những con đường
và khoảng thời gian khác nhau. Đã hoàn thành cuộc đấu tranh giành độc lập của
mình tùy theo những điều kiện lịch sử cụ thể và tương quan lưc lượng giữa các
giai cấp xã hội trong từng nước.
1. Cách mạng Lào 1945 đến 1975:
Sau khi chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, thực dân Pháp liền đem quân
trở lại xâm lược Đông Dương. Váo tháng 3-1946 quân Pháp tấn công xâm lược
Lào. Cuộc đấu tranh giành độc lập chống lại sự xâm lược của Pháp và can thiệp
của Mỹ, cách mạng Lào từ năm 1945 đến 1975 trải qua hai giai đoạn:
a. Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp 1945-1954:
Tháng 8-1945, phát xít Nhật đầu hàng vô điều kiện. Ở Việt Nam cách
mạng tháng 8 bùng nổ và đưa lại những thành công rực rỡ. Nắm được thời cơ,
nhân dân Lào đã vùng dậy giành chính quyền từ tay phát xít Nhật và bọn phong
kiến tay sai. Ngày 12/10/1945, nhân dân thủ đô Viêng Chăn khởi nghĩa giành
chính quyền. Chính phủ Lào ra mắt quốc dân và trịnh trọng thông báo trước thế
Sinh viên: Nguyễn Thị Bích
20
dịch Hạ Lào, quân dân Lào đã giải phóng hoàn toàn tỉnh Atơpơ và một phần tỉnh
Xavanavan. Đầu năm 1954, quân dân Lào đã giải phòng tỉnh Phôngxalì, phần lớn
tỉnh Luông Pha Băng, phá vỡ phòng tuyến sông Nậm Hu, phối hợp trực tiếp với
chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ của nhân Việt Nam, góp phần đưa đến thất bại
Sinh viên: Nguyễn Thị Bích
21
Lớp: ĐHSP Văn – Sử K51
Phong trào giải phóng dân tộc ở các nước Đông Nam Á sau chiến tranh
thế giới thứ hai
thảm hại của thực dân Pháp và sự can thiệp của Mĩ. Không tiếp tục chiến tranh
được nữa đế quốc Pháp buộc phải ký hiệp định Giơnevơ vào tháng 7-1954, lập lại
hòa bình ở Đông Dương. Pháp phải công nhận nền độc lập chủ quyền và toàn vẹn
lãnh thổ ở Việt Nam, Lào, Campuchia công nhận địa vị hợp pháp của lực lương
cách mạng Lào và thừa nhận hai Tỉnh tập kết Phongxalì và Sầm Nưa là khu vực
quản lý trực tiếp của lực lượng cách mạng Lào.
Tuy nhiên sau hiệp định Giơnevơ, Mĩ lập tức hách cẳng Pháp độc chiếm
Lào, âm mưu biến Lào thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của Mĩ. Từ
đây nhân dân Lào cũng như nhân dân Việt Nam, Cămpuchia sát cánh cùng nhau
chiến đấu chống kẻ thù chung.
b.
Cuộc kháng chiến chống Mĩ xâm lược 1945-1975:
Bằng những chính sách “viện trợ” về kinh tế và quân sự, Mĩ đã dần nắm
được quyền chi phối về kinh tế và quyền chỉ huy quân sự của chính phủ phản
đôi, tăng số cố vấn quân sự Mĩ lên 5000 người đưa nhiều đơn vị đánh thuê Thái
Lan sang tham chiến ở Lào. Cùng thời điểm đó với chiến tranh “Đặc Biệt” năm
1969 quân và dân Lào đã từng bước đánh bại các kế hoạch leo thang chiến tranh
của đế quốc Mĩ.
Năm 1970 chiến thắng lớn ở cánh đồng Chum-Xiêm khoảng, năm 1971
phối hợp với quân tình nguyện Việt Nam, quân Lào đã đập tan cuộc chiến lược
mang tên Lam Sơn 719. Chỉ tính từ 1967-1973, quân Lào đã loại khỏi vòng chiến
đấu 111.400 tên địch, bắn rơi và phá hủy 1.510 máy bay, thu và phá huỷ 30.092
súng các loại. Vì vậy, ngày 21-2-1973 Mĩ và tay sai buộc phải ký kết hiệp định
Viên Chăn lập lại hòa bình thực hiện hoà hợp dân tộc ở Lào. Chính Phủ Liên
hiệp dân tộc lâm thời và Hội đồng Quốc giai chính trị liên hiệp được thành lập.
Đã tạo điều kiện thuận lợi để đưa cách mạng tiên lên bước phát triển mới.
Thắng lợi to lớn của cách mạng Việt Nam ngày 30-4-1975 đã cổ vũ và tạo
điều kiện cho cách mạng Lào tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn. Dưới sự lãnh
đạo của Đảng nhân dân cách mạng Lào, tháng 5-1975 đến tháng 12-1975, nhân
dân Lào đã nổi dậy và giành được toàn bộ chính quyền trong cả nước. Ngày 212-1975 nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào chính thức được thành lập. Cũng
từ đó cách mạng Lào bước sang thời kỳ triển mới-xây dựng chế độ dân chủ nhân
dân rồi tiến lên theo định hướng chế độ Xã hội chủ nghĩa.
2.Cách mạng Việt Nam:
a. Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược 1945-1954:
Sinh viên: Nguyễn Thị Bích
23
Lớp: ĐHSP Văn – Sử K51
Phong trào giải phóng dân tộc ở các nước Đông Nam Á sau chiến tranh
thế giới thứ hai
24
Lớp: ĐHSP Văn – Sử K51
Phong trào giải phóng dân tộc ở các nước Đông Nam Á sau chiến tranh
thế giới thứ hai
Hiệp định Sơ Bộ 6-3 và Tạm ước 14-9-1946) để tranh cuộc chiến tranh lần thứ
hai của Pháp vào Việt Nam nhưng không thành. Ngày 19-12-1946 Hồ Chủ Tịch
đã đọc lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến và phát lệnh ra quân và dân cả nước
đồng loạt đứng lên kháng chiến chống Pháp: “ Chúng ta muốn hòa bình ,chúng
ta phải nhân nhượng , thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp
nước ta lần nữa.
Không ! Chúng ta thà hi sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước,
nhất định không chịu làm nô lệ…!”(trích lịch sử 12)
Với cuộc chiến đấu ở các đô thị trong hai tháng cuối năm 1946 và đầu năm
1947, quân và dân ta đã làm phá sản bước đầu kế hoạch đánh nhanh thắng nhanh
với thực dân Pháp. Với đường lối vừa kháng chiến vừa kiến quốc, toàn dân toàn
diện và tự lực cánh sinh quân và dân ta đã liên tục chiến thắng địch trong các
chiến dịch quan trọng từ Việt Bắc Thu Đông năm 1947, Biên Giới năm 1950 ,
Hòa Bình 1951, Đông Xuân 1953-1954 và Điện Biên Phủ năm 1954. Thực dân
Pháp từ thế chủ động tiến công ( ở chiến dịch Việt Bắc) buộc phải chuyển sang
thế đánh lâu dai với ta rồi mất quyền chủ động( sau chiến dịch Biên Giới ) và thất
bại trong Đông Xuân 1953-1954 và chiến dịch Điện Biên Phủ.
Sau 9 năm tiến hành chiến tranh với sự giúp đở của Mỹ nhưng lại thất bại
thảm hại, thực dân Pháp buộc phải kí Hiệp định Giơnevơ công nhận độc lập chủ
quyền toàn vẹn lãnh thổ của Viêt Nam. Nhân dân ta dưới sự lãnh đạo sáng suốt
của Đảng và Chủ Tịch Hồ Chí Minh, kết hợp hai ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ
nghĩa xã hội đã tạo nên sức mạnh to lớn để đánh bại thực dân Pháp và sự can