CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP GIAO NHẬN VẬN TẢI - Pdf 69

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA DOANH
NGHIỆP GIAO NHẬN VẬN TẢI
1.1. Khái luận chung về hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
1.1.1. Khái niệm và bản chất của hiệu quả kinh doanh
Như chúng ta đã biết, kinh doanh trong cơ chế thị trường dưới sự quản lý
của Nhà nước, mọi doanh nghiệp đều hướng tới một mục tiêu chung là hiệu quả
trong hoạt động kinh doanh của mình. Hiệu quả kinh doanh là yếu tố cơ bản
quyết định sự tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp. Như vậy hiệu quả kinh
doanh thực chất là gì, và hiểu như nào là hiệu quả kinh doanh của doanh
nghiệp?
Trong quá khứ cũng như hiện tại, còn nhiều quan niệm khác nhau về thuật
ngữ hiệu quả kinh doanh. Tuy nhiên người ta có thể chia hiệu quả kinh doanh
thành các nhóm cơ bản như sau:
Quan điểm thứ nhất cho rằng: Hiệu quả kinh doanh là kết quả thu được
trong hoạt động kinh doanh, là doanh thu tiêu thụ hàng hoá.
Theo quan điểm này thì hiệu quả kinh doanh đồng nhất với kết quả kinh
doanh và với các chỉ tiêu phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh. Quan điểm
này không đề cập đến chi phí kinh doanh, nghĩa là nếu hoạt động kinh doanh
tạo ra cùng một kết quả thì có cùng một mức hiệu quả kinh doanh, mặc dù hoạt
động kinh doanh đó có hai mức chi phí khác nhau.
Nhóm quan điểm thứ hai cho rằng: Hiệu quả kinh doanh là quan hệ tỷ lệ
giữa phần tăng thêm của kết quả và phần tăng thêm của chi phí. Quan điểm này
đã nói lên quan hệ so sánh một cách tương đối giũa kết quả đạt được và chi phí
bỏ ra để đạt kết quả đó, nhưng lại chỉ xét đến phần kết quả và chi phí bổ sung.
Nhóm thứ ba cho rằng: Hiệu quả kinh doanh là một đại lượng so sánh
giữa kết quả thu được và chi phí bỏ ra để có được kết quả đó. Quan điểm này đã
phản ánh được mối liên hệ bản chất của hiệu quả kinh doanh, vì nó gắn được
kết quả với các chi phí bỏ ra, coi hiệu quả là sự phản ánh trình độ sử dụng các
nguồn lực. Tuy nhiên, kết quả và chi phí đều luôn luôn vận động, quan điểm
này chưa thể hiện được tương quan về lượng và chất giữa kết quả và chi phí.
Nhóm thứ tư cho rằng : Hiệu quả kinh doanh phải thể hiện được mối quan

thậm chí khai thác và sử dụng bừa bãi, làm cạn kiệt tài nguyên, phá huỷ môi
trường. Cũng không thể quan niệm rằng cắt giảm chi phí và tăng doanh thu lúc
nào cũng có hiệu quả, một khi cắt giảm tuỳ tiện và thiếu cân nhắc các chi phí
cải tạo môi trường, đảm bảo cân bằng sinh thái, đầu tư cho giáo dục đào tạo. .
Tóm lại, về mặt định tính, hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp là một
phạm trù kinh tế tổng hợp phản ánh trình độ sử dụng các yếu tố sản xuất nói
riêng, trình độ tổ chức và quản lý nói chung để đạt được các mục tiêu mà doanh
nghiệp đã xác định. Trong điều kiện hiện nay, khi các quốc gia trên thế giới
luôn đặt cao sự an toàn của người tiêu dùng, an toàn vệ sinh môi trường, vấn đề
lao động và trách nhiệm xã hội thì hiệu quả kinh doanh nhiều khi còn gắn với
hiệu quả kinh tế xã hội. Về mặt định lượng, đó là một đại lượng biểu thị sự
tương quan giữa kết quả mà doanh nghiệp đạt được với các chi phí mà doanh
nghiệp bỏ ra để đạt được các kết quả đó và mối quan hệ giữa sự vận động của
chi phí tạo ra nó trong những điều kiện nhất định.
1.1.2. Chi phí kinh doanh và hiệu quả kinh doanh
Chi phí kinh doanh là biểu hiện bằng tiền của tất cả các khoản chi cho hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm mua sắm nguyên vật liệu, máy móc
thiết bị, công cụ sản xuất khác, thuê lao động, đất đai, xây dựng nhà xưởng, chi
phí quản lý, chi phí trong quá trình sản xuất, chi phí tiếp khách, giao dịch….
nghĩa là tất cả các khoản chi cho đến khi giao được hàng đến người tiêu dùng,
kể cả nộp thuế và mua bảo hiểm.
Chi phí kinh doanh được biểu thị bằng một số chỉ tiêu: Tổng chi phí kinh
doanh, chi phí sản xuất (giá thành) chi phí ngoài sản xuất (cho lưu thông hàng
hoá, như vận chuyển, bốc xếp, lưu kho, báo vệ hàng hoá…) chi nộp thuế, mua
bảo hiểm, chi tiếp thị và các khoản khác. Để tính hiệu quả kinh doanh, người ta
thường dùng các chỉ tiêu như tổng chi phí sản xuất, tổng vốn kinh doanh, vốn cố
định, vốn lưu động.
Kết quả kinh doanh của doanh nghiệp là toàn bộ những thành quả thu được
sau một quá trình kinh doanh được xã hội thừa nhận.
Định nghĩa trên cho thấy, có thể có nhiều đại lượng xác định kết quả kinh

∑kết quả - ∑chi phí =∑P. (1)
Hiệu quả tương đối là phạm trù phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực
sản xuất của doanh nghiệp. Nó được tính bằng công thức:
H1= Kết Qủa / Chi Phí (2)
H2= Chi Phí / Kết Qủa (3)
Công thức (2) cho biết lượng hiệu quả mà doanh nghiệp đạt được từ
phương án kinh doanh, từng thời kỳ kinh doanh.
Công thức (3) cho biết một đơn vị chi phí thì tạo ra bao nhiêu đơn vị kết
qủa hoặc một đơn vị kết quả tạo ra bao nhiêu đơn vị chi phí.
Thứ hai, căn cứ vào phạm vi tính toán hiệu quả : Hiệu quả kinh doanh
tổng hợp và hiệu quả kinh doanh bộ phận:
 Hiệu quả kinh doanh tổng hợp là hiệu quả kinh doanh tính chung cho
toàn doanh nghiệp, cho các bộ phận trong doanh nghiệp.
 Hiệu quả kinh doanh bộ phận là hiệu quả kinh doanh tính riêng cho từng
bộ phận của doanh nghiệp hoặc từng yếu tố sản xuất.
Thứ 3, căn cứ thời gian mang lại hiệu quả : Hiệu quả trước mắt và hiệu
quả lâu dài. Hiệu quả trước mắt là hiệu quả kinh doanh tính cho thời gian ngắn,
thường là một năm, nó phản ánh tính tức thời trong hoạt động kinh doanh, và
thường không phản ánh được hiệu quả kinh doanh trong cả một quá trình. Hiệu
quả kinh doanh lâu dài là hiệu quả kinh doanh được tính cho một thời gian dài,
thường là từ 3- 5 năm, và thậm chí còn lâu hơn từ 5-10 năm…nó phản ánh hiệu
quả kinh doanh trong cả chặng đường kinh doanh của doanh nghiệp.
Thứ tư, căn cứ vào đối tượng xem xét hiệu quả : Hiệu quả trực tiếp và
hiệu quả gián tiếp. Hiệu quả kinh doanh trực tiếp được tính trực tiếp từ các hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp, như doanh thu, lợi nhuận… còn hiệu quả
kinh doanh gián tiếp được tính thông qua các đại lượng gián tiếp như hiệu quả
của bộ máy quản trị, hiệu quả công tác xúc tiến thị trường…
Thứ 5, căn cứ vào khía cạnh khác nhau của hiệu quả : Hiệu quả tài
chính, hiệu quả chính trị- xã hôi.
Hiệu quả tài chính là hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp về mặt kinh tế

Thứ ba: Các chỉ tiêu sử dụng để so sánh hiệu quả kinh doanh
Trong thực tế kinh doanh, mỗi doanh nghiệp thường xây dựng và lựa chọn
phương án kinh doanh có hiệu quả nhất để thực hiện. Để chọn được một
phương án kinh doanh có hiệu quả, người ta phải tính toán các chỉ tiêu để tiến
hành so sánh kết quả đạt được của các phương án kinh doanh khác nhau về
cùng một vấn đề để áp dụng trong kinh doanh của doanh nghiệp. Trong quá
trình phân tích và lựa chọn phương án có hiệu quả nhất người ta phải sử dụng
các chỉ tiêu để tính toán hiệu quả kinh doanh hoặc chỉ tiêu phản ánh hiệu quả
kinh doanh để so sánh giữa các phương án và chọn lựa.
Trong ba nhóm chỉ tiêu nói trên, chỉ tiêu dùng để phản ánh hiệu quả kinh
doanh có ưu điểm là phản ánh một cách trực tiếp hiệu quả kinh doanh thông qua
quan hệ giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra, lên tiện lợi cho việc tính toán và
đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp một cách bao quát. Do vậy
trong bài chỉ giới thiệu các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh doanh và được dùng
để tính hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Hệ thống các chỉ tiêu chủ yếu phản ánh hiệu quả kinh doanh của doanh
nghiệp đó là:
Chỉ tiêu lợi nhuận (p)
Trong cơ chế thị trường, lợi nhuận (p) vừa được coi là nhân tố để tính toán
hiệu quả kinh tế, vừa được coi là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp của doanh
nghiệp. Chỉ tiêu này được tính như sau:
P = D- (Z+ TH+ TT) (4)
Trong đó:
 P: Lợi nhuận của doanh nghiệp trong kỳ kinh doanh
 D: Doanh thu tiêu thụ trong một kỳ kinh doanh
 Z: Gía thành sản phẩm trong một kỳ kinh doanh
Th: Các loại thuế phải nộp sau một kỳ kinh doanh.
Chỉ tiêu này cho biết tổng lợi nhuận sau thuế của Công ty sau một kỳ kinh
doanh.
Mức vốn hao phí cho một đơn vị sản phẩm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status