sự tác động của đổi mới hệ thống chính trị với sự phát triển kinh tế của việt nam - Pdf 33

Chương I
Mở đầu
Mối quan hệ giữa chính trị và kinh tế là mối quan hệ cơ bản nhất, quyết
định nhất đối với sự vận động và phát triển của mọi xã hội. Tuy nhiên, trên
nhiều vấn đề, trong mô hình cũ của chủ nghĩa xã hội, ở hầu hết các nước xã
hội chủ nghĩa lại nhận thức về vấn đề này còn thiếu đầy đủ và việc vận dụng
mối quan hệ giữa kinh tế với chính trị vào thực tế còn nhiều khiếm khuyết.
Bên cạnh những thành tựu không thể phủ nhận được, sự lãnh đạo của chính
trị với kinh tế một thời gian dài ở nhiều nước xã hội chủ nghĩa không thành
công, kinh tế – xã hội ở các nước xã hội chủ nghĩa kém phát triển, lâm vào
tình trạng khủng khoảng. Từ cuối thập kỷ 70 của thế kỷ XX, một số nước xã
hội chủ nghĩa đã đổi mới sự tác động của chính trị vào kinh tế, đưa lại những
kết quả bước đầu và mang lại những triển vọng to lớn, khẳng định tính đúng
đắn của những định hướng đổi mới sự tác động lẫn nhau của chính trị và
kinh tế.
Việt Nam đang trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hoá
đất nước tiến lên chủ nghĩa xã hội. Để thực hiện được thành công cần giai
quyết rất nhiều vấn đề, song trong đó việc nhận thức đúng mối quan hệ giữa
kinh tế và chính trị để từ đó có những hướng đi hợp lý là một việc làm hết
sức quan trọng. Điều đó đặt ra sự cần thiết nhận thức đầy đủ cả về lý luận và
những kinh nghiệm lịch sử về sự tác động lẫn nhau của kinh tế và chính trị.
Việt Nam ta đã đi những bước mở đầu tốt đẹp của công cuộc công nghiệp
hoá hiện đại hoá đất nước. Nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn phức tạp đã và
đang được đặt ra. Lõi cốt bên trong vấn đề đó chính lại là định hướng chính
trị đối với sự phát triển của kinh tế. Việc nghiên cứu để nắm vững tự giác


quan hệ này là rất cần thiết cho việc tạo cơ sở khoa học, phương pháp luận
đúng đắn nhằm nâng cao hiệu quả tác động của chính trị đối với kinh tế
trong quá trình phát triển nước ta hiện nay.
Chính vì vậy,chúng ta đi vào nghiên cứu đề tài :sự tác động của đổi mới

phẩm mà trước đây miền Nam vẫn dùng cho gia súc. Đói kém hoành hành
toàn xã hội đã khiến cơ thể kinh tế của Việt Nam vốn èo uột trong thời gian
chiến tranh lại càng khó chữa trị hơn trong thời gian hậu chiến.
Cộng thêm về cuộc cải cách Giá - lương - tiền được đề ra theo Nghị
quyết Trung ương 8, khóa V của Đảng cộng sản Việt Nam do Tổng bí thư
Trường Chinh chủ trì vào tháng 6 năm 1985 Giá - lương - tiền bắt đầu được
thi hành từ quyết định do Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Tố Hữu ký
tháng Chín năm 1985, để củng cố mãi lực của đơn vị tiền tệ Việt Nam.Đây
cũng là động lực đưa tới vụ đổi tiền năm 1985 với hối xuất 1 đồng mới ăn 1
đồng, 2 đồng, 6, đồng, 9 đồng hoặc 10 đồng cũ tùy theo thời gian ký thác
tiền trong trương mục tiết kiệm. Chủ ý việc đổi tiền là để giảm lượng tiền
lưu hành và như thế tăng giá trị của tiền nhưng cũng có những hậu quả tai
hại trầm trọng là cơn khủng hoảng kinh tế sau đó. Nhà chức trách đã suy
luận sai lầm rằng bằng cách đổi tiền với hối xuất trên, giá trị của đồng tiền sẽ
tăng gấp 10 lần.Mỗi gia đình chỉ được phép đổi lấy 2000 đồng tiền mới. Số
tiền vượt con số quy định thì phải nộp vào trương mục ngân hàng đợi nhà
chức trách xét sau Quyết định này cũng xóa sổ vốn tích trữ của nhiều người.
Hơn nữa hành động này gây ra cảnh khan hiếm tiền. Có những vụ cơ quan
phải trả lương bằng chính loại hàng sản xuất vì không có tiền trả cho nhân
công: người làm mũ thì được phát mũ thay tiền lương.Để trả lương, nhà
nước lại phải in thêm tiền với khối lượng 1,38 lần so với trước nên hậu quả
là vật giá lại tăng mạnh. Sang năm 1986 thì mức lạm phát lên đến 774,7%


làm kiệt quệ kinh tế. Riêng các nông sản, so sánh vật giá năm 1986 với năm
1976 thì tăng 2000%.
Để cung ứng nhu yếu phẩm với giá thấp hơn, nhà nước phải mở rộng
chương trình tem phiếu nhưng vẫn không đủ nên phải hạn chế theo từng
ngạch của đối tượng (công nhân hay học sinh,công chức hay bộ độ,v.v..)
Mỗi hạng được phép mua sáu loại hàng với một số lượng ở giá nhất định

tổng kết 15 năm đổi mới, khẳng định: “Xây dựng chủ nghĩa xã hội bỏ qua
chế độ tư bản chủ nghĩa, tạo ra sự biến đổi về chất của xã hội trên tất cả các
lĩnh vực là sự nghiệp rất khó khăn, phức tạp, cho nên phải trải qua một thời
kỳ quá độ lâu dài với nhiều chặng đường, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã
hội có tính chất quá độ. Trong các lĩnh vực của đời sống xã hội diễn ra sự
đan xen và đấu tranh giữa cái mới và cái cũ”2. Trong hàng loạt các quy luật
khách quan, Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhận thức rõ hơn quy luật về quan
hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất,
sửa chữa sai lầm trước đó là là đã đưa quan hệ sản xuất đi quá nhanh, quá xa
trong khi lực lượng sản xuất còn rất lạc hậu, tập trung phát triển mạnh mẽ
lực lượng sản xuất thông qua thực hiện cách mạng khoa học - công nghệ,
đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hóa, từ đó điều chỉnh quan hệ sản xuất


cho phù hợp. Các quy luật vận động trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã
hội, nhất là các quy luật kinh tế đã từng bước nhận thức và vận dụng đúng
đắn và có hiệu quả hơn. Khi quyết định đường lối đổi mới ở Đại hội VI
Đảng ta đã nghiêm túc chỉ ra rằng, cuộc sống cho ta một bài học quý giá,
thấm thía là không thể nóng vội chủ quan làm trái với quy luật.
Thứ hai, từ nhận thức đúng đắn về thời kỳ quá độ, Đảng quyết định
đổi mới cơ cấu kinh tế, coi nền kinh tế có cơ cấu nhiều thành phần là một
đặc trưng của thời kỳ quá độ. Đại hội VI đã vận dụng đúng đắn quan điểm
của Lênin về kinh tế nhiều thành phần. Chính Lênin cũng cho rằng tên nước
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa là để khẳng định hướng tiến lên chứ điều đó chưa
có nghĩa là nền kinh tế của ta đã hoàn toàn là kinh tế xã hội chủ nghĩa. Vì
vậy, ở nước ta cần thiết phải có nhiều thành phần kinh tế phát triển bình
đẳng trước pháp luật, đó là yêu cầu khách quan. Đại hội VI khẳng định nước
ta có các thành phần: kinh tế xã hội chủ nghĩa bao gồm khu vực quốc doanh
và khu vực tập thể; kinh tế tiểu sản xuất hàng hóa; kinh tế tư bản tư nhân;
kinh tế tư bản nhà nước; kinh tế tự nhiên, tự túc tự cấp. Đại hội IX bổ sung

sang hạch toán, kinh doanh và từng bước đưa nền kinh tế vận động theo cơ
chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ


nghĩa. Đó chính là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Mục
đích của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là phát triển lực
lượng sản xuất, phát triển kinh tế để xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của
chủ nghĩa xã hội, nâng cao đời sống nhân dân. Phát triển lực lượng sản xuất
hiện đại gắn liền với xây dựng quan hệ sản xuất mới phù hợp trên cả ba mặt
sở

hữu,

quản

lý,

phân

phối.

Thứ ba, đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng và vai trò,
chức năng quản lý điều hành của Nhà nước. Nâng cao năng lực lãnh đạo và
sức chiến đấu của Đảng. Xây dựng và hoàn thiện Nhà nước theo hướng nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Củng cố sức mạnh của hệ thống chính
trị. Đại hội VI của Đảng đặt ra yêu cầu xây dựng Đảng ngang tầm nhiệm vụ
chính trị của một Đảng cầm quyền, tăng cường sức chiến đấu, năng lực lãnh
đạo và năng lực tổ chức thực tiễn, đổi mới phong cách làm việc, đi sâu, đi
sát thực tế, sát cơ sở, gắn bó với nhân dân. Nâng cao trình độ trí tuệ, nắm bắt
và vận dụng đúng đắn quy luật khách quan, hiểu biết sâu sắc những vấn đề


nghiệp

đổi

mới.

Thứ tư, thật sự phát huy quyền làm chủ của nhân dân, thực hiện “dân biết,
dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”, tăng cường và đổi mới công tác vận động
quần chúng nhân dân và thực hiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Đại hội VI
của Đảng đã rút ra bài học là trong toàn bộ hoạt động, Đảng phải quán triệt
tư tưởng “lấy dân làm gốc”, xây dựng và phát huy quyền làm chủ của nhân
dân lao động. Chính lợi ích sáng kiến của nhân dân là nguồn gốc hình thành
đường lối đổi mới... Một trong những nguyên tắc chỉ đạo công cuộc đổi mới
mà HNTW6 (khoá VI) 3-1989 nêu ra là phải thực hiện tốt hơn dân chủ xã
hội chủ nghĩa, nhưng dân chủ luôn luôn gắn liền với tập trung, gắn liền với
nghĩa vụ, trách nhiệm công dân, với kỷ cương, kỷ luật pháp luật, dân chủ
phải có lãnh đạo và lãnh đạo bằng phương pháp dân chủ. Nghị quyết Trung
ương 8B (khoá VI) 3-1990 về đổi mới công tác quần chúng của Đảng, tăng
cường mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân. Đảng nhấn mạnh các quan điểm:
Cách mạng là sự nghiệp của dân, do dân và vì dân; động lực thúc đẩy phong
trào quần chúng là đáp ứng lợi ích thiết thực của nhân dân và kết hợp hài
hòa các lợi ích, thống nhất quyền lợi với nghĩa vụ công dân; các hình thức
tập hợp nhân dân phải đa dạng; công tác vận động quần chúng là trách
nhiệm của Đảng, Nhà nước và các đoàn thể. Đảng cũng chủ trương đổi mới
tổ chức và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân


dân. Mặt trận và các tổ chức thành viên là cơ sở chính trị của chính quyền
nhân dân. Cùng với Đảng, Nhà nước, tổ chức Mặt trận và đoàn thể nhân dân

kỹ thuật cao. Đi đôi với công bố luật đầu tư, cần có các chính sách và biện
pháp tạo điều kiện thuận lợi cho người nước ngoài và Việt kiều vào nước ta
để hợp tác kinh doanh. Luật đầu tư nước ngoài là luật sớm nhất của thời kỳ
đổi mới, được Quốc hội khoá VIII thông qua ngày 29-12-1987 và có hiệu
lực từ 1-1-1988. Đại hội VII của Đảng tuyên bố chính sách đối ngoại rộng
mở, Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới,
phấn đấu vì hòa bình độc lập và phát triển. Đại hội VIII của Đảng nhấn
mạnh sự hợp tác nhiều mặt, song phương và đa phương với các nước và các
tổ chức quốc tế. Tích cực đóng góp cho hoạt động ở các diễn đàn quốc tế,
tham gia giải quyết các vấn đề toàn cầu. Mở rộng quan hệ đối ngoại nhân


dân, quan hệ với các tổ chức phi chính phủ. Đại hội IX của Đảng tiếp tục
chủ trương mở rộng quan hệ đối ngoại chủ động và tích cực hội nhập kinh tế
quốc tế và khu vực,Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước
trong cộng đồng quốc tế.Đảng ta luôn luôn xác định, nhiệm vụ của công tác
đối ngoại là giữ vững môi trường hòa bình, tạo các điều kiện quốc tế thuận
lợi cho công cuộc đổi mới, đẩy mạnh phát triển kinh tế-xã hội, công nghiệp
hoá, hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đồng thời góp phần
tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập
dân tộc,dân chủ và tiến bộ xã hội.Với những nội dung rất căn bản và chủ yếu
trong đường lối đổi mới cùng với bản lĩnh chính trị vững vàng và trách
nhiệm trước đất nước, giai cấp và dân tộc, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đưa
đất nước vượt qua những khó khăn, thách thức, kể cả tác động tiêu cực do sự
sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở các nước Đông Âu và Liên Xô đưa lại,
không ngừng đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới theo con đường của chủ nghĩa xã
hội và qua 20 năm đã đạt được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử,
làm thay đổi rõ rệt bộ mặt của đất nước, cải thiện đáng kể đời sống của nhân
dân, như các văn kiện trình
Đại hội X của Đảng đã khẳng định.Có thể thấy rõ thành tựu của 20 năm đổi

- Một là :thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách kinh tế nhiều thành
phần ,theo định hướng xã hội chủ nghĩa
- Hai là :xóa bỏ triệt để cơ chế tập trung ,quan liêu bao cấp ,hoàn thiện cơ
chế quản lí kinh tế của nhà nước .
- Ba là :tiếp tục đổi mới các công cụ quản lí nhà nước đối với nền kinh tế .
- Bốn là :đẩy mạnh phân công lao động trong phạm vi cả nước và phạm vi
quốc tế .
- Năm là :đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa ,hiện đại hóa nhằm biến lao
động thủ công ,năng suất thấp thành lao động máy móc năng suất lao động
cao làm tăng khả năng cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam trên thị trường
quốc tế.
- Sáu là:hình thành và đồng bộ các loại thị trường .
- Bảy là:đào tạo đội ngũ cán bộ quản lí kinh tế ,các nhà kinh doanh giỏi và
đội ngũ lao động có kĩ thuật đáp ứng yêu cầu của nền kc inh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa.
- Tám là:thực hiện chính sách đối ngoại rộng mở với sự đa dạng hóa,đa
phương hóa theo nguyên tắc các bên cùng có lợi,không can thiệp vào công
việc nội bộ của nhau và không phân biệt chê độ chính trị xã hội
Chủ trương xây dựng một nền kinh tế nhiều thành phần .mỗi một
thành phần kinh tế có bản chất vị trí và vai trò riêng chúng vừa thống nhất


lại vừa mâu thuẫn với nhau trong quá trình phát triển.Các thành phần kinh tế
hoạt động theo pháp luật đều là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh
tế định hướng xã hội chủ nghĩa,bình đẳng trước pháp luật,cùng phát triển lâu
dài hợp tác và có hiêu quả. Trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo
,kinh tế tư nhân có vai trò quan trọng là một trong những động lực của nền
kinh tế. Nếu như thời bao cấp thì kinh tế nhà nước chiếm
Doanh nghiệp cổ phần ngày càng phát triển,trở thành hình thức kinh
tế phổ biến ,thúc đẩy xã hội hóa sản xuất kinh doanh và sở hữu.Từ khi đổi

điều đó sẽ giúp nước ta đi vững trên con đường phát triển.khi chúng ta hội
nhập có rất nhiều cơ hội cho phát triển kinh tế như việc có những chính sách
thu hút đầu tư,được kế thừa những tiến bộ của khoa học kĩ thuật.vì thế phải
có những chính sách phù hợp với thông lệ quốc tế.Bên cạnh đó cũng không
ít những thách thức mà chúng ta gặp phải như tình trạng cạnh tranh khốc liệt
,hay thiếu vốn cũng như uy tín trên thị trường .
Khi đi theo nền kinh tế thị trường chúng ta rất có thể bị lạc đường nếu không
có những chính sách đúng đắn.phù hợp.
Đảng lãnh đạo bằng những cương lĩnh,đường lối quan điểm ,các nghị
quyết.Không phải là những chính sách quan liêu bao cấp,giao cho doanh
nghiệp này sản xuất bao nhiêu lãi nhà nước thu lỗ nhà nước chịu ,mà doanh
nghiệp sẽ tự quyết định hoạt động kinh doanh của mình theo khuôn khổ
pháp luật quy định. Nhờ đó doanh nghiệp phát huy được quyền tự chủ ,luôn
gắng làm hết sức mình
Chính vì những thay đổi của Đảng và Nhà nước ta trong kinh tế mà
nền kinh tế của chúng ta đã có những biến đổi rõ rệt:
Đất nước ra khỏi khủng hoảng, kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng nhanh


Thực hiện đường lối đổi mới, với mô hình kinh tế tổng quát là xây
dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đến năm 1995, lần
đầu tiên, hầu hết các chỉ tiêu chủ yếu của kế hoạch Nhà nước 5 năm 19911995 được hoàn thành và hoàn thành vượt mức. Đất nước ra khỏi khủng
hoảng kinh tế - xã hội, tạo được những tiền đề cần thiết để chuyển sang thời
kỳ phát triển mới - thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
1986-1990: GDP tăng 4,4%/năm. Việc thực hiện tốt ba chương trình
mục tiêu phát triển về lương thực - thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất
khẩu được đánh giá là thành công bước đầu cụ thể hóa nội dung của CNH
XHCN trong chặng đường đầu tiên. Đây là giai đoạn chuyển đổi cơ bản cơ
chế quản lý cũ sang cơ chế quản lý mới, thực hiện một bước quá trình đổi
mới đời sống KTXH và giải phóng sức sản xuất.

năm 2001 - 2005, giá trị sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp tăng 5,5%/năm, giá
trị tăng thêm bằng khoảng 3,89%/năm.
Tỷ trọng công nghiệp và xây dựng tăng nhanh và liên tục. Năm 1988
là 21,6%, năm 2005 lên 41%. Từ chỗ chưa khai thác dầu mỏ, đến nay, mỗi
năm đã khai thác được khoảng gần 20 triệu tấn quy ra dầu. Ngành công
nghiệp chế tác chiếm 80% giá trị sản lượng công nghiệp. Công nghiệp xây
dựng phát triển mạnh với thiết bị công nghệ ngày càng hiện đại.Sản phẩm
công nghiệp xuất khẩu ngày càng tăng, có chỗ đứng trong những thị trường


lớn. Trong kế hoạch 5 năm 2001 - 2005, giá trị sản xuất công nghiệp và xây
dựng tăng 15,9%/năm, giá trị tăng thêm đạt 10,2%/năm.
Tỷ trọng khu vực dịch vụ trong GDP đã tăng từ 33,1% năm 1988 lên
38,1% năm 2005. Các ngành dịch vụ đã phát triển đa dạng hơn, đáp ứng
ngày càng tốt hơn nhu cầu của sản xuất và đời sống. Ngành du lịch, bưu
chính viễn thông phát triển với tốc độ nhanh. Các ngành dịch vụ tài chính,
ngân hàng, tư vấn pháp lý... có bước phát triển theo hướng tiến bộ, hiệu quả.
Cơ cấu lao động có sự chuyển đổi tích cực gắn liền với quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế, giảm tỷ lệ lao động trong sản xuất thuần nông,
tăng tỷ lệ lao động trong công nghiệp, xây dựng và dịch vụ. Năm 1990, lao
động nông, lâm, ngư nghiệp chiếm 73,02% trong tổng số lao động xã hội,
năm 2000 còn 56,8%.Trong khi đó, tỷ trọng lao động của ngành công nghiệp
và xây dựng tăng từ 12,1% năm 2000 lên 17,9% năm 2005; lao động trong
các ngành dịch vụ tăng tương ứng từ 19,7% lên 25,3%; lao động đã qua đào
tạo tăng từ 20% năm 2000 lên 25% năm 2005.
3.2 / Sự tác động của hệ thống pháp luật và chính sách nhà nước đến sự
phát kinh tế của Việt Nam
Trong thời kì trước đổi mới, Việt Nam mới thoát ra khỏi chiến tranh
đất nước còn nhiều khó khăn, trong hệ thống pháp luật cũng như chính sách
nhà nước và không tránh khỏi những sai lầm trong việc điều chỉnh. Sự ảnh

tế cá thể, kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế tư bản tư nhân… công dân có
quyền tự do kinh doanh theo pháp luật… có quyền sở hữu tư liệu sinh hoạt,
tư liệu sản xuất… ‘‘ Hiến pháp 1992 đã thực sự đặt nền tảng pháp lý cho sự
ra đời của hệ thống pháp.Đóng vai trò hết sức quan trọng cho nền kinh tế


Theo số liệu thống kê, kể từ sau Hiến pháp 1992 đến nay, Quốc hội đã ban
hành nhiều luật và pháp lệnh điều chỉnh các quan hệ xã hội trên lĩnh vực
kinh tế và các lĩnh vực liên quan trực tiếp đến sự phát triển kinh tế như lao
động, đất đai. Chỉ xét về số lượng các luật kinh tế đã chiếm khoảng 60%,
pháp lệnh chiếm khoảng 30% tổng số luật, pháp lệnh được ban hành trong
thời gian qua.
Các văn bản được ban hành, trên diện rộng đã tạo hành lang pháp lý tương
đối toàn diện cho các thành phần kinh tế, giải phóng mọi năng lực sản xuất,
thu hút đầu tư nước ngoài, mở rộng hợp tác kinh tế đối ngoại, khuyến khích
đầu tư trong nước, chuyển mạnh sang quản lý nền kinh tế quốc dân bằng
pháp luật. Có thể đánh giá một cách khái quát rằng, trong vòng 10 năm qua
(từ 1992 - đến nay) chúng ta đã xây dựng được một hệ thống văn bản pháp
luật về kinh tế tương đối đầy đủ. Mặc dù còn nhiều khiếm khuyết nhưng về
cơ bản đã tích cực cho việc chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế, thúc đẩy sản
xuất phát triển, huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn nhân lực, tạo
tích luỹ nguồn vốn cho các hoạt động đầu tư phát triển và nâng cao mức
sống
Để góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển bền vững, chúng ta phải sớm có
được một chiến lược lập pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung
và hệ thống luật kinh tế nói riêng, mà trước mắt là chương trình xây dựng
luật, pháp lệnh trong nhiệm kỳ Quốc hội khoá XI nhằm cụ thể hoá những
bước đi theo sát mục tiêu ‘‘tăng trưởng kinh tế nhanh, hiệu quả cao và bền
vững; đi đôi với việc giải quyết những vấn đề bức xúc về xã hội… cải thiện
đời sống nhân dân, nâng cao tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế, tạo tiền đề vững

minh

- Cung cấp tín dụng cho người nghèo: biện pháp này nhằm hỗ trợ cho các
hoạt động sản xuất của các hộ gia đình nghèo ở nông thôn cũng như vùng
sâu.
- Xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn: hệ thống thuỷ lợi, nhất là cho trồng lúa,
đường xá nông thôn, trường học, các trạm xá, và cung cấp nước sạch cho
nông thôn là những lĩnh vực được chú trọng quan tâm đặc biệt rất nhiều.
- Các dịch vụ nông nghiệp: Chương trình về các dịch vụ hỗ trợ sản xuất như
khuyến lâm và ngư nghiệp, cung ứng nguyên vật liệu và chuyển giao công
nghệ đã được thực hiện từ những năm 90 để đáp ứng nhu cầu của nông dân
về

đầu vào

trong quá

trình sản xuất

nâng cao đời sống

- Khuyến khích tạo công ăn việc làm: Chương trình quốc gia về tạo công ăn
việc làm chủ yếu hoạt động như là một mạng lới an sinh nhằm giảm bớt
những ảnh hưởng tiêu cực của quá trình cơ cấu lại khu vực kinh tế quốc
doanh. Mục đích của Chương trình này là trực tiếp thúc đẩy các cơ hội tạo
việc làm thông qua các hình thức như trả tiền trợ cấp thôi việc
- Định canh, định cư cho các dân tộc ít người quen sống du canh, du cư:
Chương trình định canh định cư và phát triển các khu kinh tế mới đã đượcBộ
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cùng với các chính quyền địa phương
thực hiện nhằm nâng cao mức sống của người nghèo bằng cách huy động



Số doanh nghiệp Nhà nước qua sắp xếp đổi mới, cổ phần hoá đã giảm
từ 12.084 doanh nghiệp năm 1990 xuống còn 2.980 doanh nghiệp 100% vốn
Nhà nước và 670 công ty cổ phần do Nhà nước chi phối trên 51% vốn điều
lệ năm 2005. Qua đổi mới, doanh nghiệp Nhà nước năm 2005 đóng góp
38,5% GDP và khoảng 50% tổng ngân sách Nhà nước.Kinh tế dân doanh
phát triển khá nhanh, hoạt động có hiệu quả trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt là
tạo việc làm và góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động xã hội. Năm 2005
chiếm 46% GDP. Trong đó, kinh tế hợp tác phát triển ngày càng đa dạng,
hoạt động ngày càng có hiệu quả, năm 2005, kinh tế hợp tác đóng góp
khoảng 7% GDP.
Kinh tế tư nhân phát triển mạnh, huy động ngày càng tốt hơn các
nguồn lực và tiềm năng trong nhân dân, là một động lực rất quan trọng thúc
đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế. Năm 2005, khu vực kinh tế tư nhân
đóng góp khoảng 38% GDP của cả nước.
Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài có tốc độ tăng trưởng tương đối cao, trở
thành một bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân; là cầu nối
quan trọng với thế giới về chuyển giao công nghệ, giao thông quốc tế.
Năm 2005, khu vực này đóng góp 15,5% GDP, trên 7,5% tổng thu
ngân sách, trên 17,1% tổng vốn đầu tư xã hội, trên 23% kim ngạch xuất
khẩu (không kể dầu khí); đạt trên 35% giá trị sản xuất công nghiệp; thu hút
hơn nửa triệu lao động trực tiếp và hàng triệu lao động gián tiếp.
Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa dần dần được
hình thành, kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định


Qua 20 năm đổi mới, hệ thống pháp luật, chính sách và cơ chế vận
hành của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được xây dựng
tương đối đồng bộ. Hoạt động của các loại hình doanh nghiệp trong nền kinh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status