VAI TRÒ CỦA THỂ CHẾ CHÍNH TRỊ ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ VIỆT NAM HIỆN NAY - Pdf 33

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ


TIỂU LUẬN MÔN KINH TẾ HỌC PHÁT TRIỂN

Đề tài:

VAI TRÒ CỦA THỂ CHẾ CHÍNH TRỊ
ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ
VIỆT NAM HIỆN NAY

GVHD: ThS BÙI THỊ QUỲNH HƯƠNG
SVTH: LÊ THỊ TÝ
ĐINH THỊ THU
CAO THỊ THUỶ
LÊ KIM PHỤNG
TRẦN THỊ PHỤNG
NGÔ THỊ HỒNG PHIN
NGUYỄN THỊ THANH TÚ


KINH TẾ HỌC PHÁT TRIỂN

GVHD: Th.s Bùi Thị Quỳnh Hương

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - NĂM 2012

Nhóm 3

Trang 2

phát triển của đất nước..................................................................................26
2.2.1.2 Ban hành những chủ trương, chính sách, điều luật… để đảm bảo cho sự
phát triển kinh tế trong thời kỳ đổi mới.........................................................30
2.2.1.3 Tạo điều kiện mở rộng thị trường nhằm thu hút vốn đầu tư từ nước
ngoài..............................................................................................................44
2.2.2 Vai trò của thể chế chính trị trong các lĩnh vực khác..................................46
2.2.2.1 Trong lĩnh vực y tế - giáo dục............................................................46
2.2.2.2 Trong vấn đề dân số- môi trường.......................................................47
2.2.2.3 Trong lĩnh vực văn hóa-tư tưởng......................................................51
2.3 Những chuyển biến của nền kinh tế Việt Nam thời kỳ đổi mới...................51
2.3.1 Những thành tựu đạt được.........................................................................51
2.3.1.1 Nền kinh tế tăng trưởng liên tục, nhiều năm có tốc độ tăng trưởng
cao................................................................................................................51
2.3.1.2 Kiềm chế và đẩy lùi được lạm phát......................................................53
2.3.1.3 Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng năng động và hiệu quả......53
Nhóm 3

Trang 3


KINH TẾ HỌC PHÁT TRIỂN

GVHD: Th.s Bùi Thị Quỳnh Hương

2.3.1.4 Cơ chế quản lý mới đã bước đầu hình thành.........................................55
2.3.1.5 Kinh tế đối ngoại được phát triển nhanh, mở rộng về quy mô, đa dạng
hóa hình thức và đa dạng hóa thị trường..........................................................56
2.3.1.6 Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện rõ rệt. .....57
2.3.2 Những khó khăn và hạn chế của thể chế chính trị trongsự phát triển kinh
tế ....................................................................................................................58

- KTXH: Kinh tế xã hội
- CCKT: Cơ cấu kinh tế
- XHCN: Xã hội chủ nghĩa
- TBCN: Tư bản chủ nghĩa
- TKQĐ: Thời kỳ quá độ
- GDP: Gía trị sản phẩm

Nhóm 3

Trang 5


KINH TẾ HỌC PHÁT TRIỂN

GVHD: Th.s Bùi Thị Quỳnh Hương

LỜI MỞ ĐẦU
Có thể nói hoạt động của thể chế chính trị là một lĩnh vực quan trọng trong sinh
hoạt cộng đồng, bao quát các đối tượng trong phạm vi một quốc gia và giữa
quốc gia này với quốc gia khác.
Như chúng ta cũng biết khi trong xã hội xuất hiện tổ chức quyền lực đặc biệt,
vừa mang sứ mạng của lợi ích giai cấp, vừa mang sứ mạng quản lý, cai trị xã
hội, thì nội dung của đời sống chính trị không những tác động xung quanh vấn
đề quyền lực (quyền lực nhóm, quyền lực giai cấp, quyền lực xã hội…), mà còn
tác động đến các quan hệ khác, các “mảng” sinh hoạt khác trong đời sống con
người.
Trong các quan hệ trên, quan hệ giữa thể chế chính trị và kinh tế thuộc quan hệ
cơ bản, thể hiện mối quan hệ giữ tiền đề và phương tiện, giữa phương tiện và
mục đích. Nếu xét ở bình diện bao quát nhất, mang tính cội nguồn của mối quan
hệ chắc chắn kinh tế là yếu tố nền tảng trong sinh hoạt chính trị, chứ không phải

độ và hình thức đấu tranh giai cấp cũng như truyền thống lịch sử của đất nước và
hoàn cảnh quốc tế là những yếu tố ảnh hưởng đến thể chế chính trị. Điểm cốt yếu
nhất quyết định đến thể chế chính trị là bản chất, hình thức, tính chất của quyền
lực nhà nước, chính trị hiện hành (vd. chế độ chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư sản
và xã hội chủ nghĩa). Trong nhà nước xã hội chủ nghĩa, thể chế chính trị là dân
chủ, được thể hiện qua những đặc trưng: quyền lực thuộc về nhân dân lao động;
thể chế chính trị bảo vệ quyền lợi và tự do cơ bản của công dân. thể chế chính trị
ở nhà nước xã hội chủ nghĩa dựa trên nền tảng pháp chế xã hội chủ nghĩa, mở
rộng dân chủ, tăng cường vai trò của các tổ chức xã hội và sự tham gia tích cực
của công dân vào các công việc của nhà nước và xã hội.
1.1.1.2

Khái niệm phát triển kinh tế và các yếu tố ảnh hưởng đến

phát triển kinh tế.
Phát triển kinh tế là một quá trình tăng lên về mọi mặt của nền kinh tế trong
một thời gian nhất định. Phát triển kinh tế bao hàm sự tăng trưởng kinh tế, tức là tăng
lên về quy mô và số lượng, sự tiến bộ về cơ cấu kinh tế và sự tiến bộ về xã hội. Phát
triển kinh tế bao hàm các yếu tố sau:

Nhóm 3

Trang 7


KINH TẾ HỌC PHÁT TRIỂN

GVHD: Th.s Bùi Thị Quỳnh Hương

 Môt là, mức độ gia tăng, mở rộng sản lượng quốc gia và tăng mức sản xuất,

xã hội của con người, thể chế chính trị có quan hệ là chủ thể, có quan hệ là
khách thể. Nghiên cứu thể chế chính trị với kinh tế cần đặt chúng trong mối
Nhóm 3

Trang 8


KINH TẾ HỌC PHÁT TRIỂN

GVHD: Th.s Bùi Thị Quỳnh Hương

quan hệ qua lại, để cuối cùng xác định vai trò của thể chế chính trị đối với sự
thiết kế vận hành các cơ chế kinh tế như thế nào.
1.1.2 Sự tác động qua lại giữa thể chế chính trị và kinh tế:

1.1.2.1

Vai trò của kinh tế đối với thể chế chính trị:

Thể chế chính trị và kinh tế là hai lĩnh vực hoạt động cơ bản của con người.
Quan hệ giữa chúng có những biểu hiện sau đây:
Thứ nhất: quan hệ phát sinh cho thấy thể chế kinh tế là yếu tố có trước, khởi
nguyên của sự tác động lẫn nhau đó. Kinh tế gắn liền với sản xuất, ít nhất là sản
xuất được quan niệm, được nâng lên thành hoạt động kinh tế khi nó phản ánh
một quan hệ trong quản lí gia đình. Với ý nghĩa đó, kinh tế làm phát sinh thể chế
chính trị. Quan hệ kinh tế tạo ra quan hệ chính trị. Kinh tế làm phát sinh quan hệ
quan hệ giai cấp, quan hệ giai cấp là biểu hiện đầu tiên của quan hệ chính trị.
Trong những tiên đoán về tương lai của xã hội, các nhà sáng lập ra chủ nghĩa xã
hội khoa học cho rằng xã hội tất yếu dẫn đến xã hội cộng sản chủ nghĩa, trên
một nền tảng cao hơn nhiều so với thời kì cộng sản nguyên thủy trước đó, sau

1.1.2.2

Vai trò của thể chế chính trị đối với kinh tế:

Thể chế chính trị là sản phẩm của kinh tế, là biểu hiện của giải pháp lợi ích giữa
các nhóm cộng đồng, các giai cấp. Vì vậy mục đích của chính trị không phải là
chính trị mà là kinh tế. Nếu thoát li kinh tế thì chính trị không thể giải thích
được sự xuất hiện và vận hành của nó. Vậy quan hệ giữa thể chế chính trị và
kinh tế, nếu chúng ta trừu tượng hóa, tạm thời loại ra những quan hệ phức tạp
khác sẽ có quá trình như sau:
 kinh tế  thể chế chính trị  kinh tế  thể chế chính trị 
Ở phần trên ta xét quan hệ giữa kinh tế và thề chế chính trị rồi, ở phần này, ta
xét phương diện tác động của thể chế chính trị đối với kinh tế.
Thể chế chính trị khoác chiếc áo quyền lực, tạo ra hệ thống cơ cấu tác động của
các chủ thể chính trị đối với kinh tế (với tính cách là toàn bộ nền kinh tế của một
xã hội với những quy luật, cơ chế vận hành và những chủ thể kinh tế khác nhau).
Ta thấy ảnh hưởng của thể chế chính trị với các hoạt động kinh tế như sau:

Nhóm 3

Trang 10


KINH TẾ HỌC PHÁT TRIỂN

GVHD: Th.s Bùi Thị Quỳnh Hương

- Thứ nhất: điều chỉnh các nhóm lợi ích giữa các lực lượng xã hội, giữa các giai
cấp, các cộng đồng người khác nhau. Thể chế chính trị tạo môi trường xã hội để
quy luật kinh tế bộc lộ gắn với vai trò và lợi ích của từng loại đối tượng trên.

KINH TẾ HỌC PHÁT TRIỂN

GVHD: Th.s Bùi Thị Quỳnh Hương

1.2.1 Thời kì trước chủ nghĩa tư bản:

Vai trò của nhà nước trong kinh tế ngay từ thời cổ đại đã được giải thích theo
khía cạnh của sự điều tiết từ yếu tố chính trị. Trong tác phẩm “Republic”, Platon
giải thích việc loài người hình thành các cộng đồng cư trú của mình dưới hình
thức quốc gia riêng biệt. Nhưng chiến tranh giữa các quốc gia xảy ra như là
những giải pháp không thể khắc phục. Quan niệm này bắt đầu từ cách giải thích
rằng, những quốc gia nhỏ, có dân số ngày càng tăng thì không có cách nào có
thể tiến hành sản xuất để nuôi đủ họ. Con người phải có thức ăn, thức uống để
tồn tại. Vậy phải có đất đai để sản xuất. Họ cần sử điều khiển của nhà nước bằng
cách tạo ra chiến tranh để mở rộng đất đai cho canh tác.
Một trong những lý do khác bắt đầu từ sự thiếu hụt về kinh tế, hoặc không đủ
khả năng bảo đảm sản xuất và bảo vệ tài sản do sản xuất mà có nên cần có sự
liên hiệp với nhau trong một số quốc gia. Trường hợp như vậy người ta thấy rõ
nét trong thời kì hình thành các quốc gia thành bang ở Hi Lạp và La Mã.
Để đảm bảo được đời sống và sự thịnh vượng, các thành bang nhỏ cần sự che
chở của nước lớn. Họ phải phụ thuộc vào các nước lớn. Từ đó, những liên minh
quốc gia được hình thành (có ý kiến cho rằng đó là hình thành liên bang sơ
khai). Chúng có thể được giải thích bởi lý do khác, nhưng sự thống nhất về tín
ngưỡng (như liên minh Amphictyonic cùng thờ thần Apollo).
Cùng vì lý do kinh tế, một số học thuyết cổ đại cho rằng một quốc gia, trong
nhiều lý do để có thể tồn tại một cách tự do, phải có đủ nhân lực, có đủ đất đai
để trồng trọt, canh tác (không thiếu nhưng cũng không thừa). Vì đối với trình độ
sản xuất thấp thì số người vượt quá khả năng xã hội có thể nuôi được là một vấn
đề nan giải. Việc tiến hành canh tác gắn liền với việc chống lại thiên tai. Đó
cũng là lý do kinh tế để có thể xác định quy mô về lãnh thổ, năng lực và các

giá trị của đồng tiền (về mặt chủ quan) do nhà nước độc quyền. Nhà nước vì vậy
có thêm một chức năng mới.
1.2.2 Thời kì của chủ nghĩa tư bản:

- Trong thời kì hình thành chủ nghĩa tư bản từ giai đoạn tích lũy nguyên thủy
chuyển sang sự thống trị của tự do cạnh tranh, một số học thuyết kinh tế đã được
sự hỗ trợ đắc lực của các quyết định thể chế chính trị. Nổi bật là thuyết trọng
nông và thuyết trọng thương.

Nhóm 3

Trang 13


KINH TẾ HỌC PHÁT TRIỂN

GVHD: Th.s Bùi Thị Quỳnh Hương

Học thuyết trọng nông gắn với một số nhà chính trị và kinh tế điển hình của
pháp xuất hiện vào thế kỉ thứ XVIII, do một vị thượng như dưới triều vua Luois
XIV là Colbert khởi xướng.
Theo những người trọng nông thì của cải mà xã hội có được là do nông nghiệp
tạo ra. Chính nông nghiệp là nguồn gốc tạo ra sự thịnh vượng. Hơn nữa, nông
nghiệp là một hoạt động gắn với thiên nhiên, hướng tới cái gọi là “quyền tự
nhiên” có trong con người. Vì vậy, nhà nước phải tạo cho nông nghiệp sự tự do
trong sản xuất và trao đổi. Khẩu hiệu của phái trọng nông là “hãy để mặc chúng
tôi sản xuất cái gì mà chúng tôi muốn. Để chúng tôi sử dụng sản phẩm theo cách
của chúng tôi”. Câu “để mặc” (Laisser faire) trở thành ngữ của những người
trọng nông, thành “tuyên ngôn chính trị” của họ đối với phái trọng thương. Vậy
quyền lực của nhà nước cần phải sử dụng để đánh thuế vào người chiếm hữu

giải về chính quyền” (Treatises ò Civil Government). Cuốn sách mở đường cho
một chính thể đại nghi thay thế chính thể chuyên chế một cách hợp biến. Theo
đó, chính quyền chuyên chế vô hạn phải bị thay thế bằng chính quyền chỉ được
can thiệp giới hạn. Người ta giới hạn sự can thiệp của quyền này đối với quyền
khác trong quyền lực tổng hợp. Chẳng hạn, giữa quyền lập pháp và hành pháp.
Giới hạn đối với chính quyền còn thể hiện ở chỗ chính quyền sẽ chỉ quản lí, cai
trị hạn chế trong những lĩnh vực xã hội liên quan đến bản tính “công dân” của
con người.
Theo J.Locke, quyền công dân chỉ là một phần của quyền con người, là vì bản
tính tự nhiên (bản tính con người) là có trước bản tính công dân trong con người.
Xã hội tự nhiên của con người có trước là vô hạn so với xã hội chính trị (với
những thiết chế chính quyền khác nhau) – một xã hội có hạn. chính quyền được
tổ chức là do con người tự nguyện kí kết với nhau thành lập để bảo vệ quyền của
con người. Trong các quyền đó, có những quyền được trao cho nhà nước và
được nhà nước che chở. Từ đó, tạo ra giới hạn của quyền quốc gia. Nếu vượt
qua nó, chính quyền sẽ không đứng về phía nhân dân nữa mà trở thành kẻ “xâm
lược”.
Cuốn sách “Sự thịnh vượng của quốc gia” (Wealth of National) của Adam
Smith và những người cộng sự cũng đi đến kết luận về giới hạn của quyền lực
quốc gia nhưng ở giác độ khác: giữa nhà nước và các nhà tư bản, các doanh
nhân. Theo ông, cá nhân mới là một chủ thể thực sự, còn tổ chức chính quyền là
những chủ thể hình thức gồm nhiều cá nhân. Con người trước hết vì cá nhân mà
tha thiết với công việc, đặc biệt là việc làm giàu cho bản thân mình. Vì thế lĩnh
Nhóm 3

Trang 15


KINH TẾ HỌC PHÁT TRIỂN


Nhóm 3

Trang 16


KINH TẾ HỌC PHÁT TRIỂN

GVHD: Th.s Bùi Thị Quỳnh Hương

Thứ hai: tự do kinh tế dẫn đến tập trung quyền lực kinh tế vào một thiểu số. Từ
đó quyền lực kinh tế sẽ “biến hóa” và thao túng các quyền khác, trong đó có
quyền lực chính trị. Cuối cùng quyền lực chính trị rơi vào tay những tập đoàn
kinh tế lớn. Thể chế chính trị đó không có ý nghĩa tự do, mà thực chất là “tự do
phục vụ mục đích của các tập đoàn kinh tế”.
Thứ ba: sự phận hóa giàu nghèo sâu sắc giữa các chủ doanh thương và giới thợ
thuyền đã đào sâu mâu thuẫn giữa vô sản và tư sản. Tình hình đó làm tăng mâu
thuẫn xã hội mà chính quyền không thể điều hòa được.
Tự do kinh tế dưới chế độ tư bản, vì vậy làm cho con người nói chung , toàn xã
hội, không những không được tự do, mà càng bị kiểm soát, nếu không phải là
bởi vì người này, thì lại bởi những tập đoàn khác.
- Những mâu thuẫn xã hội trong xã hội tư bản đã làm xuất hiện những học
thuyết chính trị mới ngày trong long chủ nghĩa tư bản. Đó là những tư tưởng về
chủ nghĩa xã hội không tưởng. Tính chất không tưởng của các tư tưởng này thế
hiện ở chỗ nó: hi vọng tạo thành một chế độ chính trị, kinh tế xã hội chủ nghĩa
bình đẳng, bác ái ngay trong lòng chế độ tư bản chủ nghĩa để nêu gương cho
mọi người noi theo. Tuyên truyền cho chủ nghĩa xã hội này không phải do giai
cấp vô sản , mà do các đại biểu của giai cấp thống trị như Xanh ximong, Phurie
tiến hành. Họ không thừa nhận đấu tranh cách mạng, mà cho rằng có thể “cảm
hóa” các nhà tư bản để xã hội chuyển dần sang chủ nghĩa xã hội.
- Còn những học thuyết của thời kì chủ nghĩa đế quốc thì hướng vào việc cải

theo con đường xã hội chủ nghĩa.
- Về quan hệ có tính nhân quả, các nhà sáng lập học thuyết Mác cho rằng sự
phát triển, vận động của sản xuất tất nhiên sẽ làm đảo lộn trật tự thể chế chính trị
và dẫn tới biến đổi cách mạng.
- Kinh tế trước hết là một hiện tượng khách quan, nhưng sản xuất xã hội đã dẫn
đến sự phân hóa trong xã hội thành những tập hợp người khác nhau, thành các
giai cấp đối địch nhau. Đối kháng giai cấp phát triển cho đến khi giai cấp công
nhân với Đảng tiên phong của nó là đảng công nhân, Đảng Cộng sản có thể và
trên thực tế trở thành giai cấp thống trị là chủ thể của quyền lực chính trị. Xã hội
vẫn tồn tại những giai cấp khác nhau nhưng trong một trật tự xã hội mới –xã hội
chủ nghĩa. Các giai cấp không phải đối kháng nữa vì có thể giải quyết mâu
thuẫn bằng biện pháp hòa bình.

Nhóm 3

Trang 18


KINH TẾ HỌC PHÁT TRIỂN

GVHD: Th.s Bùi Thị Quỳnh Hương

- Thể chế chính trị trong thời kì của sự hoàn thiện dần dần tới xã hội xã hội chủ
nghĩa chín muồi sẽ không còn đối kháng giai cấp trên căn bản vì những lý do
sau đây:
- Thứ nhất: giữa giai cấp công nhân nắm quyền và liên minh của nó, là những
giai cấp, tầng lớp lao động khác đều là những lực lượng lao động, chứ không
phải giai cấp bóc lột. Mục đích cầm quyền của giai cấp công nhân và các giai
cấp, tầng lớp lao động khác là giải phóng người lao động để tạo lập một trật tự
mới, dân chủ và bình đẳng chứ không phải để biến họ thành giai cấp bị bóc lột.

và kinh tế tập trung, coi kinh tế trong khu vực do nhà nước kiểm soát là nền
tảng bản đảm cho trật tự dân chủ xã hội chủ nghĩa.
- Ưu tiên kinh tế nhà nước trong môi trường kinh tế nhiều thành phần có thể coi
là tuyên ngôn chính đảng của nền chính trị xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, đặc
trưng của sự ưu tiên đó là ưu tiên trên cơ sở bình đẳng bởi một trật tự pháp lý
dân chủ, công khai. Điều đó mở ra khả năng cạnh tranh và trong cạnh tranh,
kinh tế nhà nước bộc lộ tính chất hơn hẳn và tự khẳng định trên cơ sở quy luật
khách quan của sự phát triển. Nếu ưu tiên mà nhận thức tự giác ngộ thuần túy
chủ quan thì có thể sẽ làm mất khả năng thực tế của kinh tế nhà nước, tức là tạo
cho nó có sức mạnh về thể chế chính trị nhưng lại thiếu thực lực kinh tế. Luận
điểm của V.I.Lenin “thể chế chính trị là biểu hiện tập trung của kinh tế” đã
chứng minh điều đó. Luận điểm trên của V.I.lenin đã chỉ rõ rằng nhà nước của
giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức không thể không tồn
tại bằng chính nền tảng kinh tế do các giai cấp đó là chủ thể, đại diện. Chính
quyền đó là biểu hiện ra ngoài, là tất yếu của sự vận động kinh tế, của sản xuất.
Tính chất “ưu tiên” của chính trị thể hiện ở chỗ: chính quyền nhà nước, các đảng
chính trị có khả năng thiết kế được một thể chế chính trị để làm nền cho sự vận
động khách quan của kinh tế. Nếu tạo lập theo chủ quan thuần túy, thì đương
nhiên phải nhìn nhận lại, phải điều chỉnh. Nếu nhận thức được quy luật của sự
vận động kinh tế thì sự điều chỉnh đó sẽ đi vào quỹ đạo, thể chế chính trị trở
thành “cứu cánh” cho kinh tế. Nếu điều chỉnh thuần túy chủ quan, nóng vội thì
sự điều chỉnh có thể dẫn tới hậu quả chính trị trở nên xấu hơn, không thể mở ra
môi trường cho kinh tế với tính cách là một trật tự của kinh tế xã hội chủ nghĩa.
Những đổ vỡ của Liên Xô và Đông Âu trước đây là một bằng chứng về những
cải biến chính trị có tính cực đoan.
Từ những sai lầm, khuyết điểm của những diễn biến chính trị chủ quan dẫn đến
chỗ cho rằng đó là một sự nhầm lẫn. Để lập lại trật tự mà thể chế chính trị có
Nhóm 3

Trang 20

vì lực lượng cách mạng, giai cấp lãnh đạo cách mạng (là giai cấp công nhân với

Nhóm 3

Trang 21


KINH TẾ HỌC PHÁT TRIỂN

GVHD: Th.s Bùi Thị Quỳnh Hương

đội tiên phong của nó là Đảng Cộng sản) và nguyện vọng của nhân dân có cùng
một hướng, cùng một mục tiêu kinh tế và chính trị. Đó là giải phóng dân tộc,
độc lập, bình đẳng và phát triển tiến lên chủ nghĩa xã hội.
Tuy nhiên khi bắt đầu xây dựng chế độ mới, yếu tố của thời đại, yếu tố quốc tế
và những hình mẫu chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam không tránh khỏi lặp lại những
mô hình đã có ở các nước, nhất là mô hình của Liên xô và các nước xã hội chủ
nghĩa khác.
Khi chủ nghĩa xã hội đi vào khủng hoảng với tính cách là một hệ thống, thì đồng
thời thế giới cũng chuyển sang khuynh hướng kinh tế, chính trị mới. Đó là chiến
tranh lạnh đã kết thúc, mở ra sự hợp tác như một yếu tố khách quan, nhu cầu dân
chủ trong chính trị và kinh tế ngày càng cao. Ý đồ thống trị của các cường quốc
không dập tắt được khuynh hướng có tính áp đảo là sự tự khẳng định của các
quốc gia, dân tộc, vì chủ quyền, không can thiệp vào công việc của nước khác
theo tinh thần của Hiến chương Liên Hiệp quốc.
Trong bối cảnh trong nước và quốc tế đó, Đảng cộng sản Việt Nam đã khẳng
định đổi mới và cải cách kinh tế trên cơ sở hoàn thiện thể chế chính trị là một
yêu cầu khách quan.
Tinh thần đổi mới trong Văn kiện Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI
(1986) đã đánh dấu một bước chính sách chuyển biến có tính bước ngoặt trong

độ lên chủ nghĩa xã hội đến Nghị quyết Đại hội VII (1991), Nghị quyết hội nghị
giữa nhiệm kì (khóa VII) (1994) và Nghị quyết Đại hội VIII, tinh thần của đổi
mới luôn thể hiện nhất quán những quan hệ cơ bản giữa thể chế chính trị và kinh
tế.
Thứ nhất: nền tảng chính trị là cơ cấu liên minh giữa giai cấp công nhân, nông
dân và tầng lớp trí thức, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Đó là những
đảm bảo để ổn định chính trị (như một yêu cầu khách quan của sự phát triển) và
từng bước hoàn thiện cơ chế dân chủ của xã hội, đảm bảo quyền làm chủ thực sự
của nhân dân. Nền tảng đó là tiền đề, là môi trường cho sự phát triển kinh tế.
Thứ hai: kinh tế hàng hóa nhiều thành phần cùng tồn tại với vai trò chủ đạo của
kinh tế nhà nước là chiến lược lâu dài tất yếu không phải là một sự áp đặt chính
trị, mà là trong môi trường cạnh tranh với hành lang pháp lí do Nhà nước định
ra.
Thứ ba: xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp trong nhà nước theo định
hướng xã hội chủ nghĩa, tạo ra sự bình đẳng trong kinh doanh, bình đẳng trong
phân phối và hưởng thụ, khuyến khích tài năng và năng lực. Nhà nước thực hiện
Nhóm 3

Trang 23


KINH TẾ HỌC PHÁT TRIỂN

GVHD: Th.s Bùi Thị Quỳnh Hương

chính sách xã hội, chăm lo đến những người có công với đất nước, có sự hy sinh
trong chiến tranh giữ nước nên đã chịu thiệt thòi trong phát triển kinh tế. Nhà
nước là trung tâm quyền lực chính trị thực hiện điều tiết, hạn chế sự chênh lệch
tuyệt đối giữa các cực giàu nghèo (nguyên nhân của những bất công mới trong
xã hội).

GVHD: Th.s Bùi Thị Quỳnh Hương

kích thích đầu tư vào máy móc, vốn con người, và các công nghệ tốt hơn và do
vậy các nước này cũng đạt được sự thịnh vượng về kinh tế.
Vì vậy thể chế chính trị có những vai trò trong lĩnh vực kinh tế như sau:
- Định hướng và hỗ trợ cho sự phát triển của nền kinh tế, phù hợp với
điều kiện phát triển của Quốc gia.
- Ban hành những chủ chương, chính sách, điều luật…để bảo đảm cho
sự phát triển của nền kinh tế.
- Tạo điều kiện phát triển thị trường nhằm thu hút nguồn đầu tư nước
ngoài.
Như phần chương I đã đề cập về thể chế chính trị là tổng hợp các phương
pháp và cách thức thực hiện quyền lực nhà nước do tình hình chính trị trong nước
chi phối. Thể chế chính trị được quy định trước hết bởi bản chất giai cấp, hình
thức nhà nước, tính chất của pháp luật và quyền lực của các cơ quan nhà nước có
thẩm quyền, tương quan lực lượng của các giai cấp, mức độ và hình thức đấu
tranh giai cấp cũng như truyền thống lịch sử của đất nước và hoàn cảnh quốc tế.
Trên thực tế công cuộc đổi mới kinh tế của Việt Nam trong những năm qua
đã đạt được những thành quả nhờ quá trình cải cách và định hướng của nhà nước.
Sau khi miền Nam được hoàn toàn giải phóng (năm 1975), mô hình kinh
tế kế hoạch hóa tập trung ở miền Bắc được áp dụng trên phạm vi ca nước. Mặc
dù đã có nhiều nỗ lực trong xây dựng và phát triển kinh tế, Nhà nước đã đầu tư
khá lớn, nhưng trong 5 năm đầu (1976-1980) tốc độ tăng trưởng kinh tế chậm
chạp, thậm chí có xu hướng giảm sút, và bắt đầu rơi vào tình trạng khủng hoảng.
Trong khi nguồn viện trợ không hoàn lại của các nước XHCN (Liên Xô
và Đông Âu) không còn nữa, đồng thời, do khó khăn về kinh tế của các nước
XHCN nên nguồn vay từ các nước này (chủ yếu là từ Liên Xô) ngày càng giảm

Nhóm 3


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status