BÀI TẬP HỌC KỲ - LUẬT NGƯỜI KHUYẾT TẬT VIỆT NAM
MỤC LỤC
1
MỤC LỤC...........................................................................................................................................1
2. Tìm 1 tình huống thực tế về quyền tìm kiếm và đảm bảo việc làm của người khuyết tật. Qua đó
phân tích những khó khăn, bất lợi của họ và nhận xét quy định pháp luật hiện hành về chế độ làm
việc đối với người khuyết tật.............................................................................................................9
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO...................................................................................................15
Nguyễn Hà Linh
N02 – Nhóm 7
BÀI TẬP HỌC KỲ - LUẬT NGƯỜI KHUYẾT TẬT VIỆT NAM
2
1. Quyền lợi của người khuyết tật trong vấn đề chăm
sóc sức khoẻ theo quy định của pháp luật hiện hành
Sức khoẻ là một nhân tố quan trọng trong cuộc sống của mỗi con
người. Nhu cầu chăm sóc sức khoẻ là nhu cầu quan trọng mang tính tất
yếu. Đặc biệt đối với những người khuyết tật, họ là người mang một hay
nhiều khiếm khuyết trên cơ thể hoặc suy giảm chức năng nào đó, khiến họ
khó khăn hơn so với những người bình thường khác, thì nhu cầu chăm sóc
sức khoẻ lại càng cần thiết hơn.
Kết quả cuộc điều tra mức sống dân cư Việt Nam năm 2006
(VHLSS, 2006) cho thấy, tỷ lệ khuyết tật của dân số từ 5 tuổi trở chiếm
đến 15,3% trong tổng dân số, và mới đây nhất, kết quả Tổng điều tra dân
nhiệm chính như chăm sóc về phòng bệnh; khám bệnh, chữa bệnh; điều
dưỡng, phục hồi chức năng…) và chăm sóc ngoài y tế (do các ngành khác
đảm nhiệm chính như: tập luyện thể dục thể thao; nhà ở, nước uống, vệ
sinh môi rường, giao thông vận tải…
Luật người khuyết tật 2010 ra đời, quyền lợi của người khuyết tật
trong việc chăm sóc sức khoẻ được quy định khá cụ thể tại Chương III
(điều 21 – điều 26). Ben cạnh đó, quyền lợi của họ còn được quy định tại
các luật chuyên ngành khác: Luật người cao tuổi (điều 12), luật khám
bệnh, chữa bệnh (điều 3), Luật hoạt động chữ thập đỏ.
Căn cứ vào nội dung các hoạt động chăm sóc sức khoẻ người
khuyết tật, thì chế độ chăm sóc sức khoẻ cho người khuyết tật được chia
thành ba loại: Chế độ phòng bệnh (mục đích để ngăn ngừa không để
khuyết tật xảy ra hay làm giảm hoặc loại bỏ nguy cơ gây nên khuyết tật,
tăng cường sức khoẻ ổn định hơn cho người khuyết tật); chế độ khám
bệnh, chữa bệnh (mục đích để phát hiện sớm và chữa trị khuyết tật đã phát
sinh); chế độ chỉnh hình, phục hồi chức năng (mục đích phục hồi khả
năng các bộ phận hoặc chức năng nào đó đã bị mất hoặc suy giảm và tăng
cường khả năng còn lại để hạn chế hậu quả của khuyết tật, giúp người
khuyết tật sớm ổn định sức khoẻ).
1
Xem: Bộ y tế, GS.TS. Trương Việt Dũng (chủ biên),Tổ chức và quản lý y tế, Nxb. Y học, hà Nội,
2007, tr. 46 - 58
Nguyễn Hà Linh
N02 – Nhóm 7
3
+ Cải thiện điều kiện dinh dưỡng và ăn uống hợp lý
+ Cung cấp nước sạch và vệ sinh môi trường
+ Chăm sóc sức khoẻ bà mẹ, trẻ em
Nguyễn Hà Linh
N02 – Nhóm 7
4
BÀI TẬP HỌC KỲ - LUẬT NGƯỜI KHUYẾT TẬT VIỆT NAM
+ Các hoạt động về công tác phòng bệnh…
-
5
Thực hiện các biện pháp phòng ngừa. Có nhiều cách phòng
ngừa khuyết tật – tương ứng với các nguyên nhân dẫn tới khuyết tật. Hoạt
động phòng ngừa khuyết tật khá đang dạng bao gồm:
+ Phòng ngừa không để xảy ra khuyết tật;
+ Phòng ngừa để ngăn ngừa tình trạng ốm đau, tai nạn, rủi ro trở
thành người khuyết tật;
+ Phòng ngừa để ngăn ngừa khuyết tật gây nên hậu quả nặng hơn.
-
Quản lý sức khoẻ. Điểm b khoản 1 điều 21 Luật người khuyết
tật quy định: trạm y tế cấp xã có trách nhiệm lập hồ sơ theo dõi, quản lý
sức khoẻ người khuyết tật. Việc quản lý sức khoẻ đối với người khuyết tật
Nội dung khám bệnh, chữa bệnh cho người khuyết tật bao gồm:
-
Quyền được khám bệnh, chữa bệnh. Có nghĩa là, khi tham gia
vào khám bệnh, chữa bệnh ở cơ sở khám chữa bệnh, người khuyết tật có
quyền được đảm bảo các quyền như một công dân bình thường (quyền
được khám bệnh, chữa bệnh có chất lượng phù hợp với điều kiện thực tế;
quyền được giữ bí mật thông tin về tình trạng sức khoẻ và đời tư được ghi
trong hồ sơ bệnh án; quyền được lựa chọn phương pháp chẩn đoán và điều
trị;…4).
-
Được ưu tiên khám bệnh, chữa bệnh: người khuyết tật đặc
biệt nặng; người khuyết tạt nặng, trẻ em khuyết tật, người cao tuổi khuyết
tật, phụ nữ khuyết tật có thai, người khuyết tật có công với cách mạng có
quyền được ưu tiên trong khi khám bệnh, chữa bệnh tại cơ sở y tế. Việc
ưu tiên thể hiện thông qua: miễn, giảm viện phí; hỗ trợ sinh hoạt phí, chi
phí đi lại, chi phí điều trị.
c.
Phục hồi chức năng
Phục hồi chức năng được coi là nội dung quan trọng trong việc
chăm sóc sức khoẻ người khuyết tật. Điều 26 Công ước về quyền của
người khuyết tật năm 2006 (Liên hợp quốc): “để giúp người khuyết tật
đạt được và duy trì tối đa sự độc lập, khả năng đầy đủ về thể chất, trí tuệ,
xã hội và nghề nghiệp, sự hoà nhập và tham gia vào mọi lĩnh vực của đời
sống… các quốc gia tổ chức, tăng cường và mở rộng dịch vụ, chương
-
Phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng
* Hạn chế, khó khăn, thách thức
Người khuyết tật vẫn còn nhiều khó khăn trong tiếp cận với các
dịch vụ y tế, nhất là người khuyết tật ở vùng sâu, vùng xa, nơi điều kiện
đi lại không thuận tiện. Kết quả điều tra đánh giá tình hình thực hiện pháp
luật về người khuyết tật năm 2008 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã
hội cho thấy 58,34% người khuyết tật và 80% hộ gia đình có người
khuyết tật còn đang gặp phải khó khăn trong việc khám chữa bệnh - chăm
sóc sức khoẻ cho người khuyết tật. Mặc dù hầu hết các xã đã có trạm y tế
nhưng chất lượng còn hạn chế, mới có 46% xã có trạm y tế đạt chuẩn
quốc gia; đội ngũ y bác sĩ, giáo viên ở vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa
còn thiếu, chất lượng còn thấp, các trang thiết bị phục vụ chuyên môn còn
thô sơ, lạc hậu, không đảm bảo chất lượng. Phần lớn hộ gia đình có người
khuyết tật có hoàn cảnh kinh tế khó khăn (32,5% thuộc diện nghèo) nên
khả năng tiếp cận với dịch vụ y tế bị hạn chế, đặc biệt là tiếp cận với dịch
vụ y tế chất lượng cao do những chi phí ngoài điều trị (chi phí đi lại, chăm
sóc, ăn ở, thuốc men,...) vượt quá khả năng tài chính của người khuyết tật
và hộ gia đình có người khuyết tật; bên cạnh đó những thủ tục, quy định
5
Xem: Điều 25, Điều 26 Luật người khuyết tật; Điều 2, Điều 41, Điều 47 Luật bảo vệ sức khoẻ nhân
dân; Điều 42 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em; Điều 47 Luật chăm sóc sức khoẻ thanh
niên; Điều 9. 10. 14. 17, 20, 24, 27, 29 Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng
Nguyễn Hà Linh
N02 – Nhóm 7
người khuyết tật nhẹ không hưởng chính sách bảo trợ xã hội.
-
Sử dụng thẻ bảo hiểm y tế còn nhiều bất cập, nhất là trong
việc chuyển tuyến khám chữa bệnh, điều trị - phục hồi chức năng, một số
danh mục kỹ thuật phục hồi chức năng đang được thực hiện tại các cơ sở
y tế chưa được quỹ bảo hiểm y tế chi trả, phần lớn các dụng cụ trợ giúp
cho người khuyết tật chưa được bảo hiểm y tế thanh toán.
Nguyễn Hà Linh
N02 – Nhóm 7
8
BÀI TẬP HỌC KỲ - LUẬT NGƯỜI KHUYẾT TẬT VIỆT NAM
9
2. Tìm 1 tình huống thực tế về quyền tìm kiếm và đảm bảo
việc làm của người khuyết tật. Qua đó phân tích những khó
khăn, bất lợi của họ và nhận xét quy định pháp luật hiện hành về
chế độ làm việc đối với người khuyết tật
Theo ước tính của Liên hợp quốc, hiện có khoảng 10% dân số thế
giới là người khuyết tật, đa phần trong số đó trong độ tuổi lao động.
Nhóm dân số này đang phải đối mặt với nhiều vấn đề khác nhau trong
cuộc sống, từ việc đối mặt với những rào cản về mặt nhận thức, đến
những rào cản về cơ sở hạ tầng và cơ hội để phát triển.
Vấn đề việc làm cho người khuyết tật là một nội dung cơ bản được
những việc làm phù hợp như biên tập cho Vietbooks, Firstnews... và đến
giờ là một vị trí công việc phù hợp với khả năng của Thanh.
Cậu chuyện về chị Thanh là một bài học điển hình, một tấm gương
cho những người cùng cảnh ngộ như chị học tập. Tuy nhiên, trên thực tế
thì những người khuyết tật được có công ăn việc làm ổn định vẫn còn hạn
chế và những người thành công trong công việc như Trần Kim Thanh lại
càng hiếm.
* Nguyên nhân dẫn tới khó khăn trong tìm việc và đảm bảo
việc làm cho người khuyết tật
Từ tình huống đã nêu về một trường hợp người khuyết tật thành
công trong việc tìm kiếm và đảm bảo việc làm cũng như từ thực tế hiện
nay, có thể thấy, những khó khăn, bất lợi mà người khuyết tật gặp phải
trong quá trình tìm kiếm và đảm bảo việc làm bắt nguồn từ những nguyên
nhân sau đây:
Nguyễn Hà Linh
N02 – Nhóm 7
10
BÀI TẬP HỌC KỲ - LUẬT NGƯỜI KHUYẾT TẬT VIỆT NAM
Thứ nhất, do trình độ văn hoá còn thấp, do một số điều kiện chủ
quan cũng như sự tác động không tốt từ thực tế khách quan dẫn tới việc
tới trường của người khuyết tật gặp rất nhiều hạn chế. Khó khăn chồng
chất khó khăn khi, một mặt, người khuyết tật là nhóm người gặp những
hạn chế nhất định về thể chất cũng như tinh thần, mặt khác lại gặp phải
những rào cản từ phía gia đình và xã hội. Theo số liệu thống kê, 41%
người khuyết tật từ 6 tuổi trở lên không biết chứ, chỉ có 19.5% người
BÀI TẬP HỌC KỲ - LUẬT NGƯỜI KHUYẾT TẬT VIỆT NAM
Thứ ba, chưa có định hướng dạy nghề và tạo việc làm thích hợp
cho người khuyết tật. Theo số liệu thống kê của Bộ Lao động – Thương
binh và xã hội, năm 2001, có 97.64% Người khuyết tật ở Việt Nam không
được đào tạo qua trường lớp chính thức, trong đó 1.22% đã có trình độ kĩ
thuật đủ để đáp ứng nhu cầu công việc, 0.53% mới tốt nghiệp từ những
trường dạy nghề và chỉ có 0.61% tốt nghiệp từ các trường Đại học và cao
đẳng. Thực trạng này dẫn đến tỉ lệ người khuyết tật không tìm được việc
làm khá cao: 41.86% ở Đồng bằng sông Hồng và 35,77% ở phía đông
nam đồng bằng sông Cửu Long. Hằng năm, Bộ lao động – thương binh và
xã hội đều có giao chỉ tiêu và ngân sách cho các Sở Lao động – Thương
binh và Xã hội các tỉnh và thành phố để đào tạo nghề cho Người khuyết
tật, nhưng do chất lượng đào tạo chưa thực sự hiệu quả, nên số người
khuyết tật sau khi đào tạo vẫn không có nhiều việc làm rất đông. Và tình
hình thì không được cải thiện bao nhiêu.
* Nhận xét quy định của pháp luật hiện hành và phương hướng
hoàn thiện
Có thể thấy, Luật người khuyết tật 2010 ra đời thể hiện sự quan
tâm đúng mức của xã hội và Nhà nước tới đối tượng đặc biệt này. Chính
sách nhằm giúp đỡ người khuyết tật trong tìm kiếm và đảm bảo việc làm
là khá cụ thể và hợp lý, tạo điều kiện cho người khuyết tật có thể tự lo cho
cuộc sống của riêng mình. Song với tình hình thực tế cho thấy, tình hình
giải quyết việc làm cho người khuyết tật không mấy khả quan hơn. Từ
những nguyên nhân kể trên, có thể nêu ra một số giải pháp, một mặt để
hoàn thiện pháp luật, mặt khác để giải quyết vấn đề việc làm cho người
khuyết tật:
Về phía nhà nước
Nguyễn Hà Linh
-
Trong quá trình lao động, do người khuyết tật có những hạn
chế nhất định về thể chất hoặc tinh thần, thông thường thì họ có sức khoẻ
không tốt, doanh nghiệp cần phải sắp xếp vị trí phù hợp, thực hiện đúng
quy định về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi cho người khuyết tật.
Nguyễn Hà Linh
N02 – Nhóm 7
13
BÀI TẬP HỌC KỲ - LUẬT NGƯỜI KHUYẾT TẬT VIỆT NAM
14
Nguyễn Hà Linh
N02 – Nhóm 7
BÀI TẬP HỌC KỲ - LUẬT NGƯỜI KHUYẾT TẬT VIỆT NAM
15
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.