Một số biện pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Sài Gòn – Chi nhánh An Giang - Pdf 11

Một số biện pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – CN An Giang
CHƯƠNG 1:
TỔNG QUAN
1.1. Lý do chọn đề tài:
Trong thời gian qua, tình hình kinh tế - xã hội của đất nước ta ngày càng phát
triển: Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới
WTO, thu hút ngày càng nhiều vốn đầu tư nước ngoài… Đi cùng với sự ổn định về
tình hình kinh tế, xã hội đó là sự đầu tư, mở rộng sản xuất của ngày càng nhiều ngành
nghề sản xuất kinh doanh. Do đó, nhu cầu về vốn cũng không ngừng được tăng lên.
Để đáp ứng đủ nguồn vốn cho xã hội, nơi mà nhiều người sản xuất kinh doanh tìm đến
đó chính là ngân hàng.
Ngân hàng là một loại hình kinh doanh đặc biệt, kinh doanh tiền tệ. Ngân hàng có
nhiều chức năng quan trọng. Trong đó, cung cấp tín dụng là một trong những chức
năng thu về lợi nhuận nhiều nhất cho ngân hàng. Hoạt động kinh doanh của ngân hàng
cũng như những ngành nghề khác, cũng ẩn chứa nhiều rủi ro , như rủi ro tỷ giá, rủi ro
lãi suất, rủi ro tín dụng,… Các loại rủi ro này có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh
doanh của ngân hàng. Đặc biệt là rủi ro tín dụng, đây là loại rủi ro mà một khi đã phát
sinh thì sẽ gây cho ngân hàng rất nhiều khó khăn trong việc khắc phục hậu quả.
Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Chi nhánh An Giang từ khi chính thức đi vào hoạt
động tháng 06/2006 đến nay, cùng với định hướng và mục tiêu phát triển chung của
toàn hàng là không ngừng mở rộng quy mô hoạt động và hạn chế thấp nhất những rủi
ro có thể xảy ra. Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Chi nhánh An Giang đã không ngừng
phát triển, mở rộng việc cung cấp tín dụng cho nhiều đối tượng khách hàng. Đi cùng
với việc mở rộng cung cấp tín dụng, ngân hàng cũng đã có nhiều biện pháp nhằm hạn
chế thấp nhất các rủi ro tín dụng có thể xảy ra, làm cho ngân hàng và hệ thống ngân
hàng “an toàn để phát triển” và “phát triển phải an toàn”.
Để thực hiện được điều đó, bản thân các ngân hàng luôn chú trọng quan tâm đến
rủi ro, nhất là rủi ro tín dụng và luôn có các biện pháp nghiệp vụ cần thiết nhằm phòng
ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng có thể xảy ra. Cùng với kiến thức đã được nhà trường
cung cấp về hoạt động tín dụng trong ngân hàng trên cơ sở lý thuyết, để thấy được tình
hình thực tế tại các ngân hàng nên tôi chọn nghiên cứu đề tài: “ Một số biện pháp

cứu đề tài, phương pháp nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu của đề tài.
GVHD: TS. Bùi Thanh Quang Trang 2

Một số biện pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – CN An Giang
CHƯƠNG 2:
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI –
CÁC RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

2.1. Khái niệm về ngân hàng thương mại:
Nghị định của Chính phủ số 49/2000/NĐ-CP ngày 12/09/2000 định nghĩa: “Ngân
hàng thương mại là ngân hàng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các
hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận, góp phần thực hiện các
mục tiêu kinh tế của Nhà nước”.
2.2. Chức năng của ngân hàng thương mại:
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường và hệ thống ngân hàng phát triển các ngân
hàng thương mại thực hiện 03 chức năng sau:
2.2.1. Ngân hàng thương mại là trung gian tín dụng:
Đây là chức năng cơ bản và quan trọng nhất của ngân hàng thương mại.
Chức năng trung gian tín dụng được minh họa qua sơ đồ sau:
Sơ đồ 2.1: Chức năng trung gian tín dụng

Trong chức năng này, ngân hàng thương mại một mặt là người đứng ra huy động
và tập trung các nguồn vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế, như vốn nhàn
rỗi của các tổ chức kinh tế, cá nhân, các tầng lớp dân cư, … biến nó thành nguồn vốn
tín dụng để cho vay (cấp tín dụng); mặt khác trên cơ sở nguồn vốn đã huy động được,
ngân hàng sử dụng để đáp ứng nhu cầu vốn kinh doanh, vốn đầu tư cho các ngành
kinh tế và nhu cầu vốn tiêu dùng của xã hội.
GVHD: TS. Bùi Thanh Quang Trang 3


Chức năng trung gian thanh toán được thể hiện qua sơ đồ sau:
Sơ đồ 2.2: Chức năng trung gian thanh toán
Thực hiện chức năng trung gian thanh toán, ngân hàng thương mại trở thành người
thủ quỹ và là trung tâm thanh toán của xã hội. Thực hiện chức năng này, ngân hàng
thương mại đứng ra làm trung gian để thực hiện các khoản giao dịch thanh toán giữa
các khách hàng, giữa người mua, người bán, … để hoàn tất các quan hệ kinh tế thương
mại giữa họ với nhau.
2.2.3. Ngân hàng thương mại cung ứng các dịch vụ ngân hàng:
Trong quá trình thực hiện nghiệp vụ tín dụng và ngân quỹ, ngân hàng có những
điều kiện thuận lợi mà không phải tổ chức nào cũng có như kho quỹ, hệ thống thông
tin, mối quan hệ rộng khắp với các doanh nghiệp. Qua đó, ngân hàng có thể thực hiện
tư vấn tài chính, nhận ủy thác, dịch vụ kiều hối, … để nhận tiền hoa hồng, sẽ vừa tiết
kiệm chi phí vừa đạt hiệu quả cao.
2.3. Những vấn đề cơ bản về tín dụng:
2.3.1. Khái niệm về tín dụng:
Tín dụng là quan hệ vay muợn, quan hệ sử dụng vốn lẫn nhau giữa người đi vay và
người cho vay dựa trên nguyên tắc hoàn trả.
Tín dụng được biểu hiện theo sơ đồ:
Sơ đồ 2.3: Khái niệm tín dụng
GVHD: TS. Bùi Thanh Quang Trang 4

trả tiền
Giấy
Người trả tiền
Người mua
(công ty, tổ
chức kinh tế, cá
nhân…)
Ngân
hàng

Tín dụng có 03 chức năng:
2.3.2.1. Chức năng tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ:
Đây là chức năng cơ bản nhất của tín dụng, nhờ chức năng này của tín dụng mà
các nguồn vốn tiền tệ trong xã hội được điều hòa từ nơi “thừa” sang nơi “thiếu” để sử
dụng nhằm phát triển kinh tế.
Tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ là 02 mặt hợp thành chức năng cốt lõi của
tín dụng:
- Ở mặt tập trung vốn tiền tệ: Nhờ sự hoạt động của hệ thống tín dụng mà các
nguồn tiền nhàn rỗi được tập trung lại, bao gồm tiền nhàn rỗi của dân chúng,
vốn bằng tiền của các doanh nghiệp, vốn bằng tiền của các tổ chức đoàn thể,
xã hội, …
- Ở mặt phân phối lại vốn tiền tệ: Đây là mặt cơ bản của chức năng này – đó là
sự chuyển hóa để sử dụng các nguồn vốn đã tập trung được để đáp ứng nhu
cầu tiêu dùng trong toàn xã hội.
Cả 02 mặt tập trung và phân phối lại vốn đều được thực hiện theo nguyên tắc hoàn
trả vì vậy tín dụng có ưu thế rõ rệt, nó kích thích mặt tập trung vốn, nó thúc đẩy việc
sử dụng vốn có hiệu quả.
Nhờ chức năng tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ của tín dụng, mà phần lớn
nguồn tiền trong xã hội từ chỗ là tiền “nhàn rỗi” một cách tương đối đã được huy động
và sử dụng cho các nhu cầu của sản xuất và đời sống, làm cho hiệu quả sử dụng vốn
trong toàn xã hội tăng lên.
2.3.2.2. Chức năng tiết kiệm tiền mặt và chi phí lưu thông cho xã hội:
Nhờ hoạt động của tín dụng mà nó có thể phát huy chức năng tiết kiệm tiền mặt và
chi phí lưu thông cho toàn xã hội, điều này thể hiện qua các mặt sau đây:
GVHD: TS. Bùi Thanh Quang Trang 5

Một số biện pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – CN An Giang
- Hoạt động tín dụng, trước hết tạo điều kiện cho sự ra đời của các công cụ lưu
thông tín dụng như thương phiếu, kỳ phiếu, ngân hàng, các loại séc, … cho
phép thay thế một số lượng lớn tiền mặt lưu hành nhờ đó làm giảm bớt các chi

Có thể nói, trong mọi nền kinh tế - xã hôi, tín dụng đều phát huy vai trò to lớn nói
trên.
- Đối với doanh nghiệp: Tín dụng góp phần cung ứng vốn, bao gồm vốn cố định
và vốn lưu động.
- Đối với dân chúng: Tín dụng là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư.
- Đối với toàn xã hội: Tín dụng là tăng hiệu suất sử dụng vốn.
GVHD: TS. Bùi Thanh Quang Trang 6

Một số biện pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – CN An Giang
Tất cả đều hợp lực và tác động lên đời sống kinh tế - xã hội khiến tạo ra động lực
phát triển rất mạnh mẽ mà không có công cụ tài chính nào có thể thay thế được.
 Tín dụng góp phần ổn định tiền tệ, giá cả:
Trong khi thực hiện chức năng tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ, tín dụng đã
góp phần làm giảm khối lượng tiền tệ lưu hành trong nền kinh tế, đặc biệt là tiền mặt
trong tay các tầng lớp dân cư, làm giảm áp lực lạm phát, nhờ vậy góp phần làm ổn
định tiền tệ. Mặt khác, do cung ứng vốn tín dụng cho nền kinh tế, tạo điều kiện cho
các doanh nghiệp hoàn thành kế hoạch sản xuất kinh doanh … làm cho sản xuất ngày
càng phát triển, sản phẩm hàng hóa dịch vụ làm ra ngày càng nhiều, đáp ứng được
nhu cầu ngày càng tăng của xã hội, chính nhờ đó mà tín dụng góp phần làm ổn định
thị truờng giá cả trong nước …
 Tín dụng góp phần ổn định đời sống, tạo công ăn việc làm và ổn định trật tự xã
hội:
Một mặt, do tín dụng có tác dụng thúc đẩy nền kinh tế phát triển, sản xuất hàng
hóa và dịch vụ ngày càng gia tăng có thể thỏa mãn nhu cầu đời sống của người lao
động. Mặt khác, do vốn tín dụng cung ứng đã tạo ra khả năng trong việc khai thác các
tiềm năng sẵn có trong xã hội như tài nguyên thiên nhiên, lao động, đất đai … do đó
có thể thu hút nhiều lực lượng lao động của xã hội để tạo ra lực lượng sản xuất mới để
thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Một xã hội phát triển lành mạnh, đời sống được ổn định, ai cũng có công ăn việc
làm … đó là tiền đề quan trọng ổn định trật tự xã hội.

hàng. Từ đó, nâng cao uy tín của khách hàng đối với ngân hàng và củng cố quan hệ
vay vốn giữa khách hàng và ngân hàng sau này.
2.4.2. Vốn vay phải được hoàn trả đầy đủ cả gốc và lãi vay theo đúng hạn đã cam
kết trong hợp đồng tín dụng:
Hoàn trả nợ gốc và lãi vay là nguyên tắc không thể thiếu trong hoạt động cho
vay. Điều này xuất phát từ tính chất tạm thời nhàn rỗi của nguồn vốn mà ngân hàng sử
dụng để cho vay. Đại đa số nguồn vốn mà ngân hàng sử dụng để cho vay là vốn huy
động từ khách hàng gửi tiền. Do đó, sau khi cho vay trong một thời hạn nhất định
khách hàng vay tiền phải hoàn trả lại cho ngân hàng để ngân hàng hoàn trả lại cho
khách hàng gửi tiền. Hơn nữa bản chất của quan hệ tín dụng là quan hệ chuyển
nhượng tạm thời quyền sử dụng vốn vay nên sau một thời gian nhất định vốn vay phải
được hoàn trả, cả gốc và lãi.
Các nguyên tắc này nhằm đảm bảo cho Ngân hàng có thể tồn tại và hoạt động
một cách bình thường.
2.5. Những vấn đề chung về rủi ro trong kinh doanh ngân hàng:
2.5.1. Đặc trưng trong kinh doanh ngân hàng:
Là doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực đặc biệt, hoạt động kinh doanh của
ngân hàng thương mại có những đặc trưng cơ bản như sau:
- Ngân hàng thương mại là ngân hàng kinh doanh tiền gửi.
Trên thị trường tài chính, ngân hàng thương mại là tổ chức trung gian tài chính
quan trọng, chuyển tải những khoản vốn huy động được trong xã hội đến những người
có nhu cầu chi tiêu và đầu tư. Với chức năng ban đầu là nhận tiền gửi của xã hội, sau
đó ngân hàng thương mại đã trở thành các chủ thể chuyên mua bán quyền sử dụng
vốn.
- Hoạt động của ngân hàng thương mại có tính nhạy cảm cao và luôn chịu sự
giám sát chặt chẽ của pháp luật.
Kinh doanh ngân hàng dựa trên niềm tin, vì vậy tính nhạy cảm trong kinh doanh
rất cao. Chỉ cần một biến động nhỏ cũng có thể gây tác động đối với hoạt động kinh
doanh ngân hàng (một sự thay đổi nhỏ về lãi suất cũng có thể dẫn đến sự dịch chuyển
khách hàng từ ngân hàng này sang ngân hàng khác).

các ngành khác trong nền kinh tế, không chỉ trong phạm vi một quốc gia mà còn ảnh
hưởng đến nhiều quốc gia khác.
2.5.2. Các loại rủi ro trong kinh doanh ngân hàng:
2.5.2.1. Rủi ro ngân hàng:
Rủi ro ngân hàng không phải là nổi ám ảnh của hệ thống ngân hàng một nước mà
là nổi ám ảnh chung của các hệ thống ngân hàng trên thế giới. Những bất ngờ luôn xảy
ra, ngay cả đối với những ngân hàng giỏi nhất, nhiều kinh nghiệm nhất cũng khó
phỏng đoán. Vì vậy, rủi ro ngân hàng và quản lý nó luôn luôn là nhữnng vấn đề thời
sự cho mỗi nền kinh tế trong mỗi thời kỳ.
Có nhiều cách hiểu rủi ro khác nhau, có nhiều định nghĩa về rủi ro của các nhà
kinh tế và các nhà kinh doanh. Khó tìm được một định nghĩa nào là hoàn hảo, song rủi
ro thường có 02 đặc điểm:
- Biên độ rủi ro, đó là sự thiệt hại từ rủi ro gây ra ở mức độ nào.
- Tần số xuất hiện của rủi ro nhiều hay ít.
GVHD: TS. Bùi Thanh Quang Trang 9

Một số biện pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – CN An Giang
Là một doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ, ngân hàng thương mại cũng gánh chịu
các rủi ro do các tác động của môi trường vĩ mô và vi mô gây nên như các doanh
nghiệp khác.
2.5.2.2.Phân loại rủi ro:
Rủi ro trong kinh doanh ngân hàng về cơ bản có thể chia thành 02 loại: rủi ro môi
trường và rủi ro đặc thù.
 Rủi ro môi trường:
Rủi ro môi trường luôn luôn tồn tại trong tổ chức và ngoài tổ chức. Hay nói cách
khác, rủi ro môi trưòng gồm 02 loại: rủi ro môi trường vĩ mô và rủi ro môi trường
cạnh tranh.
- Rủi ro môi trường vĩ mô: Môi trường mà ngân hàng hoạt động chứa đựng
muôn vàn rủi ro, chúng tác động đến ngân hàng bằng nhiều cách: hoặc làm suy
yếu khả năng chịu đựng rủi ro của ngân hàng, hoặc gây cho ngân hàng những

- Rủi ro tài sản thế chấp: Tài sản thế chấp không đủ giá trị để bù đắp thiệt hại
cho ngân hàng.
Có thể tóm tắt phân loại rủi ro trong kinh doanh ngân hàng qua sơ đồ sau:
Sơ đồ 2.4: Các loại rủi ro
GVHD: TS. Bùi Thanh Quang Trang 11

RR trong kinh doanh
ngân hàng
RR đặc thù
RR đòn cân nợ
RR tài sản thế chấp
RR thích ứng vốn
RR cung cấp dịch
vụ tài chính
RR về chiến lược
RR về hoạt động
RR về công nghệ
RR về văn hóa ngân hàng
RR về sản phẩm
RR quản lý
RR do tham ô
RR do thiếu năng lực quản lý
RR về tổ chức
Một số biện pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – CN An Giang
Các loại rủi ro có quan hệ mật thiết với nhau không thể tách rời.
2.5.3. Ảnh hưởng của rủi ro trong kinh doanh ngân hàng:
Cũng như các doanh nghiệp khác, ngân hàng cũng có thể gặp rủi ro và có thể bị
mất vốn. Nhưng do kinh doanh trong lĩnh vực đặc biệt, nên rủi ro trong kinh doanh
ngân hàng không chỉ ảnh hưởng đến bản thân ngân hàng thương mại mà còn tác động
xấu đến nền kinh tế - xã hội.

RR về tự nhiên
RR kinh tế
RR về điều chỉnh
Một số biện pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – CN An Giang
Các thua lỗ của ngân hàng nếu nghiêm trọng có thể làm cổ đông mất vốn đầu tư,
những người gửi tiền mất đi những khoản tiền tiết kiệm mà suốt đời mới có được.
Tình trạng tài chính xấu của một ngân hàng còn tạo ra sự nghi ngờ của những người
gửi tiền về sự ổn định và khả năng thanh toán của hệ thống ngân hàng, gây tác động
xấu đến tình hình tài chính của các ngân hàng khác, kéo theo phản ứng dây chuyền và
phá vỡ tính ổn định của thị trường tài chính.
2.6. Rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng:
2.6.1. Rủi ro tín dụng:
Rủi ro tín dụng phát sinh trong trường hợp ngân hàng không thu được đầy đủ cả
gốc và lãi của các khoản cho vay, hoặc việc thanh toán nợ gốc và lãi vay không đúng
hạn.
Rủi ro tín dụng là vấn đề đặc biệt được quan tâm không chỉ ở phạm vi các ngân
hàng, mà còn trong toàn nền kinh tế.
Rủi ro tín dụng là một loại rủi ro do sự suy giảm về khả năng trả nợ của các khách
hàng. Giảm giá trị của khoản cho vay tín dụng không chỉ bao gồm việc không trả được
nợ của khách hàng tăng lên mà còn dẫn đến thị trường vốn định giá khả năng tín dụng
của công ty qua mức lãi suất cao hơn đối với các công cụ nợ do công ty phát hành,
hoặc là việc giảm giá của các cổ phiếu, hoặc giảm cấp các đại lý.
Đây cũng chính là việc định giá về chất lượng của các công cụ nợ mà các công ty phát
hành.
Rủi ro tín dụng rất nguy hiểm, khi một vài khách hàng quan trọng không trả được
nợ có thể gây nên những khoản lỗ lớn cho ngân hàng và có thể dẫn ngân hàng đến tình
trạng mất khả năng thanh toán.
2.6.2. Nguyên nhân của rủi ro tín dụng:
2.6.2.1. Rủi ro tín dụng do nguyên nhân khách quan:
 Rủi ro do môi trường kinh tế không ổn định:

- Sự kém hiệu quả của cơ quan pháp luật cấp địa phương.
Trong những năm gần đây, Quốc hội, Ủy ban thường vụ quốc hội, Chính phủ,
Ngân hàng Nhà nước và các cơ quan liên quan đã ban hành nhiều luật, văn bản dưới
luật hướng dẫn thi hành luật liên quan đến hoạt động tín dụng ngân hàng. Tuy nhiên,
luật và các văn bản đã có song việc triển khai vào hoạt động ngân hàng thì lại hết sức
chậm chạp và còn gặp phải nhiều vướng mắc bất cập như một số văn bản về việc
cưỡng chế thu hồi nợ. Những văn bản này đều có quy định: Trong những trường hợp
khách hàng không trả được nợ, ngân hàng có quyền xử lý tài sản đảm bảo nợ vay.
Trên thực tế, các ngân hàng thương mại không làm được điều này vì ngân hàng là một
tổ chức kinh tế, không phải là cơ quan quyền lực nhà nước, không có chức năng
cưỡng chế buộc khách hàng bàn giao tài sản đảm bảo cho ngân hàng để xử lý hoặc
việc chuyển tài sản đảm bảo nợ vay để Tòa án xử lý qua con đường tố tụng… cùng
nhiều các quy định khác dẫn đến tình trạng ngân hàng thương mại không thể giải
quyết được nợ tồn đọng, tài sản tồn đọng.
- Sự thanh tra, kiểm tra, giám sát chưa hiệu quả của Ngân hàng Nhà nước.
Bên cạnh những cố gắng và kết quả đạt được, hoạt động thanh tra ngân hàng và
đảm bảo an toàn hệ thống chưa có sự cải thiện căn bản về chất lượng. Năng lực cán bộ
thanh tra, giám sát chưa đáp ứng được yêu cầu, thậm chí một số nghiệp vụ kinh doanh
và công nghệ mới Thanh tra ngân hàng còn chưa theo kịp. Nội dung và phương pháp
thanh tra, giám sát lạc hậu, chậm đựơc đổi mới. Vai trò kiểm toán chưa đựơc phát huy
và hệ thống thông tin chưa được tổ chức một cách hữu hiệu. Thanh tra tại chỗ vẫn là
phương pháp chủ yếu, khả năng kiểm soát toàn bộ thị trường tiền tệ và giám sát rủi ro
còn yếu. Thanh tra ngân hàng còn hoạt động một cách thụ động theo kiểu xử lý vụ
việc đã phát sinh, ít có khả năng ngăn chặn và phòng ngừa rủi ro và vi phạm. Mô hình
tổ chức của thanh tra ngân hàng còn nhiều bất cập. Do vậy mà có những sai phạm của
các ngân hàng thương mại không được thanh tra Ngân hàng Nhà nước cảnh báo, có
biện pháp ngăn chặn từ đầu, để đến khi hậu quả nặng nề đã xảy ra rồi mới can thiệp.
Hàng loạt các sai phạm về cho vay, bảo lãnh tín dụng ở một số ngân hàng thương mại
dẫn đến những rủi ro rất lớn, có nguy cơ đe dọa sự an toàn của cả hệ thống lẽ ra có thể
đã được ngăn chặn ngay từ đầu nếu bộ máy thanh tra phát hiện và xử lý sớm hơn.

không hợp lý.
- Do thiếu thông tin về khách hàng nên ngân hàng đã cho những khách hàng
kinh doanh kém hiệu quả vay vốn, nên việc thu nợ gặp khó khăn, đến hạn
khách hàng không trả được nợ cho ngân hàng.
- Do trong quá trình khách hàng sử dụng vốn, nhân viên tín dụng đã không kiểm
tra thường xuyên việc khách hàng sử dụng vốn vay, do đó có thể khách hàng
sử dụng vốn vay sai mục đích dẫn đến việc khách hàng mất khả năng thanh
toán.
Các ngân hàng thường có thói quen tập trung nhiều công sức cho việc thẩm định
trước khi cho vay mà lơi lỏng quá trình kiểm tra, kiểm soát đồng vốn sau khi cho vay.
Khi ngân hàng cho vay thì khoản cho vay cần phải được quản lý một cách chủ động để
đảm bảo sẽ đựơc hoàn trả. Theo dõi nợ là một trong những trách nhiệm quan trọng
nhất của nhân viên tín dụng nói riêng và của ngân hàng nói chung. Việc theo dõi hoạt
GVHD: TS. Bùi Thanh Quang Trang 15

Một số biện pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – CN An Giang
động của khách hàng vay nhằm tuân thủ các điều khoản đề ra trong hợp đồng tín dụng
giữa khách hàng và ngân hàng nhằm tìm ra những cơ hội kinh doanh mới và mở rộng
cơ hội kinh doanh. Tuy nhiên trong thời gian qua, các ngân hàng thương mại chưa
thực hiện tốt công tác này. Điều này một phần do yếu tố tâm lý ngại gây phiền hà cho
khách hàng của nhân viên ngân hàng, một phần do hệ thống thông tin quản lý phục vụ
kinh doanh tại các doanh nghiệp quá lạc hậu, không cung cấp được kịp thời, đầy đủ
các thông tin mà ngân hàng thương mại yêu cầu.
- Do việc cho vay sai đối tượng, tính toán cho vay không phù hợp với khách
hàng, định kỳ trả nợ không phù hợp với chu kỳ sản xuất kinh doanh của khách
hàng, cho vay vượt nhu cầu sử dụng vốn của khách hàng.
- Do đánh giá không đúng tài sản thế chấp, bảo lãnh, cầm cố về giá trị, tính chất
pháp lý.
- Lỏng lẻo trong công tác kiểm tra nội bộ các ngân hàng.
Kiểm tra nội bộ có điểm mạnh hơn thanh tra Ngân hàng Nhà nước ở tính thời gian

- Tình hình tài chính doanh nghiệp yếu kém, thiếu minh bạch.
Quy mô tài sản, nguồn vốn nhỏ bé, tỷ lệ nợ so với vốn tự có cao là đặc điểm chung
của hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam. Ngoài ra, thói quen ghi chép đầy đủ, chính
xác, rõ ràng các sổ sách kế toán vẫn chưa được các doanh nghiệp tuân thủ nghiêm
chỉnh và trung thực. Do vậy, sổ sách kế toán mà các doanh nghiệp cung cấp cho ngân
hàng nhiều khi chỉ mang tính chất hình thức hơn là thực chất. Khi cán bộ ngân hàng
lập các bản phân tích tài chính của doanh nghiệp dựa trên số liệu do các doanh nghiệp
cung cấp, thường thiếu tính thực tế và xác thực. Đây cũng là nguyên nhân vì sao ngân
hàng vẫn luôn xem nặng phần tài sản thế chấp như là chỗ dựa cuối cùng để phòng
chống rủi ro tín dụng.
- Những nguyên nhân khác như: khách hàng cố ý không trả nợ, khách hàng chết
hoặc mất tích.
2.6.3. Dấu hiệu nhận biết rủi ro tín dụng:
2.6.3.1. Phát hiện sớm các dấu hiệu:
 Nhóm dấu hiệu báo trước từ rủi ro về ngành nghề kinh doanh – đặc điểm phân
tích ngành nghề kinh doanh:
- Lượng hàng bán trước đây và lợi nhuận.
- Chính sách của Chính phủ.
- Các điều kiện lao động.
- Các điều kiện cạnh tranh.
- Chu kỳ của ngành nghề kinh doanh.
 Nhóm dấu hiệu báo trước từ rủi ro trong kinh doanh (rủi ro về cơ cấu, chiến
lược và hoạt động):
- Kế hoạch, chiến lược và sự không đồng nhất trong việc lập kế hoạch.
- Cơ cấu lại quy mô lớn, mở rộng hay thu hẹp công ty (doanh nghiệp).
- Sụt giá cổ phiếu trên thị trường.
- Những thay đổi trong nhu cầu thị trường, cổ phiếu bị ảnh hưởng bởi công nghệ
hay các quy chế hoặc việc xóa bỏ quy chế.
- Giới thiệu hay hủy bỏ các sản phẩm và dịch vụ chính.
- Chất lượng sản phẩm.

- Sức ép thanh toán của các nhà cung cấp.
- Tinh thần làm việc của nhân viên kém.
- Những thay đổi bất thưởng trong bộ máy quản lý công ty (doanh nghiệp).
- Thông tin quản lý chậm và thiển cận.
- Phân tích thiếu nhạy bén, không nêu lên được vấn đề cần nghi vấn.
- Các chỉ tiêu không đạt được mà không có sự phản hồi của ban quản lý.
 Nhóm dấu hiệu báo trước thông qua thông tin bên ngoài:
- Thông tin về thị trường và ngành nghề kinh doanh không đủ.
- Ngành nghề kinh doanh đang gặp khó khăn.
- Thông tin từ các ngân hàng khác cho thấy tình hình kinh doanh không ổn định.
- Chú ý đến dư luận.
2.6.3.2. Nhận diện rủi ro qua các dấu hiệu cảnh báo và xác định các vấn đề:
GVHD: TS. Bùi Thanh Quang Trang 18

Một số biện pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – CN An Giang
Sau khi khoản vay phát sinh và được phân loại, nhân viên tín dụng luôn phải theo
dõi, giám sát khoản vay để nhận diện rủi ro thông qua các dấu hiệu cảnh báo sau:
 Nhóm dấu hiệu phát sinh rủi ro từ phía khách hàng:
- Trì hoãn hoặc gây khó khăn, trở ngại cho ngân hàng trong quá trình kiểm tra
theo định kỳ (hoặc đột xuất) tình hình sử dụng vốn vay, tình hình tài chính,
hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng mà không có sự giải thích
thuyết phục.
- Có dấu hiệu thực hiện không đầy đủ các quy định, vi phạm pháp luật trong quá
trình quan hệ tín dụng.
- Chậm gửi hoặc trì hoãn gửi các báo cáo tài chính theo yêu cầu mà không có sự
giải thích thuyết phục.
- Đề nghị gia hạn, điều chỉnh kỳ hạn nợ nhiều lần không rõ lý do hoặc thiếu các
căn cứ thuyết phục mang tính khách quan về việc gia hạn hay điều chỉnh kỳ
hạn nợ.
- Sự sụt giảm bất thường số dư tài khoản tiền gửi tại ngân hàng, xuất hiện những

- Thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh xảy ra.
- Đối với khách hàng là tư nhân cá thể, có dấu hiệu người vay bị bệnh kéo dài
hoặc chết.
 Nhóm dấu hiệu xuất phát từ chính sách tín dụng của ngân hàng:
- Sự đánh giá và phân loại không chính xác về mức độ rủi ro của khách hàng.
- Cấp tín dụng dựa trên cam kết không chắc chắn và thiếu tính đảm bảo của
khách hàng về việc duy trì một khoản tiền gửi lớn hay các lợi ích do khách
hàng đem lại từ khoản tín dụng được cấp.
- Tốc độ tăng trưởng tín dụng quá nhanh, vượt quá khả năng và năng lực kiểm
soát cũng như nguồn vốn của ngân hàng.
- Soạn thảo các điều kiện ràng buộc trong hợp đồng tín dụng mập mờ, không rõ
ràng, không xác định rõ lịch hoàn trả đối với từng khoản vay, cố ý thỏa hiệp
các nguyên tắc tín dụng với khách hàng mặc dù biết có rủi ro tiềm ẩn.
- Chính sách tín dụng quá lỏng lẻo hay quá cứng nhắc để kẻ hở cho khách hàng
lợi dụng.
- Cung cấp tín dụng với khối lượng lớn cho các khách hàng không thuộc phân
đoạn thị trường tối ưu của ngân hàng.
- Hồ sơ tín dụng không đầy đủ, thiếu sự tuân thủ hay tuân thủ không đầy đủ các
quy định hiện hành về phê duyệt tín dụng.
- Có khuynh hướng cạnh tranh thái quá, giảm thấp lãi suất cho vay, phí dịch vụ
hay thực hiện chiến lược “giữ chân” khách hàng bằng các khoản tín dụng mới
để họ không quan hệ với các tổ chức tín dụng khác mặc dù biết rõ các khoản
tín dụng mới cấp sẽ ẩn chứa nguy cơ rủi ro cao.
2.6.4. Các chỉ tiêu để đánh giá hoạt động tín dụng:
2.6.4.1. Tỷ số Nợ quá hạn trên Tổng dư nợ:
Chỉ tiêu này đánh giá chất lượng công tác tín dụng. Quy định hiện nay của Ngân
hàng Nhà nước cho phép dư nợ quá hạn của các ngân hàng thương mại không được
vượt quá 5%.
2.6.4.2. Tỷ số Hệ số thu nợ:


Đối với khoản nợ quá hạn, tổ chức tín dụng phân loại lại vào nhóm nợ có rủi ro
thấp hơn (kể cả nhóm 1) khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau:
 Khách hàng trả đầy đủ phần nợ gốc và lãi bị quá hạn (cả cả lãi áp dụng đối
với nợ gốc quá hạn) và nợ gốc và lãi của các kỳ hạn trả nợ tiếp theo trong thời gian tối
thiểu 06 tháng đối với khoản nợ trung và dài hạn, 03 tháng đối với các khoản nợ ngắn
hạn, kể từ ngày bắt đầu trả đầy đủ nợ gốc và lãi bị quá hạn.
 Có tài liệu, hồ sơ chứng minh các nguyên nhân làm khoản nợ bị quá hạn đã
được xử lý, khắc phục.
 Tổ chức tín dụng có đủ cơ sở (thông tin, tài liệu kèm theo) đánh giá là khách
hàng có khả năng trả đầy đủ nợ gốc và lãi đúng thời hạn còn lại.
+ Đối với các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ, tổ chức tín dụng phân loại lại
vào nhóm nợ có rủi ro thấp hơn (kể cả nhóm 1) khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau
đây:
 Khách hàng trả đầy đủ nợ gốc và lãi theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại trong
thời gian tối thiểu 06 tháng đối với các khoản nợ trung và dài hạn, 03 tháng đối với
các khoản nợ ngắn hạn, kể từ ngày bắt đầu trả đầy đủ nợ gốc và lãi theo thời hạn được
cơ cấu lại.
 Có tài liệu, hồ sơ chứng minh các nguyên nhân làm khoản nợ phải cơ cấu lại
thời hạn trả nợ đã được xử lý, khắc phục.
GVHD: TS. Bùi Thanh Quang Trang 21

Một số biện pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – CN An Giang
 Tổ chức tín dụng có đủ cơ sở (thông tín dụng, tài liệu kèm theo) để đánh giá
là khách hàng có khả năng trả đầy đủ nợ gốc và lãi đúng thời hạn đã được cơ cấu lại
còn lại.
- Nhóm 2 (Nợ cần chú ý) bao gồm:
+ Các khoản nợ quá hạn từ 10 ngày đến 90 ngày.
+ Các khoản nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu (đối với khách hàng là doanh
nghiệp, tổ chức thì tổ chức tín dụng phải có hồ sơ đánh giá khách hàng về khả năng trả
nợ đầy đủ nợ gốc và lãi đúng kỳ hạn được điều chỉnh lần đầu).

hạn trả nợ lần đầu phân loại vào nhóm 2 theo quy định.
GVHD: TS. Bùi Thanh Quang Trang 22

Một số biện pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – CN An Giang
+ Các khoản nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả
lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng.
+ Các khoản nợ khác được phân loại vào nhóm 3 theo quy định:
Tổ chức tín dụng phải chuyển khoản nợ vào nhóm có rủi ro cao hơn trong các
trường hợp:
 Toàn bộ dư nợ của một khách hàng tại một tổ chức tín dụng phải được phân
loại vào cùng một nhóm nợ.
 Đối với khoản nợ cho vay hợp vốn tổ chức tín dụng làm đầu mối phải thực
hiện phân loại nợ đối với khoản cho vay hợp vốn theo các quy định và phải thông báo
kết quả phân loại nợ cho các tổ chức tín dụng tham gia cho vay hợp vốn. Trường hợp
khách hàng vay hợp vốn có một hoặc một số các khoản nợ khác tại tổ chức tín dụng
tham gia cho vay hợp vốn đã phân loại vào nhóm nợ không cùng nhóm nợ của khoản
nợ vay hợp vốn do tổ chức tín dụng làm đầu mối phân loại, tổ chức tín dụng tham gia
cho vay hợp vốn phân loại lại toàn bộ dư nợ (kể cả phần dư nợ cho vay hợp vốn) của
khách hàng vay hợp vốn vào nhóm nợ do tổ chức tín dụng đầu mối phân loại hoặc do
tổ chức tín dụng tham gia cho vay hợp vốn phân loại tùy theo nhóm nợ nào có rủi ro
cao hơn.
 Tổ chức tín dụng phải chủ động phân loại các khoản nợ được phân loại vào
các nhóm theo quy định vào nhóm nợ có rủi ro cao hơn theo đánh giá của tổ chức tín
dụng khi xảy ra các trường hợp:
Có những diễn biến bất lợi tác động tiêu cực đến môi trường, lĩnh vực kinh
doanh của khách hàng.
Các khoản nợ của khách hàng bị các tổ chức tín dụng khác phân loại vào nhóm
nợ có mức độ rủi ro cao hơn (nếu có thông tin).
Các chỉ tiêu tài chính của khách hàng (về khả năng sinh lời, khả năng thanh
toán, tỷ lệ nợ trên vốn và dòng tiền) hoặc khả năng trả nợ của khách hàng bị suy giảm

Các khoản nợ của khách hàng bị các tổ chức tín dụng khác phân loại vào nhóm
nợ có mức độ rủi ro cao hơn (nếu có thông tin).
Các chỉ tiêu tài chính của khách hàng (về khả năng sinh lời, khả năng thanh
toán, tỷ lệ nợ trên vốn và dòng tiền) hoặc khả năng trả nợ của khách hàng bị suy giảm
liên tục hoặc có biến động lớn theo chiều hướng suy giảm.
Khách hàng không cung cấp đầy đủ, kịp thời và trung thực các thông tin tài
chính theo yêu cầu của tổ chức tín dụng để đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng.
- Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm:
+ Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày.
+ Các khoản nợ đã cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên
theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu.
+ Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả
nợ được cơ cấu lại lần thứ hai.
+ Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, kể cả chưa bị quá
hạn hoặc đã quá hạn.
+ Các khoản nợ khoanh, nợ chờ xử lý.
+ Các khoản nợ khác được phân loại vào nhóm 5 theo quy định:
Tổ chức tín dụng phải chuyển khoản nợ vào nhóm có rủi ro cao hơn trong các
trường hợp:
 Toàn bộ dư nợ của một khách hàng tại một tổ chức tín dụng phải được phân
loại vào cùng một nhóm nợ.
 Đối với khoản nợ cho vay hợp vốn tổ chức tín dụng làm đầu mối phải thực
hiện phân loại nợ đối với khoản cho vay hợp vốn theo các quy định và phải thông báo
kết quả phân loại nợ cho các tổ chức tín dụng tham gia cho vay hợp vốn. Trường hợp
khách hàng vay hợp vốn có một hoặc một số các khoản nợ khác tại tổ chức tín dụng
tham gia cho vay hợp vốn đã phân loại vào nhóm nợ không cùng nhóm nợ của khoản
nợ vay hợp vốn do tổ chức tín dụng làm đầu mối phân loại, tổ chức tín dụng tham gia
GVHD: TS. Bùi Thanh Quang Trang 24

Một số biện pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – CN An Giang

Ngân hàng phải thiết lập và duy trì các chính sách, thói quen và thủ tục phù hợp
với việc đánh giá chất lượng tài sản, dự phòng rủi ro mất vốn tín dụng.
Ngân hàng phải xây dựng một quy trình giám sát các khoản nợ có vấn đề và chọn
lọc các món nợ quá hạn.
Khi thực hiện bảo lãnh hoặc nhận vật thế chấp, ngân hàng phải có phương pháp
đánh giá uy tín của người bảo lãnh và định giá vật thế chấp.
Khi có các khoản nợ có vấn đề thì ngân hàng tăng cường hoạt động cho vay trên
cơ sở đảm bảo cấp tín dụng và sức mạnh tài chính tổng thể.
- Chuẩn mực 9: Sự tập trung rủi ro và các rủi ro lớn.
GVHD: TS. Bùi Thanh Quang Trang 25

Trích đoạn Vai trò, chức năng: 1 Vai trò: Điều kiện và thủ tục vay vốn: Phương thức cho vay: Lãi suất cho vay: Gia hạn nợ điều chỉnh kỳ hạn nợ:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status