TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
TRẦN THỊ THU HIỀN
MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÕNG NGỪA
PHẠM TỘI TRONG HỌC SINH TRƯỜNG
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG YÊN THỦY C,
HUYỆN YÊN THỦY, TỈNH HÕA BÌNH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục quốc phòng - an ninh
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:
Thƣợng tá - ThS. PHẠM VĂN DƢ
HÀ NỘI - 2014
LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Thượng tá - ThS. Phạm Văn Dư;
người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và truyền đạt kinh nghiệm cho em trong
suốt thời gian qua để em hoàn thiện tốt khoá luận cuả mình
Em xin bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy cô trong trường ĐHSP Hà Nội 2;
đặc biệt là các thầy cô trong Trung tâm Giáo dục quốc phòng - an ninh Hà
Nội 2 và gia đình đã tạo điều kiện giúp đỡ em hoàn thiện khoá luận này.
Em cũng xin cảm ơn các thầy cô giáo và các em học sinh của Trường
THPT Yên Thuỷ C đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong suốt thời gian thực hiện
khóa luận.
Trong quá trình nghiên cứu đề tài này, do điều kiện hạn hẹp về thời gian
và do sự hạn chế về kiến thức nên khoá luận của em không tránh khỏi những
thiếu sót. Vì vậy, em rất mong đựơc sự chỉ bảo, đóng góp ý kiến của các thầy
Học sinh
NXB
Nhà xuất bản
PGS.TS
Phó giáo sư.Tiến sĩ
TS
Tiến sĩ
ATXH
An toàn xã hội
CSGT
Cảnh sát giao thông
TTATGT
Trật tự an toàn giao thông
UBND
Ủy ban nhân dân
Chƣơng 2. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC PHÕNG NGỪA PHẠM TỘI
TRONG HỌC SINH TRƢỜNG THPT YÊN THUỶ C. ........................... 25
2.1. Đặc điểm tình hình an ninh ở địa phương và trường trung học phổ thông
Yên Thuỷ C. .................................................................................................... 25
2.2. Công tác phòng ngừa phạm tội trong HS trường THPT Yên Thuỷ C ..... 33
Chƣơng 3. MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÕNG NGỪA PHẠM TỘI TẠI
TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG YÊN THỦY C. ......................... 38
3.1. Tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo của chi bộ, Ban Giám hiệu nhà
trường vể nội dung phòng ngừa phạm tội. ...................................................... 38
3.2. Tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức cho học sinh về con đường
dẫn đến phạm tội và cách phòng ngừa. ........................................................... 39
3.3. Tổ chức hướng dẫn HS tham gia các hoạt động phòng ngừa phạm tội ... 43
3.4. Xây dựng tốt mối quan hệ giữa nhà trường - gia đình - xã hội trong việc
quản lý, giáo dục học sinh. .............................................................................. 46
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ...................................................................... 53
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 55
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Vấn đề học sinh phạm tội và các biện pháp đấu tranh phòng ngừa phạm
tội trong lứa tuổi chưa thành niên hiện nay là một nội dung đòi hỏi các cấp,
các ngành, mỗi người dân và cả xã hội ta đặc biệt quan tâm. Trẻ em hôm nay
là tương lai của đất nước mai sau. Việc bồi dưỡng thế hệ trẻ là việc rất quan
trọng và cần thiết. Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị cha già của dân tộc Việt Nam đã
dạy “vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người”. Xuất
phát từ tư tưởng Hồ Chí Minh về chăm lo nguồn lực nhân tài cho đất nước,
Đảng và Nhà nước ta đã chú trọng quan tâm, chăm sóc, bảo vệ và giáo dục trẻ
truyền, giáo dục thức chấp hành pháp luật cho học sinh vào các nội dung học
giáo dục công dân. Tuy nhiên trong thời gian qua tình hình học sinh cấp
THPT phạm tội vẫn chưa giảm mà ngày càng có chiều hướng gia tăng nghiệm
trọng hơn.
Do vậy tìm hiểu tình hình học sinh phạm tội trong trường THPT cũng
như đưa ra các biện pháp phòng ngừa để giải quyết vấn đề này đang là một
công việc bức thiết. Trong thời gian đi thực tế ở trường THPT Yên Thuỷ C cũng là mái trường của quê hương mà em đã từng học tập, với mong muốn
được tham gia đóng góp chút công sức nhỏ bé của mình vào việc xây dựng
nhà trường vững mạnh toàn diện, em đã chọn và nghiện cứu đề tài “Một số
biện pháp phòng ngừa phạm tội trong học sinh trường trung học phổ thông
Yên Thuỷ C, huyện Yên Thuỷ, tỉnh Hoà Bình” nhằm tìm ra những nguyên
nhân, hạn chế kết quả phòng ngừa phạm tội trong học đường. Từ đó đưa ra
các biện pháp nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa phạm tội.
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu thực trạng công tác phòng ngừa phạm tội trong học sinh
trường THPT Yên Thuỷ C.
Đề xuất một số biện pháp phòng ngừa phạm tội trong Nhà trường.
2
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn về công tác phòng ngừa tội phạm.
Nghiên cứu thực trạng vấn đề phạm tội của học sinh trong học đường,
những nguyên nhân và con đường dẫn đến hành vi phạm tội trong học sinh
THPT hiện nay.
Đưa ra những biện pháp phòng ngừa phạm tội trong học sinh đạt hiệu
quả để áp dụng vào trường THPT
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
sát, điều tra.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
6.1. Ý nghĩa khoa học
Nghiên cứu đề tài: “Một số biện pháp phòng ngừa phạm tội trong học
sinh trường THPT Yên Thuỷ C, huyện Yên Thuỷ, tỉnh Hoà Bình” nhằm cung
cấp những thông tin về hành vi dẫn đến phạm tội của học sinh THPT, giúp
cho nhà trường có biện pháp ngăn chặn và phòng ngừa hiệu quả.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Đề tài nghiên cứu thành công giúp cho các nhà quản lý, đội ngũ giáo
viên có cách nhìn đầy đủ hơn, toàn diện hơn về nhiệm vụ quản lý học sinh và
là cơ sở vận dụng trong công tác phòng ngừa tội phạm ở các trường THPT.
Đề tài còn là tài liệu tham khảo hữu ích cho các bạn sinh viên khóa sau quan
tâm tìm hiểu và nghiên cứu.
7. Kết cấu của khoá luận
Khóa luận gồm phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, danh mục tài liệu
tham khảo, phần nội dung gồm có 3 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn.
Chương 2: Thực trạng công tác phòng ngừa phạm tội trong học sinh
trường THPT Yên Thuỷ C.
Chương 3: Một số biện pháp phòng ngừa phạm tội tại trường THPT
Yên Thuỷ C.
4
NỘI DUNG
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. Một số hiểu biết về tội phạm
1.1.1. Khái niệm về tội phạm
Khái niệm tội phạm được quy định tại điều 8 bộ luật hình sự Nước
phát sinh, phát triển. Đây là biện pháp nền tảng, cốt lõi, mang tính chủ động
nhưng để tiến hành triệt để thì đòi hỏi một thời gian lâu dài.
Phòng ngừa bằng sự cưỡng chế (mang tính nhà nước) là việc phát hiện
và xử lý tội phạm, trọng tâm là các hoạt động khởi tố điều tra, xét xử, thi hành
án hình sự.
* Ý nghĩa của phòng ngừa tội phạm
Phòng ngừa tội phạm đem lại ý nghĩa nhân đạo và tiến bộ xã hội. Nhà
nước và xã hội có sự chia sẻ trách nhiệm với những người phạm tội.
- Về mặt kinh tế: Phòng ngừa tội phạm sẽ hạn chế đến mức thấp nhất
những thiệt hại về kinh tế mà tình hình tội phạm gây ra trong xã hội. Kể cả
những thiệt hại gián tiếp mà nhà nước, xã hội phải chi phí để khắc phục hậu
quả do tội phạm để lại.
Làm tốt công tác phòng ngừa tội phạm sẽ tiết kiệm ngân sách nhà nước,
sức lao động của nhân viên nhà nước, của công dân trong các hoạt động điều
tra, truy tố, xét sử và giáo dục và cải tạo người phạm tội, cũng như trong việc
giải quyết các vấn đề có liên quan đến tội phạm.
- Về mặt quản lý xã hội: Thông qua hoạt động phòng ngừa tội phạm
nhà nước có thể kiểm soát được mảng tối của đời sống xã hội là tình hình tội
phạm. Qua đó nâng cao tính hiệu quả của hoạt động quản lý nhà nước, đồng
thời tăng hiệu quả trong việc hoạt động chuyên môn nghiệp vụ của các cơ
quan bảo vệ pháp luật.
6
Phòng ngừa tội phạm mang ý nghĩa chính trị xã hội sâu sắc, làm tốt
công tác phòng ngừa giúp giữ vững an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội,
bảo vệ tài sản của xã hội, tính mạng sức khoẻ, danh dự nhân phẩm của mọi
công dân.
* Các chủ thể phòng ngừa tội phạm
- Chủ thể phòng ngừa tội phạm gồm 5 nhóm sau:
là những người dân xấu dễ bị phạm tội và cho người đã phạm tội; các biện
pháp phòng ngừa áp dụng cho cán bộ công nhân viên chức nhà nước và
những người chưa thành niên phạm tội.
- Căn cứ vào địa bàn và lĩnh vực cần phòng ngừa tội phạm có những
biện pháp sau: Các biện pháp phòng ngừa áp dụng chung trên phạm vi toàn
lãnh thổ quốc gia; các biện pháp phòng ngừa áp dụng riêng cho từng địa
phương, vùng miền; cho từng ngành và từng lĩnh vực hoạt động.
1.1.4 Các nguyên tắc phòng ngừa tội phạm
Phòng ngừa tội phạm có những nguyên tắc cơ bản sau:
- Nguyên tắc pháp chế là mọi hoạt động phòng ngừa tội phạm của các
cơ quan nhà nước, tổ chức, các công dân phải hợp hiến, hợp pháp.
- Nguyên tắc dân chủ XHCN là với mọi cơ quan tổ chức công dân đều
có thể tham gia hoạt động phòng ngừa tội phạm và Nhà nước phải tạo mọi
điều kiện cho các chủ thể tham gia hoạt động phòng ngừa tội phạm và phát
huy được mọi nguồn lực trong xã hội vào việc phòng ngừa tội phạm.
- Nguyên tắc nhân đạo trong phòng ngừa là các biện pháp phòng ngừa
tội phạm không được hạ thấp danh dự nhân phẩm con người mà phải nhằm
khôi phục con người và tạo điều kiện để con người phát triển.
- Nguyên tắc khoa học và tiến bộ trong phòng ngừa tội phạm là các
biện pháp phòng ngừa phải được xây dựng trên cơ sở khoa học các thành tựu
khoa học nhất định, phải ứng dụng các thành tựu khoa học và công nghệ trong
8
việc xây dựng các biện pháp phòng ngừa tội phạm. Phải đảm bảo cho mọi
người có cơ hội phát triển bình đẳng, không được phân biệt chủng tộc, tôn
giáo, giới tính, thái độ chính trị.
- Nguyên tắc phối hợp chặt chẽ giữa chủ thể trong công tác phòng ngừa
tội phạm. Là mỗi chủ thể khi tham gia phòng ngừa phạm tội trong phạm vi và
nhiệm vụ phòng ngừa ở từng địa phương, từng ngành mà mình quản lý đồng
tăng lên một cách đáng lo ngại: Có 73,1% thanh niên từng có cảm giác buồn
chán; 27,6% từng "rất buồn", thấy mình vô tích sự đến nỗi làm cho bản thân
không muốn hoạt động như bình thường. Có tới 21,3% từng thất vọng hoàn
toàn về tương lai và 4,1% nảy sinh ý nghĩ tự tử [9].
Những hành vi phạm tội sẽ làm ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe và
tinh thần của bản thân người phạm tội, đối với HS khi đã mắc phải lỗi lầm thì
rất khó sửa chữa, hành vi mà họ đã gây ra có ảnh hưởng không chỉ đến uy tín,
danh dự, kết quả học tập của cá nhân mà còn hủy hoại tương lai của bản thân.
Có nhiều học sinh, sinh viên luôn cảm thấy xấu hổ, tự ti với bạn bè, thầy cô
giáo, với người thân và hàng xóm xung quanh.
Người phạm tội cảm thấy không tự tin về bản thân và họ không tránh
khỏi sự lên án của dư luận xã hội. Có nhiều hành vi vì quá nguy hiểm và
nghiêm trọng nên không ít học sinh đã bị nhà trường đuổi học hoặc tự nghỉ
học.
* Tác hại đến gia đình:
Phạm tội có thể làm băng hoại đạo đức, lối sống, truyền thống, thuần
phong mỹ tục của một gia đình, một dòng họ. Hành vi phạm tội có thể làm
cho những quan hệ thân thương trong gia đình trở thành thù hận, gây tan
thương, chết chóc, có nhiều gia đình tan nát vì con em mình vướng vào ma
túy, mại dâm, cờ bạc, đánh nhau, cướp tài sản....Việc phạm tội còn gây tổn
hại về kinh tế, tình cảm, phá vỡ hạnh phúc gia đình và ảnh hưởng đến nhân
10
cách thành viên trong gia đình. Hậu quả của hành vi phạm tội vừa gây tốn
kém về tài chính, vừa làm ảnh hưởng tới sức khỏe của những người thân
trong gia đình. Khi một học sinh gây nên sự lo lắng, sợ hãi vì những hành vi
mà con em mình gây nên.
Học sinh là những hạt mầm của mỗi gia đình, những người đang được
ngừa ảnh hưởng rất lớn đến ngân sách của đất nước.
Tội phạm là một trong những yếu tố góp phần làm gia tăng sự phân hóa
giàu nghèo, ảnh hưởng đến việc thực hiện các chính sách về phát triển kinh tế,
văn hóa, xã hội và phát triển nhân tố con người trong thời đại hiện nay.
Tội phạm là một hiện tượng xã hội rất phức tạp có nguồn gốc sâu xa và
liên quan đến mọi mặt đời sống xã hội. Việc phạm tội sẽ làm ảnh hưởng, gây
mất trật tự công cộng; làm cho người dân xung quanh nơi xảy ra những hành
vi phạm tội hoang mang, lo sợ, đồng thời làm xói mòn đạo đức xã hội.
1.3. Nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội trong học sinh THPT hiện nay
1.3.1 Nguyên nhân chủ quan
- Nguyên nhân từ chính bản thân học sinh:
Học sinh THPT là lứa tuổi chưa thành niên, nghĩa là ở độ tuổi chuyển
tiếp của hệ tăng trưởng phát triển độ tuổi “trẻ em” đến thời điểm bắt đầu của
độ tuổi trưởng thành. Là giai đoạn thay đổi quan trọng nhất về thể chất, cảm
xúc và ý thức xã hội diễn ra ở mỗi cá nhân. Sự tăng trưởng của các tuyến nội
tiết đã thúc đẩy phát triển các bộ phận cơ thể trưởng thành theo một trình tự
nhất định, đây là giai đoạn “quá độ” sự phát triển tâm lý rất phức tạp, mẫn
cảm, dễ thay đổi và khó lường trước được. Tâm lý học xác định quá trình hình
thành và phát triển của các em học sinh phụ thuộc mạnh mẽ về tâm sinh lý,
tuỳ thuộc vào độ tuổi nhưng ở mức độ không đồng đều với những dấu hiệu
tâm sinh lý rất khác nhau, khi bị tác động bởi môi trường, điều kiện, hoàn
cảnh khác nhau. Xuất phát từ những đặc điểm riêng của sự phát triển tâm lý
đó nên khi học sinh thực hiện hành vi vi phạm pháp luật thường xuất phát từ
những yếu tố khác nhau.
12
Ở lứa tuổi học sinh thì họ luôn hướng tới sự ham thích mới lạ, hiếu
động, muốn thể hiện các tính anh hùng, hảo hán, do đó có trường hợp chỉ vì
cái nhìn thiếu thiện cảm hay chỉ vì xích mích nhỏ mà các em thực hiện những
quá trình hình thành và phát triển nhân cách của các em học sinh. Học sinh
luôn chịu tác động bởi không khí yêu thương hòa thuận, đùm bọc trong gia
đình. Học sinh cũng chịu sự ảnh hưởng cực lớn từ cách thức cư xử và mối quan
hệ của cha mẹ họ với nhau, với thành viên ruột thịt khác. Cha mẹ luôn là hình
ảnh mẫu mực về người lớn, người chịu trách nhiệm đối với gia đình và xã hội
nên học sinh có chiều hướng giống đức tính của cha mẹ mình nhiều hơn.
Nhưng bên cạnh đó có rất nhiều gia đình có cuộc sống không hạnh
phúc đã dẫn đến những ảnh hưởng tiêu cực: sự thiếu gương mẫu về đạo đức
lối sống, các hành vi đánh đập, chửi bới, gia đình không hoà thuận, không tôn
trọng lẫn nhau, một số thành viên trong gia đình sống buông thả, sa đọa, truỵ
lạc, rượu chè, cờ bạc, thậm chí phạm tội đã tác động trực tiếp đến nhận thức
và hành động của học sinh từ đó học sinh tỏ ra bi quan chán nản, mất phương
hướng trong cuộc sống dẫn đến việc bỏ nhà lang thang, dễ có những hành vi
phạm tội.
Một số gia đình chưa có phương pháp giáo dục đối với con cái. Phương
pháp đó có thể là quá chiều chuộng hoặc quá khắt khe cứng nhắc thô bạo làm
con cái sợ hãi, xa lánh cha mẹ, trốn nhà bỏ đi lang thang.
Một số gia đình thiếu quan tâm đến việc quản lý, chăm sóc giáo dục
con cái do nhiều nguyên nhân khác nhau như: bận rộn với công việc, đi công
tác xa, hay phải xoay sở kiếm tiền không thường xuyên kiểm tra, quán xuyến
hết công việc hàng ngày của con cái. Nhiều gia đình có quan điểm sai trái về
bổn phận chăm sóc giáo dục con cái, cho đó là trách nhiệm của nhà trường rồi
bỏ mặc con cái “tự thân vận động”. chính những điều này đã làm cho học sinh
dễ sa ngã, dễ bị bạn xấu rủ rê lôi kéo vào con đường phạm tội.
14
Một số gia đình có cấu trúc không hoàn hảo như: Mồ côi bố hoặc mẹ,
hay bố mẹ ly hôn không có người chăm sóc dạy dỗ con cái; thiếu tình cảm;
thiếu thốn về kinh tế nên dễ bị ảnh hưởng của những hiện tượng tiêu cực và
trường làm ảnh hưởng xấu đến học sinh.
Trong khi đó hiện nay việc quản lý học sinh trong các nhà trường còn
nhiều thiếu sót, thường chỉ giao khoán cho thầy, cô giáo phụ trách, còn thiếu
cơ chế kiểm tra trách nhiệm thầy cô giáo, đặc biệt là để tồn tại học sinh cá
biệt, lưu ban, bỏ học. Đáng chú ý, vấn đề kỷ luật học đường hiện nay chưa
nghiêm. Ngoài ra, sự phối hợp trao đổi thông tin, liên lạc giữa gia đình và nhà
trường thiếu chặt chẽ nên nhiều HS tự ý bỏ học đi lang thang hoặc tìm niềm
vui qua các trò chơi điện tử, phim ảnh bạo lực, khiêu dâm mà nhà trường và
gia đình không hay biết...Chất lượng công tác quản lý giáo dục trong các
trường học còn bị giảm sút, chất lượng giáo dục chưa cao. Một số giáo viên bị
ảnh hưởng bởi chế độ cơ chế thị trường nên trong giảng dạy không quan tâm
đến chất lượng học tập của học sinh, mang nặng tính trách nhiệm, thiếu đi sự
nhiệt tình trong quá trình giảng dạy. Công tác giáo dục công dân trong nhà
trường phổ thông còn chưa được chú trọng đúng mức. Giáo viên còn nặng về
dạy chữ, học sinh chưa chú trọng học các môn đạo đức, chính sự thiếu giáo
dục về đạo đức cùng với lối sống buông lỏng, thiếu sự kiểm tra, uốn nắn kịp
thời của thầy cô giáo, đặc biết đối với những em có hoàn cảnh gia đình éo le,
gặp trắc trở trong cuộc sống, dẫn đến các em có tư tưởng chán học, bỏ giờ
lang thang gặp bạn bè xấu và bị rủ rê, lôi kéo dẫn đến phạm tội.
Nhà trường chưa chú trọng đến sự phối hợp liên lạc thường xuyên với
gia đình học sinh dẫn đến việc quản lý không tốt giờ giấc của các em. Do đó
các em làm nhiều việc mà nhà trường và gia đình không nắm bắt được, không
có sự điều chỉnh uốn nắn kịp thời.
Các biện pháp xử lý kỷ luật đối với học sinh vi phạm trong trường học
hiện nay còn nhiều bất hợp lý. Tình trạng một số học sinh vi phạm pháp luật,
16
bị nhà trường xử lý buộc thôi học, bên cạnh đó gia đình và địa phương chưa
có biện pháp quản lý, giáo dục phù hợp để thả lỏng. Từ đây chúng bị thất học
cần mô tả chứng minh và giải quyết một lần là xong.
Vì vậy nghiên cứu toàn diện về môi trường gia đình, nhà trường và xã
hội là cơ sở và điều kiện cơ bản làm nảy sinh hành vi vi phạm pháp luật của
các em học sinh để có cơ sở khách quan đề ra biện pháp xử lý và phòng ngừa
vi phạm pháp luật của học sinh một cách phù hợp.
1.4. Những biểu hiện ở học sinh có dấu hiệu phạm tội.
1.4.1. Thường xuyên bỏ học: Hiện tượng học sinh bỏ học trên lớp do
thầy, cô giáo quản lý chưa chắc, công tác kiểm tra sĩ số vào đầu giờ học và
những giờ ra chơi chưa chặt chẽ; khi phát hiện học sinh bỏ học chưa có biện
pháp xử lý kịp thời. Các bậc cha mẹ thường tin tưởng vào sự trung thực của
con cái, ít khi kiểm tra bài vở ghi trên lớp nên không phát hiện ra con em
mình bỏ học, trốn học.
1.4.2. Thay đổi về tác phong sinh hoạt hàng ngày: Biểu hiện thường
tụ tập ở những nơi có nhiều tệ nạn như cờ bạc, ma tuý, đánh nhau, đua xe trái
phép. Đi chơi, kết bè phái cùng những người đã có hành vi vi phạm pháp luật
hoặc thường đi chơi cùng bạn bè xấu. Dấu hiệu này thường được nhận biết
qua phản ánh của hàng xóm và sự theo dõi của người thân trong gia đình.
Kiểm tra túi quần áo, trong cặp sách thường có dao, côn, thuốc lá, bật
lửa hoặc những vật dụng bất thường khác.
1.4.3. Lực học giảm sút: kết quả học tập có chiều hướng đi xuống,
hạnh kiểm thấp kém, thường xuyên bỏ những buổi học thêm để đi chơi hoặc
học sinh đi học sớm, về nhà muộn; thường xuyên xin tiền cha mẹ và đi chơi
về khuya hoặc không về …
1.5. Một số vấn đề về tình hình phạm tội trong học sinh ở nước ta hiện nay.
1.5.1.Tình hình phạm tội ở trẻ vị thành niên trên cả nước
Theo nội dung báo cáo của Ban chỉ đạo Đề án IV Bộ Công an về “Đấu
tranh phòng, chống tội phạm xâm hại trẻ em và tội phạm trong lứa tuổi chưa
thành niên”, trong vòng 6 năm (2007 - 2013), trên cả nước đã xảy ra 63.600
18