Sự bất bình đẳng về ý chí giữa các chủ thế trong quan hệ pháp luật hành chính - Pdf 33

MỤC LỤC
Trang
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU

1

PHẦN NỘI DUNG

2

I. Khái quát quan hệ pháp luật hành chính
II. Phân tích sự bất bình đẳng về ý chí giữa các chủ thể trong quan hệ
pháp luật hành chính
III. Một số vấn đề thực tiễn

2
2
8

PHẦN KẾT LUẬN

10

TÀI LIỆU THAM KHẢO

11


PHẦN MỞ ĐẦU
Quan hệ pháp luật hành chính là một trong những nội dung quan trọng trong

Tùy thuộc vào từng lĩnh vực phát sinh, các quan hệ pháp luật hành chính sẽ có
những khách thể là trật tự quản lí hành chính nhà nước tương ứng với lĩnh vực đó.
II. Phân tích sự bất bình đẳng về ý chí giữa các chủ thể trong quan hệ pháp
luật hành chính
1. Sự bất bình đẳng thể hiện ở chỗ chủ thể quản lí có quyền nhân danh nhà
nước áp để áp đặt ý chí của mình lên đối tượng quản lí.
Quan hệ pháp luật hành chính là quan hệ giữa chủ thể bắt buộc – chủ thể sử
dụng quyền lực nhà nước và chủ thể thường – chủ thể phục tùng quyền lực, trong
đó chủ thể bắt buộc có quyền nhân danh Nhà nước để áp đặt ý chí đối với bên kia.
Việc áp đặt ý chí của chủ thể quản lí lên đối tượng quản lí trong những trường hợp
khác nhau được thực hiện dưới những hình thức khác nhau như:

3


- Một bên có quyền ra các mệnh lệnh cụ thể hay đặt ra các quy định bắt
buộc đối với bên kia và kiểm tra việc thực hiện chúng. Phía bên kia có nghĩa vụ
thực hiện các quy định, mệnh lệnh của cơ quan có thẩm quyền.
Các cơ quan hành chính nhà nước và các chủ thể quản lý hành chính nhà
nước, dựa vào thẩm quyền của mình trên cơ sở phân tích, đánh giá tình hình có
quyền ra những mệnh lệnh hoặc các quy định bắt buộc đối với đối tượng quản lý cụ
thể và kiểm tra việc thực hiện chúng. Đối tượng bị quản lí có nghĩa vụ phải thực
hiện những quy định, mệnh lệnh đó.
Ví dụ: Nhằm đảm bảo an toàn và ổn định đời sống của các hộ dân ở khu vực
có nguy cơ sạt lở cao thuộc xã An Thới Đông, huyện Cần Giờ, UBND huyện Cần
Giờ đã ra quyết định di dời khẩn cấp 8 hộ dân sống trong khu vực này. Theo đó,
UBND xã An Thới Đông sẽ giám sát, kiểm tra việc di dời, tiến độ, chất lượng công
trình xây dựng nhà ở tái định cư của các hộ này. Về phía hộ dân, phải di dời theo
đúng quyết định. Ngoài ra, sau khi nhận kinh phí, phải tự tổ chức liên hệ hợp đồng
với đơn vị thi công để xây dựng nhà ở theo đúng mẫu thiết kế của huyện đã ban

xét hồ sơ, UBND quận Cầu Giấy có thể ra quyết định cấp phép xây dựng (nếu hồ
sơ của anh A hợp lệ) hoặc không cấp phép xây dựng (nếu hồ sơ của anh A không
hợp lệ). Như vậy, anh A có quyền yêu cầu UBND cấp phép xây dựng nhà nhưng
UBND lại có quyền xem xét, giải quyết, có thể đáp ứng hoặc không đáp ứng yêu
cầu của anh A. Đây chính là sự bất bình đẳng trong quan hệ pháp luật hành chính.
- Cả hai bên đều có quyền hạn nhất định nhưng bên này quyết định điều gì
phải được bên kia cho phép hay phê chuẩn hoặc cùng phối hợp quyết định.
Ta có thể thấy sự bất bình đẳng này trong quan hệ giữa trường Đại học Kinh
doanh và Công nghệ Hà Nội với Bộ Giáo dục và Đào tạo. Theo Điều 41 Luật Giáo
dục năm 2005: “…Căn cứ vào chương trình khung, trường cao đẳng, trường đại
học xác định chương trình giáo dục của trường mình”. Như vậy, trường Đại học
Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội có quyền xây dựng kế hoạch đào tạo, giáo trình
giảng dạy,… cho các ngành học mình tổ chức đào tạo trên cơ sở chương trình
khung do Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định. Tuy nhiên, khi muốn mở thêm ngành
5


học trong chương trình đào tạo thì trường cần phải có sự cho phép của Bộ Giáo dục
và Đào tạo.
Một ví dụ khác cho điều này là: Theo khoản 3 Điều 6 Nghị định của Chính
phủ số 75/2006/NĐ-CP ngày 02 tháng 8 năm 2006 quy định chi tiết và hướng dẫn
thi hành một số điều của Luật giáo dục thì: “Bộ trưởng Bộ Văn hoá - Thông tin
phối hợp với Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định cụ thể về chương trình
giáo dục, thời gian đào tạo của các trường, lớp năng khiếu nghệ thuật”. Ta thấy,
việc Bộ trưởng Bộ Văn hóa – Thông tin quy định chương trình giáo dục, thời gian
đào tạo của các trường, lớp năng khiếu nghệ thuật cần phải có sự phối hợp quyết
định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo. Đây chính là sự bất bình đẳng trong
quan hệ pháp luật hành chính, khi cả hai bên đều có quyền hạn nhất định nhưng
bên này quyết định điều gì phải được bên kia cho phép hay phê chuẩn hoặc cùng
phối hợp quyết định.

Ví dụ 2: Ngày 21/10/2011, phòng Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi
trường đã bắt quả tang và lập biên bản vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm
pháp luật về môi trường của công ty Huy Việt, UBND Thành phố Cần Thơ đã ban
hành Quyết định xử phạt với tổng mức tiền phạt là 370.000.000 đồng, buộc Công
ty Huy Việt thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định của pháp
luật. Nhưng sau đó, công ty Huy Việt lại không thực hiện bất cứ biện pháp khắc
phục hậu quả nào. Vì vậy, căn cứ vào Điều 12, Điều 19, Điều 30 Pháp lệnh Số
44/2002/PL-UBTVQH10 của Ủy ban thường vụ quốc hội về xử lý vi phạm hành
chính, UBND Thành phố Cần Thơ đã áp dụng biện pháp cưỡng chế, buộc công ty
phải thực hiện quyết định xử phạt. Công ty phải chịu mọi chi phí cho việc áp dụng
các biện pháp cưỡng chế. Đây chính là sự bất bình đẳng trong quan hệ pháp luật
hành chính.
Tóm lại, sự không bình đẳng giữa các bên tham gia quan hệ pháp luật hành
chính luôn tồn tại, không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của các bên tham gia vào
quan hệ đó. Sự không bình đẳng giữa các bên là các cơ quan trong bộ máy nhà
nước bắt nguồn từ quan hệ giữa cấp trên và cấp dưới trong tổ chức bộ máy nhà
7


nước. Sự không bình đẳng giữa các cơ quan hành chính nhà nước với các tổ chức
xã hội, đơn vị kinh tế, các tổ chức và cá nhân khác bắt nguồn từ quan hệ “quyền lực
– phục tùng”. Trong các quan hệ đó, cơ quan hành chính nhà nước nhân danh nhà
nước để thực hiện chức năng chấp hành – điều hành trong lĩnh vực phân công phụ
trách. Do vậy, các đối tượng kể trên phải phục tùng ý chí của Nhà nước mà người
đại diện là cơ quan hành chính nhà nước.
3. Sự bất bình đẳng thể hiện ở tính chất đơn phương và bắt buộc của các quyết
định hành chính.
Quyết định hành chính là một dạng của quyết định pháp luật, là kết quả của sự
thể hiện ý chí quyền lực của nhà nước, thông qua những hành vi của các chủ thể
được thực hiện quyền hành pháp trong hệ thống cơ quan hành chính nhà nước, tiến

chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ nhằm xử phạt vi phạm hành chính trong
lĩnh vực giao thông đường bộ, quản lí đời sống xã hội; thứ ba, nghị định trên áp
dụng cho cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông
đường bộ trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam kể cả khi có sự
phản kháng của đối tượng bị quản lí, được bảo đảm thực hiện bằng các biện pháp
cưỡng chế nhà nước. Ví dụ trên cho thấy, trong quan hệ pháp luật hành chính, sự
bất bình đẳng về ý chí giữa các chủ thể luôn tồn tại.
Trong thực tiễn quản lí, có những trường hợp cơ quan hành chính nhà nước ra
quyết định do yêu cầu của cơ quan cấp dưới, đơn vị trực thuộc hay của cá nhân.
Cũng có nhiều trường hợp trước khi ra quyết định các chủ thể quản lí hành chính
nhà nước tổ chức trao đổi, thảo luận về nội dung quyết định với sự tham gia của đại
diện cơ quan cho cơ quan cấp dưới, đơn vị trực thuộc hoặc những đối tượng có liên
quan. Ngay cả trong những trường hợp này quyết định của cơ quan cơ thẩm quyền
vẫn có tính chất đơn phương bởi vì yêu cầu của các đối tượng có liên quan, của cấp
dưới hoặc ý kiến đóng góp trong các cuộc thảo luận không có tính chất quyết định
mà chỉ là những ý kiến để chủ thể quản lí hành chính nhà nước nghiên cứu, xem
xét, tham khảo trước khi ra quyết định.
9


III. Một số vấn đề thực tiễn
Sự bất bình đẳng về ý chí giữa các chủ thể của quan hệ pháp luật hành chính
luôn tồn tại, dễ dẫn đến tình trạng lạm quyền, quan liêu, tham nhũng của các cán
bộ, công chức. Vì vậy, để nâng cao hiệu quả của công tác quản lí hành chính, phát
huy hơn nữa ưu điểm của phương pháp “mệnh lệnh – phục tùng”, cần chú trọng
một số hoạt động sau:
- Thứ nhất, cải cách tổ chức bộ máy hành chính. Cần hướng tới xây dựng bộ
máy hành chính nhà nước tinh giản, tổ chức hợp lí, có chức năng, nhiệm vụ, quyền
hạn phù hợp, hoạt động liên tục có kỉ cương trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp
luật; một bộ máy hành chính nhà nước hướng vào phục vụ nhân dân, chịu sự giám

trong đời sống nhân dân.

11


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Giáo trình Luật hành chính Việt Nam, Nxb. CAND, Hà Nội, 2010
2. Giáo trình Luật hành chính Việt Nam, Nxb. Đại học quốc gia, Hà Nội, 2010
3. Luật xây dựng năm 2005
4. Nghị định của Chính phủ số 75/2006/NĐ-CP ngày 02 tháng 8 năm 2006
quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật giáo dục
5. Pháp lệnh Số 44/2002/PL-UBTVQH10 của Ủy ban thường vụ quốc hội về
xử lý vi phạm hành chính
6. Một số website:
www.vanban.chinhphu.vn
www.moj.gov.vn
www.vneconomy.vn
www.thuvienphapluat.vn
www.dantri.net

12




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status