CƠ sở lý LUẬN về HIỆU QUẢ GIÁM sát của hội ĐỒNG NHÂN dân cấp TỈNH - Pdf 33

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ GIÁM SÁT CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP
TỈNH

1.3.1. Khái niệm hiệu quả giám sát của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh
Trong điều kiện hiện nay, xác định hiệu quả giám sát của một chủ thể cụ thể
là việc làm không đơn giản cả về mặt lý luận và thực tiễn. Đề cập đến vấn đề này
PGS,TS Võ Khánh Vinh nhận định:
Xác định hiệu quả giám sát là một nhiệm vụ phức tạp và đầy khó
khăn, các cơ quan thực tiễn thường xuyên thực hiện nghĩa vụ đó và đưa
ra nhiều tài liệu phong phú cho tư duy lý luận về vấn đề hiệu quả giám
sát. Đến nay khái niệm chung về hiệu quả giám sát cũng như các tiêu
chuẩn, các chỉ số và phương pháp xác định nó hầu như chưa được nghiên
cứu trong sách báo pháp lý và chính trị ở nước ta, tuy rằng đó là những
vấn đề có ý nghĩa quan trọng [46, tr.95].
Thuật ngữ "hiệu quả" là một khái niệm rất phức tạp được sử dụng cho nhiều
ngành, nhiều lĩnh vực, đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế và hành chính cả ở tầm vĩ mô
và vi mô. Theo các nhà ngôn ngữ học, khái niệm "hiệu quả" được hiểu là: Kết quả
như yêu cầu của việc làm mang lại.
Theo Từ điển Lepetit Lasousse định nghĩa, "Hiệu quả là kết quả đạt được
trong việc thực hiện một nhiệm vụ nhất định" [42, tr.57]. Trong khi đó, các nhà
quản lý hành chính lại cho rằng: Hiệu quả là mục tiêu chủ yếu của khoa học hành
chính, là sự so sánh giữa các chi phí đầu vào với các giá trị của đầu ra, sự tăng tối
đa lợi nhuận và tối thiểu chi phí, là mối tương quan giữa sử dụng nguồn lực và tỷ
lệ đầu ra - đầu vào. Hiệu quả phản ánh giá trị của các kết quả cao hơn giá trị của
các nguồn lực đã chi này.
Như vậy, xác định hiệu quả của một hoạt động kinh tế thường cho chúng ta
những con số chính xác và cụ thể, nhưng đối với bất kỳ hoạt động xã hội nào nói


chung và hoạt động giám sát nói riêng, để tính được đầy đủ hiệu quả đạt được là
rất khó khăn và phức tạp, bởi vì kết quả của hoạt động này nhiều khi được đánh giá

nhưng không thể lượng hoá như các đầu tư chi phí khác.
Trong đánh giá hiệu quả hoạt động giám sát của HĐND cấp tỉnh thì yếu tố
kết quả thu về sau khi tiến hành các hoạt động giám sát cũng có tính lưỡng tính. Có
thể vừa xác định được kết quả một cách định lượng vừa xác định được kết quả một
cách định tính (nhưng chủ yếu bằng định tính).
Có những hoạt động giám sát có thể lượng hoá được kết quả thu về. Chẳng
hạn, giám sát hoạt động thi hành pháp luật của các cơ quan tư pháp tại địa phương
đã đưa lại kết quả: chất lượng điều tra, xét xử, thi hành án đảm bảo đúng pháp luật
hơn, như số vụ án bị đình chỉ điều tra do hành vi không cấu thành tội phạm và số
vụ án bị huỷ và cải sửa giảm xuống đáng kể; án dân sự được thi hành tăng lên,
giảm tối đa số án tồn đọng; qua giám sát các cơ quan tư pháp được tăng cường về
cơ sở vật chất, kinh phí, các điều kiện đảm bảo phục vụ hoạt động v.v..
Tuy vậy, trong nhiều trường hợp kết quả thu về không chỉ đơn giản tính
bằng những yếu tố định lượng mà còn dựa vào cả yếu tố định tính. Hiệu quả giám
sát của HĐND cấp tỉnh không những thể hiện ở chỗ các chủ thể bị giám sát đã
chấn chỉnh uốn nắn hoạt động của mình theo đúng quy định của Hiến pháp, pháp
luật và nghị quyết của HĐND mà thông qua giám sát nâng cao tinh thần trách
nhiệm của các cá nhân có chức trách, củng cố niềm tin của cử tri đối với cơ quan
dân cử. Làm tốt công tác giám sát sẽ có những ảnh hưởng tích cực đến các vấn đề
kinh tế - xã hội, góp phần đảm bảo tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn trên
địa bàn tỉnh.


Thực ra, lâu nay việc đánh giá hiệu quả giám sát mới chủ yếu dừng lại qua
các con số: Số lượng các đoàn giám sát, các vấn đề được chất vấn qua các kỳ họp...
còn từ kết quả của các hoạt động đó mang lại hiệu quả như thế nào trong thực tế
quả thật rất khó xác định.
Như vậy, nói một cách khái quát, hiệu quả giám sát của HĐND tỉnh phải bao
hàm cả những yếu tố định tính "chính là những ảnh hưởng (hiệu ứng tích cực) mà
hoạt động giám sát mang lại, góp phần nâng cao chất lượng hoạt động của bộ máy

cứu đổi mới về mặt tổ chức bộ máy của Hội đồng, trong đó phải chú ý đến bộ phận


giúp việc cho thường trực. Có như vậy mới đảm đương được công việc giám sát của
Hội đồng.
- Năng lực, bản lĩnh và trách nhiệm thực hiện chức năng giám sát của đại
biểu HĐND.
Đại biểu HĐND là nguồn gốc của mọi vấn đề liên quan đến chất lượng và
hiệu quả giám sát của cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương. Bởi thực tế
chứng minh rằng: một cơ quan tổ chức có cơ cấu hợp lý đầy đủ các phòng ban,
nhưng để thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình, yếu tố con người trong tổ
chức đó đóng vai trò vô cùng quan trọng. Do vậy, bên cạnh đảm bảo về mặt số
lượng, năng lực của các đại biểu HĐND trong khi thực hiện chức năng giám sát có
vai trò rất lớn đến kết quả giám sát cũng như việc thực thi kết quả đó. Đúng như ý
kiến của ông Trần Hữu Đức - Trưởng phòng tổng hợp - Văn phòng HĐND tỉnh
Nghệ An nhận xét:
Các đại biểu dân cử phải có đủ tâm, đủ tầm và đủ tài, bởi người làm
công tác giám sát, ngoài công nhận cái đúng, còn phải chỉ rõ và đề ra
những kiến nghị, những biện pháp hữu hiệu để loại bỏ cho được cái tiêu
cực, trái pháp luật. Để phát hiện sai trái của người khác của các ngành
chức năng, người đại biểu nhân dân phải có quan điểm, trình độ, bản lĩnh
vững vàng, có cách nhìn sáng suốt và phương pháp làm việc khoa học,
hợp lý, phải có bản lĩnh giám nói thẳng nói thật, không nể nang né tránh,
phải vì lợi ích của dân của Nhà nước [10, tr.19].
Điều này có nghĩa, giám sát là một công việc khó khăn và phức tạp, bên
cạnh nắm vững các quy định pháp luật về vấn đề giám sát, người đại biểu còn phải
có kỹ năng, trình độ, bản lĩnh và trách nhiệm khi tiến hành các hoạt động giám sát.
Muốn vậy, các đại biểu dân cử phải luôn ý thức được đây là một trong những điều
kiện chủ quan mà bất cứ một người đại biểu nào cũng phải tự trau dồi nâng cao
nghiệp vụ.


chỉnh hay không. Giám sát có chất lượng nghĩa là đưa ra được những kết luận, đề
xuất đúng đắn và chỉ khi giám sát có chất lượng mới tạo tiền đề để bảo đảm hiệu
lực của giám sát. Trong mối quan hệ giữa chất lượng và hiệu lực giám sát thì chất
lượng giám sát là tiền đề bảo đảm hiệu lực, nhưng để bảo đảm hiệu lực giám sát
còn cần sự tự giác chấp hành nghiêm chỉnh của các chủ thể bị giám sát đối với các
kết luận, đề xuất đúng đắn rút ra từ hoạt động giám sát; đồng thời cần có các biện
pháp xử lý đối với những chủ thể không chấp hành nghiêm các kết luận, đề xuất
đó. Một khi chất lượng và hiệu lực giám sát được đảm bảo thì đương nhiên hiệu
quả của hoạt động giám sát sẽ tốt hơn. Vì thế trong các giải pháp bảo đảm hiệu quả
giám sát phải tính đến các giải pháp liên quan đến chất lượng và hiệu lực giám sát.
- Điều kiện vật chất, chi phí cho hoạt động giám sát của Hội đồng.
Muốn nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của HĐND tỉnh cần phải đầu tư
chi phí và điều kiện vật chất cho hoạt động giám sát. Trong đánh giá hiệu quả giám
sát của HĐND cần hiểu tính chất hai mặt của đầu tư chi phí cho hoạt động này.
Thứ nhất, phải tăng cường đầu tư chi phí cho hoạt động giám sát của HĐND
theo yêu cầu của từng nội dung hoạt động. Nếu có đầu tư thoả đáng sẽ góp phần
tích cực nâng cao hiệu quả giám sát của Hội đồng. Chẳng hạn có những địa
phương thuộc vùng sâu, vùng xa, vùng cao rất khó khăn, công việc giám sát chủ
yếu lại diễn ra ở cơ sở cho nên cần có chế độ kinh phí bồi dưỡng cho cán bộ trực
tiếp xuống giám sát, tạo điều kiện thuận lợi cho đoàn giám sát trong thời gian làm
việc tại cơ sở... Đối với các chức danh kiêm nhiệm của HĐND nên có quy định
được hưởng phụ cấp kiêm nhiệm để họ nâng cao tinh thần trách nhiệm của mình.
Cần phải đầu tư nhiều hơn nữa các trang thiết bị cần thiết, khắc phục tình trạng khó
khăn lâu nay trong công việc giám sát là thiếu nguồn thông tin cập nhật.
Thứ hai, đầu tư chi phí cho hoạt động giám sát phải tối ưu nghĩa là chỉ đủ
mức cần thiết và triệt để tiết kiệm, chống lãng phí. Không bao giờ và ở đâu hễ cứ
tăng đầu tư chi phí thì khi đó và ở đó, công tác giám sát có hiệu quả. Ngược lại,



xã hội của địa phương. Đây là tiêu chí đầu tiên cần phải xem xét, bởi tất cả các
hoạt động của các cơ quan, đơn vị suy cho cùng không ngoài mục đích nhằm thúc
đẩy kinh tế - xã hội địa phương ngày càng phát triển.
HĐND tỉnh hàng năm phải căn cứ vào những dự báo của tình hình kinh tế xã
hội địa phương để xây dựng chương trình giám sát của mình. Đồng thời thông qua
giám sát HĐND không những có quyền kiến nghị với UBND, với các ngành có
liên quan mà còn có thể kiến nghị với Trung ương về việc đưa ra những chủ
trương, chính sách cho phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội của địa phương. Do
vậy, muốn biết hoạt động giám sát của HĐND có mang lại hiệu quả hay không
chúng ta phải có những biện pháp so sánh tình hình kinh tế xã hội của địa phương
sau khi có hoạt động giám sát so với trước khi có hoạt động giám sát. Nếu sau
chương trình giám sát hàng năm của Hội đồng tình hình kinh tế xã hội trên địa bàn
có những chuyển biến tích cực, đời sống nhân dân ngày càng được nâng cao,
chứng tỏ hoạt động giám sát của HĐND đã mang lại hiệu quả và ngược lại.
Để làm tốt nhiệm vụ trên, HĐND ngoài việc cập nhật các thông tin về kinh
tế xã hội của địa phương sau khi có hoạt động giám sát còn phải nắm bắt chính xác
tình hình kinh tế xã hội trước khi có hoạt động giám sát. Bởi chỉ trên cơ sở đó, các
cơ quan chức năng mới có căn cứ để so sánh, đánh giá đúng kết quả thực tế do sự
tác động của HĐND mang lại.
Tuy nhiên, sự phát triển của kinh tế - xã hội địa phương trong thực tế hoàn
toàn không chỉ do tác động của HĐND mà còn là sự tác động tổng hợp của nhiều
yếu tố quan trọng khác. Do vậy, khi đánh giá hiệu quả giám sát của HĐND theo
tiêu chí này cũng chỉ ở mức độ tương đối.
- Mức độ đạt được của mục đích, yêu cầu giám sát.


Bất cứ một hành động nào của con người đều xuất phát từ tính có mục đích
của nó. Về điều này Ăngghen đã khẳng định trong lịch sử xã hội, nhân tố hoạt
động hoàn toàn chỉ là những con người có ý thức, hoạt động có suy nghĩ, hay có
nhiệt tình và theo đuổi những mục đích nhất định, thì không có gì xảy ra mà lại

cũng phải đúng, nghĩa là phải phù hợp với chức năng nhiệm vụ, quyền hạn do pháp
luật quy định cho đối tượng bị giám sát và phải phù hợp với nghị quyết của HĐND
tỉnh cũng như yêu cầu thực tiễn đặt ra.
- Các kết quả cụ thể đạt được do tác động trực tiếp của hoạt động giám sát.
Một trong những tiêu chí quan trọng để đánh giá hiệu quả giám sát của
HĐND là phải căn cứ vào những kết quả thực tế do tác động giám sát mang lại.
Muốn vậy, kết thúc mỗi cuộc giám sát HĐND phải xác định được các kết quả đạt
được trong cuộc giám sát đó. Chẳng hạn: nếu giám sát lĩnh vực xây dựng cơ bản
thì phải ngăn chặn được vấn đề thất thoát vốn nhà nước; nếu giám sát vấn đề thu
thuế thì phải đánh giá được số phần trăm thất thu, thất nộp và doanh số mức thu
cho ngân sách nhà nước phải được tăng lên...
Rõ ràng đây là tiêu chí phức tạp nhất, vì HĐND tỉnh có phạm vi giám sát
rộng, những biến đổi do sự tác động giám sát của HĐND nhiều khi không chỉ phát
sinh trực tiếp từ đối tượng bị giám sát mà còn ảnh hưởng tích cực đến các đối
tượng liên quan. Hơn nữa các kết quả thực tế do giám sát của HĐND mang lại
nhiều khi không những thể hiện bằng yếu tố định lượng mà còn cả yếu tố định tính.
Chẳng hạn: khi HĐND tỉnh tiến hành giám sát vấn đề thu, chi tuỳ tiện tiền của học
sinh tại một số trường trên địa bàn tỉnh Nghệ An vào đầu năm học 2005, kết quả
các đơn vị trường học có vi phạm đã kịp thời chấn chỉnh hoạt động của mình, trả
lại tiền cho học sinh và nộp vào ngân sách nhà nước một số lượng không nhỏ;
đồng thời qua đợt giám sát HĐND đã đưa lại sự yên tâm cho các phụ huynh học


sinh cũng như niềm tin của cử tri đối với cơ quan dân cử. Do vậy, để xác định
đúng những kết quả thực tế do sự tác động của giám sát đòi hỏi phải có quan điểm
toàn diện, cụ thể đồng thời phải có những phương pháp phù hợp để thu thập nhiều
nguồn thông tin và tư liệu khác nhau.
Mặt khác, những chuyển biến tích cực của đối tượng bị giám sát trong thực
tế không hoàn toàn chỉ do tác động của cơ quan dân cử ở địa phương mà còn là sự
tác động tổng hợp của nhiều yếu tố khác như cơ quan thanh tra, sự kiểm tra chỉ đạo

Mặc dù vậy, giám sát là một hoạt động chủ yếu mang tính xã hội nên để tính
kết quả thu về so với chi phí bỏ ra là điều rất khó khăn phức tạp. Bởi yếu tố vừa
định lượng, vừa định tính không chỉ thể hiện trong kết quả thu về mà ngay cả yếu tố
đầu tư chi phí bỏ ra. Cho nên khi căn cứ vào tiêu chí này để đánh giá hiệu quả giám
sát cũng chỉ tính toán ở mức độ tương đối. Vấn đề quan trọng phải biết được đặc thù
của công tác giám sát để vận dụng cho phù hợp.
Trong hoạt động giám sát, tính kinh tế liên quan chặt chẽ với tính xã hội. Có
những cuộc giám sát nếu tính dưới góc độ kinh tế không mang lại lợi ích thiết thực
nhưng xét dưới góc độ xã hội lại mang lại hiệu quả rất lớn. Chẳng hạn một số lĩnh
vực nếu được giám sát đến cùng và triệt để không những góp phần tích cực vào sự
phát triển kinh tế - xã hội mà còn có tác dụng to lớn trong việc chấn chỉnh các vấn
đề chính trị. Vì vậy, khi căn cứ vào tiêu chí kinh phí để xem xét hiệu quả giám sát
của HĐND phải xem xét cả hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội.


DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.

Nguyễn Khắc Bộ (2001), Công tác giám sát tại kỳ họp Hội đồng nhân dân Những vấn đề đặt ra nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động
của Hội đồng nhân dân, Kỷ yếu nâng cao năng lực và hiệu quả giám sát
của Hội đồng nhân dân, Văn phòng Quốc hội.

2.

Bộ Nội vụ (2005), Tài liệu bồi dưỡng trưởng, phó ban chuyên trách và ủy
viên thường trực Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, Hà Nội.

3.

Chủ tịch Hồ Chí Minh với Quốc hội và Hội đồng nhân dân (1996), Nxb Chính

thực tiễn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

10. Trần Hữu Đức (2006), "Nâng cao chất lượng giám sát của Hội đồng nhân dân",
Bản tin Hội đồng nhân dân và Đoàn đại biểu Quốc hội, (1), tr.19.
11. Minh Đức (2006), "Giám sát là động lực của phát triển", Bản tin Hội đồng
nhân dân và Đoàn đại biểu Quốc hội Nghệ An, (1), tr.6.


12. Ninh Viết Giao (2005), Nghệ An lịch sử và văn hoá, Nxb Nghệ An,
Nghệ An.
13. Hà Thị Mai Hiên (2003), Cơ chế kiểm tra giám sát trong nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa, trong sách: "Giám sát và cơ chế giám sát việc
thực hiện quyền lực nhà nước ở nước ta", Nxb Công an nhân dân, Hà
Nội.
14. Hiến pháp nước Cộng hoà xã h chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 (đã được sửa
đổi bổ sung 2001) (2002), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
15. Hội đồng nhân dân tỉnh Nghệ An (1999), Báo cáo kết quả bầu cử Hội đồng
nhân dân tỉnh Nghệ An nhiệm kỳ 1999-2004.
16. Hội đồng nhân dân tỉnh Nghệ An (2004), Báo cáo tổng kết hoạt động của Hội
đồng nhân dân tỉnh nhiệm kỳ 1999-2004.
17. Hội đồng nhân dân tỉnh Nghệ An (2004), Báo cáo kết quả bầu cử Hội đồng
nhân dân tỉnh Nghệ An nhiệm kỳ 2004 - 2009.
18. Hội đồng nhân dân tỉnh Nghệ An (2005), Báo cáo kết quả hoạt động của
thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh Nghệ An năm 2005 khoá XV tại kỳ
họp thứ 6.
19. Hội đồng nhân dân tỉnh Nghệ An (2005), Báo cáo kết quả hoạt động của Ban
pháp chế Hội đồng nhân dân tỉnh Nghệ An năm 2005 và định hướng
trọng tâm công tác 2006.
20. Hội đồng nhân dân tỉnh Nghệ An (2005), Báo cáo hoạt động của Ban Kinh tế
và ngân sách Hội đồng nhân dân tỉnh Nghệ An 2005 định hướng công

30. Luật hoạt động giám sát của Quốc hội (2003), Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội.
31. Nguyễn Văn Mạnh (2002), Cơ sở lý luận về nâng cao hiệu quả giáo dục pháp
luật cho người lao động trong các doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn
Hà Nội, Kỷ yếu khoa học đề tài cấp bộ "Nâng cao hiệu quả giáo dục pháp


luật trong các doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn Hà Nội hiện nay", Học
viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.
32. Một vụ thất thoát, tham nhũng được nêu trên Vietnet ngày 19/10/2005, tr.1.
33. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, Tập 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
34. Chu Hồng Thanh (1993), Nhà nước quản lý kinh tế bằng pháp luật trong cơ
chế thị trường ở Việt Nam hiện nay, Luận án phó tiến sĩ Luật học, Học
viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.
35. Lê Minh Thông (chủ biên) (2001), Một số vấn đề về tổ chức và hoạt động của
bộ máy Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb Khoa học
xã hội nhân văn, Hà Nội.
36. Nguyễn Văn Thuật (2001), Phối hợp với Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh thực
hiện chức năng giám sát của Hội đồng nhân dân tỉnh Nghệ An, Kỷ yếu
về nâng cao năng lực và hiệu quả giám sát của Hội đồng nhân dân, Văn
phòng Quốc hội.
37. Vũ Thư (2003), Vấn đề nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động giám sát của
Hội đồng nhân dân, Trong sách: "Giám sát và cơ chế giám sát việc thực
hiện quyền lực nhà nước ở nước ta", Nxb Công an nhân dân, Hà Nội.
38. Nguyễn Văn Tri (2001), Chất vấn và trả lời chất vấn, một hình thức giám sát
quan trọng của Hội đồng nhân dân, Những vấn đề đặt ra nhằm nâng cao
chất lượng và hiệu quả, Kỷ yếu nâng cao hiệu quả giám sát của Hội đồng
nhân dân, Văn phòng Quốc hội.
39. Dương Quang Tung (2001), Bàn về mô hình tổ chức chính quyền địa phương,
Trong sách: Một số vấn đề về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status