MỤC LỤC
Nội dung
A. Đặt vấn đề.
B. Giải quyết vấn đề.
I, Khái niệm pháp luật trong xã hội học pháp luật.
1, Quan điểm thứ nhất.
2, Quan điểm thứ hai.
II, Các đặc trưng cơ bản của pháp luật.
1, Tính quy định xã hội của pháp luật.
2, Tính chuẩn mực của pháp luật.
3, Tính ý chí của pháp luật.
4, Tính cưỡng chế của pháp luật.
C. Kết luận.
Trang
1
2
2
2
4
6
6
8
9
12
15
A, ĐẶT VẤN ĐỀ.
Nhà nước và pháp luật đã xuất hiện từ rất lâu đời, luôn luôn song
hành với nhau, cùng nhau điều hòa các mối quan hệ của xã hội. Pháp luật
ra đời cùng với nhà nước, là công cụ hữu hiệu của nhà nước để thực hiện
1, Quan điểm thứ nhất.
Coi pháp luật là công cụ kiểm soát xã hội một cách có ý thức. Yếu
tố chính trị trong khái niệm pháp luật như một công cụ có trong quan
điểm kiểm soát xã hội của nhà xã hội học pháp luật Mỹ R.Pound. Theo
ông, trật tự pháp luật là hình thức rõ rệt và có hiệu lực nhất của sự kiểm
soát xã hội và chi phối các hình thức kiểm soát, quản lý khác. Pháp luật
chỉ bắt đầu giữ vị trí thực sự cùng với sự phát triển của tổ chức chính trị
của xã hội. Theo ông, các trật tự trong xã hội, đều cần có sự kiểm soát
chặt chẽ, đặc biệt mạnh mẽ nhất đó là sức mạnh cưỡng chế, trước hết với
mục đích kìm hãm con người không có các hành vi chống đối xã hội và
bắt buộc họ thực hiện các hành vi vì lợi ích của xã hội văn minh. Các
công cụ quan trọng nhất đó là đạo đức, tôn giáo và pháp luật mà đã từng
có thời kì chúng đan xen vào nhau. Tuy nhiên, trong sự phát triển của
thời đại, khi cái đạo đức dần bị phai nhạt và tôn giáo dần bị hòa lẫn với
không tôn giáo, sức ảnh hưởng của nó đã không còn là quá mạnh mẽ với
con người. Từ đó, pháp luật trở thành công cụ quan trọng nhất của sự
kiểm sóat xã hội và được đảm bảo bởi sức mạnh của một xã hội được tổ
chức về mặt chính trị; trong đó, nó quy định hành vi của con người bằng
con đường áp dụng cưỡng bức một cách có hệ thống.
Và từ đó, các nhà nghiên cứu xã hội học pháp luật đã ngày càng ý
thức được tính chất chính trị của pháp luật. Đặc biệt cho đến khi quan
điểm của macxit được đưa ra rằng: pháp luật chỉ phát sinh, tồn tại và phát
triển trong xã hội có giai cấp, nó là sự thể hiện ý chí của giai cấp thống
trị được nâng lên thành luật, thành những quy tắc xử sự mang tính bắt
buộc thực hiện chung đối với toàn xã hội. Pháp luật là vũ khí chính trị
mà giai cấp thống trị sử dụng để chống lại các giai cấp khác và quản lý
xã hội theo ý muốn của giai cấp mình. Và giai cấp thống trị đã thể hiện ý
chí của mình thông qua nhà nước, được cụ thể hóa trong các văn bản
• Luật chính trị: hay luật cơ bản, điều chỉnh mối quan hệ chung của
toàn xã hội.
• Luật dân sự: giải quyết những mối quan hệ chung của toàn xã hội.
• Luật hình sự: giải quyết quan hệ giữa con người với pháp luật, có
ý nghĩa là sự trừng phạt của mọi người đối với kẻ vi phạm luật.
• Dưa luận xã hội: là luật đặc biệt nhất và quan trọng nhất, chính là
những phong tục, tập quán.
Theo ông, các điều luật của Nhà nước cần phải phù hợp với ý chí và
nguyện vọng của nhân dân lao động. Quyền lực của Nhà nước phải được
thể hiện phù hợp với các phán xét của nhân dân.
Từ đó, có thể hiểu pháp luật là hình thức thực hiện các lợi ích xã
hội theo nguyên tăc bình đẳng hình thức
Sự tranh luận giữa hai quan niệm trên đã đặt ra vấn đề là quan
niệm nào sẽ được chấp nhận. Tuy nhiên cả hai quan niệm trên đều phản
ánh lợi ích xã hội ở các mức độ khác nhau. Và đối với tình hình xã hội
thực tế tại Việt Nam ngày nay, pháp luật như chúng ta đều thấy, nó mang
những đặc điểm đặc trưng của riêng mình đó là: là hệ thống các quy tắc
xử sự do nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện, thể hiện ý chí của nhà
nước, nhằm mục đích điều chỉnh các quan hệ xã hội. Trong đó đã chứa
cả những lợi ích giai cấp và lợi ích xã hội, nhằm đảm bảo sự vững mạnh
của đất nước. Từ đây, ta sẽ phân tích sâu thêm về các đặc trưng cơ bản
của nó.
II, Các đặc trưng cơ bản của pháp luật.
1, Tính quy định xã hội của pháp luật.
Dưới góc độ xã hội học pháp luật, pháp luật trước hết được xem
xét như một hiện tượng xã hội, nảy sinh từ các tiền đề có tính chất xã hội,
được. Đời sống nhân dân trở nên khó khăn, hàng hóa được nhà nước
phân phối theo chế độ tem phiếu, hàng hóa không được mua bán tự do
trên thị trường, không được phép vận chuyển tự do hàng hoá từ địa
phương này sang địa phương khác. Phân phối hàng hóa, hạn chế trao
đổi bằng tiền mặt. Chế độ hộ khẩu, được thiết lập trong thời kỳ này để
phân phối lương thực, thực phẩm theo đầu người. Lương đôi khi cũng
được trả bằng hiện vật.
Mặc dù chế độ bao cấp đã tồn tại ở miền Bắc từ trước năm 1975, song
thời kỳ bao cấp thường được dùng để chỉ sinh hoạt kinh tế cả nước Việt
Nam ở giai đoạn từ đầu năm 1976 đến cuối năm 1986, tức là trước thời
kỳ đổi mới. Với chế độ pháp luật cấm sản xuất tư nhân, triệt tiêu hoàn
toàn hình thức kinh doanh tư bản, nổi bật chỉ có hình thức sở hữu hợp
tác xã và sở hữu nhà nước. Pháp luật đã trở nên vô cùng lạc hậu và lỗi
thời, không theo kịp với tình hình thực tế xã hội ở nước ta trong thời kì
đó. Vì vậy, đây được coi như một giai đoạn thất bại và tù đọng nhất của
nền kinh tế Việt Nam trong thế kỷ 20.
2, Tính chuẩn mực của pháp luật.
Vì pháp luật thường được xem xét như một hiện tượng xã hội, nên
nó sẽ mang tư cách là một loại chuẩn mực xã hội. Như trong những đặc
trưng ở khái niệm pháp luật đã nêu trên, pháp luật là hệ thống những quy
tắc xử xự, đó là những “khuôn mẫu”, “mực thước” được xác định một
cách tương đói cụ thể, rõ ràng trong chừng mực có thể. Ở đây, pháp luật
đã vạch ra những giới hạn cần thiết mà nhà nước quy định, để từ đó
hướng dẫn cho con người được phép làm thế này, không được phép làm
cái kia, cái này là đúng, cái kia là sai…, đó là những căn cứ để xác định
xem hành vi nào là hợp pháp, và hành vi nào là bất hợp pháp. Mà nếu
con người vượt qua khỏi phạm vi đó tức là đã vi phạm pháp luật. Vì vậy
mà chuẩn mực pháp luật cần phải rõ ràng, cụ thể, không thể có chuẩn
các quan hệ xã hội nữa thì nhà nước tước mất của nó sức mạnh hoặc thay
đổi nó về mặt hình thức. Rõ rang là ở đây không nói đến sự vi phạm các
yêu cầu của chuẩn mực pháp luật trong tiến trình thực hiện nó mà nói
đến quá trình hình thành những quan hệ xã hội thực tế, trong quá trình đó
thể hiện ra một nội dung chuẩn hóa mới xuất hiện (có thể mới chỉ trong
thực tiễn áp dụng pháp luật chứ chưa phải ở chuẩn mực pháp luật được
công bố chính thức). Nếu chuẩn mực pháp luật thể hiện nhu cầu xã hội
thì đứng đằng sau nó là chính quyền nhà nước với nhiệm vụ bảo vệ các
quan hệ xã hội thống trị; phù hợp với các quan hệ xã hội ấy, chuẩn mực
tạo thành hành vi phù hợp với pháp luật, tức là cưỡng bức tuân theo nó.
Sự thực hiện phổ biến tương ứng với các quan hệ xã hội thống trị đồng
thời cũng là tính chuẩn mực. Các cơ quan thực hiện, áp dụng pháp luật
thường quy định nội dung của một chuẩn mực pháp luật nhất định bằng
con đường giải thích tương ứng với các quan hệ mới, trong khi các quan
hệ mới về cơ bản lại được phản ánh lại trong lập pháp một cách thích
hợp. Như vậy, tính hiệu lực của chuẩn mực pháp luật dựa trên không chỉ
ý chí mà cả trên thực tế xã hội, không chỉ trong sự xuất hiện chuẩn mực
pháp luật mà cả trong việc tiếp tục thực hiện chuẩn mực pháp luật đó
nữa.
Ví dụ: Tại một số nước trên thế giới, trước kia, họ cấm việc kết
hôn, chung sống giữa những người đồng tính với nhau. Do sự phát triển
của thời đại, nhu cầu của con người ngày càng đa dạng, đã khiến cho sự
ngăn cấm trên trở nên không còn tính tích cực của nó. Tình trạng không
còn tôn trọng pháp luật, biểu tình diễn ra ngày càng nhiều, khiến cho
nhiều quốc gia buộc phải thay đổi. Hiện nay, Đài Loan, Indonesia, Hàn
Quốc, Thái Lan và Campuchialà những quốc gia đồng tình việc quan hệ
đồng tính hiện đang hợp pháp.
3, Tính ý chí của pháp luật.
hội. Khi những bộ phận nhất định của pháp luật trở nên lạc hậu, không
còn phù hợp với thực tiễn xã hội thì nhà nước phải tiến hành sửa đổi, bổ
sung hoặc hủy bỏ để ban hành văn bản pháp luật mới.
Từ trước đến nay, trong các giai đoạn khác nhau của xã hội, đã chỉ
ra rằng chỉ những lực lượng nào nắm được nhà nước thì mới có khả năng
thể hiện ý chí và lợi ích của mình một cách tối đa trong pháp luật. Điều
đó được nhà nước đảm bảo thực hiện, vì vậy mọi quá trình xây dựng, tổ
chức, thực hiện và bảo vệ pháp luật đều được diễn ra dưới những hình
thức cụ thể, theo những nguyên tắc và thủ tục chặt chẽ.
Ví dụ: Tại nhà nước Việt Nam ta, quyền bầu cử thuộc về nhân dân, nhân
dân bầu ra các đại biểu quốc hội. Nhưng quốc hội lại bầu ra những
người giữ trọng trách quan trọng để điều hành đất nước. Việc này hết
sức quan trọng, liên quan đến vận mệnh của cả đất nước. Nên những cơ
quan nhà nước có trọng trách trong việc bầu cử cần phải tuân theo
những thủ tục hết sức chặt chẽ do chính nhà nước đã ban hành. Vấn đề
này đã chưa đựng cả ý chí của nhân dân và ý chí của nhà nước.
4, Tính cưỡng chế của pháp luật.
Nhà nước với tư cách là một tổ chức hợp pháp, công khai và có
quyền lực bao trùm toàn xã hội với sức mạnh cưỡng chế mạnh mẽ. Pháp
luật là công cụ của nhà nước, do nhà nước xây dựng, ban hành và đảm
bảo thực hiện, vì vậy mà pháp luật cũng sẽ mang tính cưỡng chế đó,
bằng các biện pháp tác động của nhà nước nhằm đảm bảo pháp luật được
tôn trọng và thực hiện thông qua việc hoàn thiện bộ máy công cụ thể hiện
quyền lực nhà nước như quân đội, cảnh sát, tòa án, nhà tù… Nhờ đó, khi
pháp luật được nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện, nó sẽ có sức
mạnh của quyền lực nhà nước và có thể tác động đến tất cả mọi người.
việc điều chỉnh các quan hệ xã hội. Nó đã góp phần to lớn cho việc đảm
bảo sự ổn định trong xã hội. Pháp luật tiến bộ thì xã hội mới tiến bộ, và
ngược lại, pháp luật không tiến bộ thì xã hội cũng tụt hậu. Vì vậy việc
nghiên cứu, tìm hiểu kĩ thêm về pháp luật là một vấn đề hết sức quan
trọng, nhất là trong tình hình đất nước Việt Nam ta hiện nay, nhằm thực
hiện được mục tiêu là làm cho xã hội tốt đẹp, dân chủ hơn.
Trên đây là những hiểu biết của em về khái niệm pháp luật, các đặc trưng
cơ bản của pháp luật theo quan điểm xã hội học pháp luật. Mặc dù đã rất
cố gắng nhưng do kiến thức sinh viên có hạn nên không tránh khỏi
những hạn chế và sai sót. Em rất mong nhận được sự giúp đỡ, đóng góp
nhiệt tình từ phía các thầy, các Cô để bài tiểu luận của em được hoàn
thiện hơn. Em xin chân thành cảm ơn!
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Ngọ Văn Nhân, Xã hội học pháp luật, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, 2010.
2. Ngọ Văn Nhân, Xã hội học pháp luật (tái bản, có sửa chữa, bổ sung),
Nxb. Hồng Đức, Hà Nội, 2012.
3. Ngọ Văn Nhân, Giáo trình xã hội học (chương 4), Nxb. Thông tin và
Truyền thông, Hà Nội, 2012.
4. Kulcsar Kalman, Cơ sở xã hội học pháp luật, Nxb. Thống kê, Hà Nội,
2004.
5. Nguyễn Khắc Viện (chủ biên), Từ điển xã hội học, Nxb. Thế giới, Hà
Nội, 1994.
6. Đào Trí Úc, “Vai trò của xã hội học lập pháp ở nước ta trong giai
đoạn hiện nay”, Tạp chí nhà nước và pháp luật, số 01/2003.