tiểu luận bất bình đẳng giới ở việt nam - Pdf 33

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT
KHOA CÔNG TÁC XÃ HỘI

BÀI TIỂU LUẬN MÔN GIỚI VÀ PHÁT TRIỂN
ĐỀ TÀI
BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI Ở VIỆT NAM

Giảng viên hướng dẫn
Sinh viên thực hiện
Lớp
MSV

: Phạm Thị Kim Ngọc
: Hoàng Thị Mỹ Phụng
: D14XH02
: 1427601010…

Trang 1


Bình Dương, ngày 06 tháng 12 năm 2015
Mục lục
A. Giới thiệu--------------------------------------------------------------------------------1
B. Nội dung---------------------------------------------------------------------------------1
1. Thực trạng vấn đề------------------------------------------------------------------1

1.1 Thực trạng bất bình đẳng giới trong tỷ số giới tính khi sinh-------------1
1.2 Thực trạng bất bình đẳng giới trong chính trị------------------------------2
1.3 Thực trạng bất bình đẳng giới trong giáo dục------------------------------3
1.4 Thực trạng bất bình đẳng giới trong kinh tế, lao động, việc làm--------4
2. Nguyên nhân của sự bất bình đảng giới ở Việt Nam---------------------------5

thói quen, hành vi, nếp sống, nếp nghĩ của người Việt, hơn nữa trong thời đại
khoa học công nghệ phát triển việc xác định giới tính cho thai nhi trước khi sinh
cũng là việc không khó. Dẫn đến tình trạng chênh lệch giới tính khi sinh ngày
càng cao hơn. Tỷ số giới tính khi sinh, được tính bằng số trẻ em trai sinh ra trên
100 trẻ em gái đã tăng lên trong những năm qua, cho thấy một sự can thiệp cố ý
làm thay đổi tỷ lệ cân bằng tự nhiên giữa số lượng trẻ em trai và trẻ em gái sinh ra
trong xã hội. Để có được các số liệu tin cậy, phục vụ việc theo dõi và dự báo hiện
tượng này ở Việt Nam, Quỹ Dân số
Liên hợp quốc (UNFPA) đã hỗ trợ kỹ thuật cho Tổng cục Thống kê (TCTK) thu
thập và phân tích số liệu về tỷ số giới tính khi sinh (TSGTKS) thông qua các cuộc
điều tra biến động dân số hàng năm, được tiến hành từ năm 2006, và qua cuộc
Tổng điều tra Dân số và Nhà ở năm 2009. Kết quả phân tích số liệu Tổng điều tra
Trang 3


2009 đã chỉ ra rằng TSGTKS ở Việt Nam đã tăng tới mức 110,6 trẻ em trai trên
100 trẻ em gái vào năm 2009, cao hơn đáng kể so với chuẩn sinh học bình thường
dao động trong khoảng 104-106 trẻ em trai cho 100 trẻ em gái [1].
Hiện nay, tỷ số giới tính khi sinh tiếp tục gia tăng mạnh mẽ với 114,3 trẻ
trai/100 trẻ gái. Con số này đã vượt cao hơn cả chỉ tiêu đặt ra vào năm 2015 [2].
1.2 Thực trạng bất bình đẳng giới trong chính trị
Cuộc sống ngày càng được nâng cao và thay đổi với tốc độ chóng mặt đòi
hỏi cả hai vợ chồng phải cùng nhau ra ngoài xã hội làm việc thì mới đủ khả năng
chăm sóc gia đình con cái. Nên người phụ nữ trong xã hội trước kia chỉ quanh
quẩn nhà bếp thì cũng được tạo điều kiện ra làm việc ngoài xã hội như nam giới
nhưng ở nơi công sở phụ nữ lại đa phần không được giữ các chức vụ cao do rào
cản về bất bình đẳng giới, quan niệm cho rằng phụ nữ lãnh đạo thì hiệu quả sẽ
không cao bằng nam giới.
Bảng 1: Số lượng đảng viên mới và % nữ đảng viên mới trong Đảng Cộng
sản Việt Nam trong giai đoạn 2008-2011 [4], [5].

đảng viên

3,636,158

3,822,323

3,910,352

Trong Ban Bí thư, tỷ lệ đại diện nữ thấp. Trong Bộ Chính trị, một nữ
ủy viên được bổ nhiệm năm 2011, trong khi trong Ban Chấp hành Trung
ương, tỷ lệ nữ duy trì khoảng 8 đến 9% trong ba nhiệm kỳ vừa qua.

Trang 4


Bảng 2: Sự tham gia và đại diện của phụ nữ trong Đảng 2001-2005, 20062011, 2011-2016 [6].
2001-2005

2006-2011

2011-2016

Số
nữ

Tổng
số

%
nữ

0

0

1

0

Ban Bí Thư

1

9

11

2

10

20

2

10

20

Bộ Chính Trị


9

Ban
Hành
Ương

Chấp 15
Trung

1.3 Thực trạng bất bình đẳng giới trong giáo dục

Nếu như ở thời xưa người ta chỉ chú trọng việc giáo dục mở mang tri thức
cho nam giới còn phụ nữ thì chỉ cần học: “Công, dung, ngôn, hạnh”, “Tam tòng
tứ đức” thì trong thời đại hiện nay vấn đề bình đẳng giới trong giáo dục càng
có ý nghĩa sâu sắc hơn . Bình đẳng giới trong giáo dục làm tăng chất lượng
nguồn nhân lực trung bình của xã hội. Nếu chúng ta giả định rằng, trẻ em trai và
gái có khả năng thiên bẩm như nhau và những đứa trẻ có khả năng hơn sẽ được
Trang 5


học tập và đào tạo nhiều hơn, thì việc thiên vị trẻ em nghĩa là những trẻ em trai
có tiềm năng thấp hơn trẻ em gái lại được học hành nhiều hơn, như thế, chất
lượng nguồn nhân lực trong nền kinh tế sẽ thấp hơn mức có thể đạt được và kìm
hãm tiềm năng tăng trưởng kinh tế. Bình đẳng giới trong giáo dục có ảnh hưởng
tích cực đến chất lượng nguồn nhân lực trong tương lai. Việc thay đổi này đã
dần thu hẹp khoảng cách chênh lệch trong tất cả các cấp bậc học Năm 2009, tỷ
lệ biết đọc biết viết của nam giới là 95,8% và của nữ là 91,4%. Số liệu cho thấy
vẫn có sự chênh lệch giữa nam và nữ về tỷ lệ biết đọc biết viết. Tuy nhiên, sự
chênh lệch này đã giảm đáng kể trong 20 năm qua. So với Tổng điều tra năm
1989, tỷ lệ biết đọc biết viết của nữ giới đã tăng lên 8,7 điểm phần trăm và tỷ lệ

ngành nghề thủy sản, dệt may và da giày có lương gần thấp nhất lại là ba
nghề có số lao động nữ tập trung đông nhất. Tính trên bình diện chung, lương
phụ nữ chỉ bằng 85% lương nam giới, trong đó phụ nữ làm việc ở nhóm công
nghiệp có mức lương bằng 82% lương nam giới, dịch vụ bằng 75%, thương
mại bằng 80%.Về vị thế nghề nghiệp, phụ nữ được đề nghị tuyển dụng nhiều
ở nhóm việc nhân viên, còn nam giới được đề nghị vào vị trí lãnh đạo nhiều
hơn hẳn nữ giới.
Bên cạnh đó điều kiện lao động, thu nhập và an sinh xã hội (bảo hiểm xã
hội, bảo hiểm y tế) đối với lao động nữ làm việc trong khu vực này còn rất
nhiều hạn chế.
2. Nguyên nhân của sự bất bình đẳng giới ở Việt Nam
Nguyên nhân đầu tiên nên kể đến là quan niệm: “ Trọng nam khinh nữ” đã
có từ ngàn đời xưa của ông cha ta, quan điểm này đẵn sâu vào tiềm thức cách
sống cách nghĩ của người Việt. Hơn nữa nước ta theo thế hệ phụ hệ (con cái
mang họ cha là chủ yếu) nên việc sinh con trai để duy trì dòng họ và việc thờ
cúng ông bà tổ tiên thường là việc của người đàn ông còn con gái theo như xưa
thì: “Con gái lấy chồng như bát nước hất đi” người phụ nữ khi lấy chồng thì sẽ
theo phía chồng ít có dính dán đến cha mẹ đẻ và công việc thờ cúng ông bà tổ
tiên họ không có phần được đảm trách. Trong thời đại đang bùng nổ dân số thì
Nhà Nước đã đưa ra nhiều chính sách kế hoạch hóa gia đình trong đó đáng chú
ý là khẩu ngữ: “Dừng lại ở hai con để nuôi dạy cho tốt” đã làm cho vấn đề
muốn sinh con trai nối dõi tông đường tăng cao hơn nữa trong các gia đình
Trang 7


Việt. Một khía cạnh khác không thể bỏ qua ở các vùng ven biển Việt Nam đó là
việc những người ngư dân họ đều muốn sinh con trai càng nhiều càng có thêm
lực lượng lao động tham gia đi biển tăng thêm thu nhập thay vì con gái không
thể ra biển đánh bắt được nên làm cho việc sinh 3,4,… tăng nhanh .
Tỷ lệ sinh thứ 3 con theo nghề nghiệp


26,0

4

14,8

224

25,5

Nông nghiệp
Ngư nghiệp
Công nhân, thủ công
Nội trợ
Khác

Tổng cộng

Nguồn: Dân số- Kế hoạch hóa gia đình
Nguyên nhân thứ hai nhận thức chưa được nâng cao của đa số người dân,
công tác tuyên truyền về vấn đề bình đẳng giới từ cán bộ đến người dân chưa
phù hợp, còn gặp nhiều bất cập. Trong Báo cáo về mất cân bằng giới tính khi
Trang 8


sinh ở Việt Nam qua các bằng chứng từ Tổng điều tra dân số và nhà ở năm
2009, trình độ học vấn của người mẹ quan hệ tương hỗ chặt chẽ với tỷ số giới
tính khi sinh - người phụ nữ càng có học thức cao thì càng có khả năng và điều
kiện lựa chọn sinh con trai. Cụ thể, nhóm các bà mẹ có trình độ tiểu học và

“bóng ma” đeo đuổi phụ nữ ở công sở, không được coi trọng, ít được sự tín nhiệm
của đồng nghiệp chung cơ quan và khó được giữ các chức vụ cao như nam giới.
4. Giải pháp khắc phục sự bất bình đẳng giới ở Việt Nam

Muốn khắc phục tình trạng trạng trên thì phải thay đổi lối suy nghĩ đã ăn
sâu trong mỗi con người Việt Nam, công việc nhà không phải chỉ của riêng
người phụ nữ mà người đàn ông cũng có thể chia sẻ, bởi gia đình là tế bào cuả
xã hội nên điều tiên quyết để giải quyết là nằm ở gia đình.
Nhà nước nên tạo điều kiện, môi trường công bằng hơn cho phụ nữ ở nơi công
sở nếu như đóng góp của người phụ nữ ngang với nam giới thì nên hưởng
quyền lợi ngang nhau và có vị trí lãnh đạo ngang nhau. Tạo ra nhiều công việc
tăng thu nhập cho phụ nữ thay vì chỉ ở nhà làm việc nhà và lệ thuộc vào người
đàn ông, nâng cao vấn đề y tế, giáo dục cho phụ nữ.
Các cấp chính quyền địa phương cần tạo sự gần gũi với người dân để việc
tuyên truyền vấn đề bình đẳng giới đạt được hiệu quả cao.
C. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận

Vấn đề bất bình đẳng giới là vấn đề không chỉ của riêng một bộ phận, hay
một thế hệ nào mà nó đang là vấn đề của toàn xã hôi của Việt Nam cho nên
giải quyết vấn đề bất bình đẳng là mục tiêu hàng đầu của Đảng và Nhà Nước ta
được thể hiện qua các văn kiện, nghị quyết. Giaỉ quyết được vấn đề bất bình
đẳng cũng đồng nghĩa với việc có thể làm cho đất nước phát triển hơn. Qua bài
tiểu luận tôi muốn đem đến cho người đọc cách nhìn nhận rõ hơn về sự bất
bình đẳng giới ở nước ta, hy vọng rằng vấn đề này sẽ ngày càng được khắc
phục hơn nữa.
2. Kiến nghị
Trang 10







Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status