Phân tích 3 tình huống trong thực tế để làm rõ tác động của quy luật giá trị trong nền kinh tế Việt Nam hiện nay - Pdf 33

MỞ ĐẦU
Sản xuất hàng hóa chịu sự tác động của các qui luật kinh tế như: qui
luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản
xuất; qui luật tiết kiệm thời gian lao động; qui luật tăng năng suất lao động,
… Nhưng vai trò cơ sở cho sự chi phối nền sản xuất hàng hóa thuộc về qui
luật giá trị. Qui luật giá trị là qui luật kinh tế căn bản của sản xuất và trao
đổi hàng hóa, ở đâu có sản xuất và trao đổi hàng hóa thì ở đó có sự tồn tại
và phát huy tác dụng của qui luật giá trị.
Với công cuộc đổi mới đất nước, nền kinh tế nước ta đang có những
bước phát triển vững chắc. Chú trọng nền kinh tế sản xuất hàng hóa theo cơ
chế thị trường, mở rộng quan hệ trao đổi mua bán với bên ngoài, nền sản
xuất hàng hóa của nước ta cũng chịu những tác động của qui luật giá trị. Sự
tác động của bản thân qui luật giá trị và sự vận dụng qui luật giá trị vào nền
sản xuất ở Việt Nam đã giúp chúng ta đạt được những thành tựu quan trọng
trong lĩnh vực kinh tế nhất là trong bối cảnh nước ta đang hội sâu rộng vào
nền kinh tế thế giới. Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này, chúng
em chọn đề tài: “Phân tích 3 tình huống trong thực tế để làm rõ tác động
của quy luật giá trị trong nền kinh tế Việt Nam hiện nay.

NỘI DUNG
1. Nội dung quy luật giá trị
Quy luật giá trị là sự phản ánh mối liên hệ bản chất tất yếu giữa giá cả
và giá trị.
Theo yêu cầu của quy luật giá trị, việc sản xuất và trao đổi hàng hoá
phải dựa trên cơ sở hao phí lao động xã hội cần thiết.
Trong kinh tế hàng hoá, mỗi người sản xuất tự quyết định hao phí lao
động cá biệt của mình, nhưng giá trị của hàng hoá không phải được quyết
định bởi hao phí lao động của từng người sản xuất hàng hoá, mà bởi hao
phí lao động xã hội cần thiết. Vì vậy, muốn bán được hàng hoá, bù đắp
được chi phí và có lãi, người sản xuất phải điều chỉnh làm sao cho hao phí
lao động cá biệt của mình phù hợp với mức chi phí mà xã hội chấp nhận

trường. Sự biến động của giá cả thị trường cũng có tác dụng thu hút luồng
hàng từ nơi giá cả thấp đến nơi có giá cả cao, do đó làm cho lưu thông hàng
hoá thông suốt.
Như vậy, sự biến động của giá cả trên thị trường không những chỉ rõ
sự biến động về kinh tế, mà còn có tác động điều tiết nền kinh tế hàng hoá.
Thứ hai, kích thích cải tiến kỹ thuật hợp lý hoá sản xuất, tăng năng
suất lao động, thúc đẩy lực lượng sản xuất xã hội phát triển
Trong nền kinh tế hàng hoá, mỗi người sản xuất hàng hoá là một chủ
thể kinh tế độc lập, tự quyết định hoạt động sản xuất kinh doanh của mình.
Nhưng do điều kiện sản xuất khác nhau nên hao phí lao động cá biệt của
mỗi người khác nhau, người sản xuất nào có hao phí lao động cá biệt nhỏ
hơn hao phí lao động xã hội của hàng hoá ở thế có lợi, sẽ thu được lãi cao.
Người sản xuất nào có hao phí lao động cá biệt lơn hơn hao phí lao động xã
hội cần thiết sẽ ở thế bất lợi, lỗ vốn. Để giành lợi thế trong cạnh tranh và
tránh nguy cơ vỡ nợ, phá sản, họ phải hạ thấp mức hao phí lao động cá biệt
của mình, sao cho bằng hao phí lao động xã hội cần thiết. Muốn vậy, họ
phải luôn tìm cách cải tiến kỹ thuật, cải tiến tổ chức quản lý, thực hiện tiết
kiệm chặt chẽ, tăng năng suất lao động, sự cạnh tranh quyết liệt càng thúc


đẩy quá trình này diễn ra mạnh mẽ hơn, mang tính xã hội. Kết quả là lực
lượng sản xuất xã hội được thúc đẩy phát triển mạnh mẽ.
Thứ ba, thực hiện sự lựa chọn tự nhiên và phân hoá người sản xuất
hàng hoá thành người giàu, người nghèo.
Quá trình cạnh tranh theo đuổi giá trị tất yếu dẫn đến kết quả là:
những người có điều kiện sản xuất thuận lợi, có trình độ, kiến thức cao,
trang bị kỹ thuật tốt nên có hao phí lao động cá biệt thấp hơn hao phí lao
động xã hội cần thiết, nhờ đó phát tài, giàu lên nhanh chóng. Họ mua sắm
thêm tư liệu sản xuất, mở rộng sản xuất kinh doanh. Ngược lại những
người không có điều kiện thuận lợi, làm ăn kém cỏi, hoặc gặp rủi ro trong

trồng tiêu tại các tỉnh này tăng đột biến. Tại Gia Lai, theo số liệu của Sở
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Gia Lai, hiện diện tích tiêu toàn tỉnh
đã tăng hơn 6.000 ha, trong đó tập trung chủ yếu ở 2 huyện Chư Sê và Chư
Pưh chiếm tới gần 4.000 ha, diện tích còn lại nằm rải rác ở các huyện Chư
Prông, Đắk Đoa… Còn tại Đăk Lăk, theo quy hoạch của ngành nông
nghiệp thì diện tích tiêu chỉ vào khoảng 5.000 ha, nhưng hiện tại diện tích
tiêu đã vượt quy hoạch lên tới gần 1.000 ha.
Giá tiêu tăng lên chóng mặt làm người nông dân thi nhau lao vào
trồng tiêu nhằm làm giàu nhanh chóng. Nhiều hộ nông dân đã phá các loại
cây trồng khác như cà phê, điều…để tiến tới trồng tiêu thậm chí họ còn mở
rộng đất bằng cách phá rừng. Việc tiêu lên giá mạnh mẽ không chỉ làm
nhiều hộ nông dân tiến hành mở rộng diện tích trồng bất chấp thiệt hại có
thể xảy ra bất cứ lúc nào mà còn dẫn tới một hệ lụy đó là tình trạng “sốt”
dây hồ tiêu. Hồ tiêu là loại cây dễ bị nhiễm bệnh do đó rủi ro mà loại cây
này đem lại cũng vô cùng lớn. Trong khi nhiều hộ dân hồ hởi lao vào trồng
tiêu bằng mọi giá, thì lại đang có hàng nghìn hộ khác lo lắng vì tiêu chết
hàng loạt. Cây tiêu có thể giúp nhiều gia đình trở thành tỷ phú, nhưng cũng
khiến không ít hộ trắng tay, nhất là hộ trồng tiêu ít kinh nghiệm, thiếu hiểu
biết về KH-KT. Ông Hoàng Sánh, Phó chủ tịch Hội nông dân xã Lộc Thiện
băn khoăn, nguồn giống không đạt chất lượng là nguy cơ tiềm ẩn rất lớn
cho người trồng tiêu, bởi nó tiềm ẩn mầm mống của nhiều loại bệnh hại.
Nếu trồng phải loại giống nhiễm bệnh, người trồng tiêu sẽ không chỉ bị
thiệt hại hoàn toàn mà còn khiến bệnh có cơ hội lây lan sang những diện
tích xung quanh.
Vì lợi nhuận trước mắt mà nhiều hộ nông dân đã đổ xô trồng tiêu dẫn
tới cung vượt quá cầu và tiêu bị nhà mua ép giá là điều khó tránh được –
đây chính là điều đáng lo nhất trong cơn sốt giá hồ tiêu này.
Ví dụ trên cho chúng ta thấy rõ tác động của quy luật giá trị trong
việc điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hóa với nền kinh tế của
Việt Nam nói chung cũng như vấn đề trồng hồ tiêu nói trên.

bị nhà buôn ép giá mà còn là tạo ra cơn sốt dây hồ tiêu. Bên cạnh việc sốt
giống dây tiêu là nọc trồng. Hiện nay, nọc gỗ (nọc lục) giá rất cao, 180.000200.000 đ/nọc nhưng khan hiếm. Nếu có vốn đầu tư trồng bằng nọc gỗ lục
thì mỗi trụ mất khoảng 350.000 đồng; 1 ha trồng 2.000 nọc tiêu, vốn đầu tư
ban đầu lên tới 700 triệu đồng, chưa kể tiền đất, nhưng khi tiêu chết vẫn
bán lại nọc gỗ để thu hồi vốn. Nếu trồng bằng nọc giả rồi thay dần bằng
nọc sống thì đầu tư ban đầu là 100.000-120.000 đ/trụ. Hiện nay, người
trồng tiêu chủ yếu dùng nọc giả (nọc bằng gỗ tạp xẻ mỏng), sau đó thay
dần bằng nọc sống cây keo hoặc vông. Trồng tiêu bằng nọc sống giá thành
thấp hơn nhưng cũng nhạy cảm với các bệnh lây từ nọc qua tiêu. Và nếu
tiêu rớt giá trong thời điểm phân bón, công lao động tăng cao, nông dân
không đủ sức đầu tư tái sản xuất thì vườn tiêu sẽ nhanh chóng trở thành
hoang hóa, người trồng rơi vào cảnh nợ nần phá sản.
Bên cạnh đó cũng có nhiều tác động tích cực: Trong ví dụ này, tác
động của quy luật giá trị không chỉ là việc điều tiết sản xuất hàng hóa mà
còn điều tiết lưu thông hàng hóa cùng thông qua giá cả trên thị trường. Ở


Việt Nam việc trồng hồ tiêu chủ yếu là để xuất khẩu do giá hồ tiêu trong
nước thấp hơn giá hồ tiêu ở thị trường thế giới. Ở đây quy luật giá trị có tác
dụng thu hút nguồn hàng từ nơi giá cả thấp đến nơi giá cả cao hơn do đó
lưu thông hàng hóa được thông suốt. Vì vậy mà khi xuất khẩu được hồ tiêu
người nông dân sẽ có lãi cao hơn.
=> Từ ví dụ này ta có thể thấy sự biến động giá cả trên thị trường
không những chỉ rõ sự biến động về kinh tế mà còn có tác động điều tiết
nền kinh tế hàng hóa.
VÍ DỤ 2: Ứng dụng trong chăn nuôi ở Việt Nam
Không chỉ có tác động trong điều tiết sản xuất và lưu thông hàng
hóa, quy luật giá trị còn giúp kích thích cải tiến kĩ thuật , hợp lý hóa sản
xuất, tăng năng suất lao động , thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển. Tác
động đó được thể hiện rõ trong việc chăn nuôi ở nước ta.

1%/năm. Hai phương pháp thông dụng trong cải tạo đàn bò vàng là:
Phương pháp thụ tinh nhân tạo: dùng tinh đông viên, ống rạ Ampoule
của các giống bò đực cao sản nước ngoài. Phương pháp này có ưu điểm là
cải tạo giống bò vàng theo bất kỳ hướng sản xuất nào mà ta mong
muốn( bò sữa, bò thịt…), không tốn kém để nuôi bò giống đực.
Phương pháp nhảy trực tiếp: dùng bò đực Zebu ở các đời F1, F2, F3
cho nhảy trực tiếp có hướng dẫn với những bò cái vàng, áp dụng cho những
nơi chưa có nhiều điều kiện thụ tinh nhân tạo. Mục đích nâng cao dần tầm
vóc đàn bò vàng. Hiện nay, tỉ lệ đàn bò lai chiếm khoảng 35% tổng bò và
mục tiêu đến năm 2015 đạt 40%. Chúng ta ngày càng tăng tỉ lệ đàn bò lai
thì năng suất chăn nuôi và giá trị sản xuất của chăn nuôi bò thịt càng cao.
2. Về kĩ thuật thứ hai: Vỗ béo trâu bò trước khi giết thịt
Hiện nay chăn nuôi trâu bò chủ yếu theo hình thức quảng canh, tận
dụng và đầu tư. Trâu bò giết thịt chủ yếu thuộc diện loại thải. Chúng ta
cũng chưa có thói quen vỗ béo trâu, bò trước khi giết thịt nên năng suất và
chất lượng thịt không cao, giá trị chăn nuôi thấp. Công nghệ vỗ béo trâu bò
rất đơn giản, có thể áp dụng cho trâu bò loại thải(trâu bò già, hết khả năng
sinh sản, cày kéo…) và cả trâu bò non hết thời gian nuôi lớn. Phương pháp
vỗ béo trâu bò trước khi giết thịt: tẩy ngoại ký sinh trùng trước khi vỗ béo,
tẩy giun các loại, nuôi nhốt tại chuồng theo phương pháp thâm canh với
khẩu phần hàng ngày có tỉ lệ thức ăn tinh là 65%, thô là 35%. Chuồng trại
sạch sẽ , vệ sinh thoáng mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông, luôn có đủ
thức ăn nước uống. Thời gian vỗ béo là từ 30-40 ngày, có thể là 60 ngày
tùy theo bò và theo từng yêu cầu vỗ béo. Sau khi vỗ béo xong phải giết thịt
ngay.
Việc vỗ béo chẳng những làm tăng khối lượng của cơ thể trâu bò mà
còn tạo ra sản phẩm thịt ngon hơn, chất lượng hơn. Bên cạnh đó, hiệu quả
chăn nuôi và giá trị sản xuất chăn nuôi trâu bò tăng lên rõ rệt.
Cải tiến kĩ thuật còn ở phương diện nâng cao chất lượng giống và cơ sở
nguồn thức ăn. Về giống bò, cần triển khai trên diện rộng chương trình cải

nâng cao tay nghề để chăm sóc cũng như tạo ra những giống gia súc có giá
trị kinh tế cao nhưng lại phải tốn ít công sức, tiền của nhất, khỏe mạnh và
dễ chăm sóc. Xuất phát từ việc chăn nuôi gia súc, các xí nghiệp, nhà máy...
sản xuất thức ăn, đồ ăn cho gia súc... sản xuất các loại thuốc phòng, chữa
bệnh cho gia súc, các nhà khoa học, nhà nghiên cứu cũng ngày càng nâng
cao được tay nghề cũng như kinh nghiệm của mình để tạo ra những sản
phẩm tốt nhất, đưa ra được những sáng kiến hiệu quả nhất phục vụ cho
người chăn nuôi gia súc theo quy mô vừa và lớn như nước ta. Từ những
khó khăn, những bất cập trong quá trình chăn nuôi đã thúc đẩy quá trình cải
tiến, nâng cao kĩ thuật, hợp lý hóa sản xuất, tăng năng suất lao động diễn ra


mạnh mẽ hơn, mang tính xã hội hơn. Kết quả là lực lượng sản xuất ngày
càng được thúc đẩy phát triển mạnh mẽ.
VÍ DỤ 3: Tìm cơ hội ngay trên quê nghèo
Tốt nghiệp đại học Nông Nghiệp, Hoàng Minh Tiến sinh năm 1978
không đi xin việc vào các cơ quan, doanh nghiệp như các bạn bè cùng lứa,
anh cũng không tìm đến những trung tâm kinh tế, khoa học lớn để thử sức
mà quyết quay về quê để lập nghiệp với tài sản lớn nhất là sức khỏe và kiến
thức được học ở trường lớp.
Miền quê Vụ Bản – Nam Định của Tiến sản xuất vẫn còn nặng tính
thuần nông, quy mô nhỏ lẻ nên khi một sinh viên vừa mới ra trường đặt vấn
đề xin thuê hàng ngàn m 2 đất, vay hàng trăm triệu đồng để lập trang trại
chăn nuôi theo quy trình khép kín, công nghệ cao thì ai cũng cho là “liều”.
Mà đúng là liều thật, với 7000 m2 đất, Tiến tiến hành xây dựng một
trang trại gà thương phẩm quy mô 4000 con, nuôi theo phương pháp công
nghệ cao, một ao nuôi thủy sản 500 m2, vườn cây công nghiệp,… số vốn
đầu tư hạ tầng lên đến 487 triệu đồng. Nhập con giống, thuốc phòng bệnh
mất 260 triệu đồng; gần 800 triệu đồng chủ yếu là vốn vay để đầu tư vào
sản xuất nông nghiệp đầy rủi ro mà nguồn thu ban đầu chỉ từ việc bán trứng

- Mặt thứ nhất: Qui luật giá trị chi phối sự lựa chọn tự nhiên, đào thải
các yếu kém, kích thích các nhân tố tích cực phát triển. Sự lựa chọn
tự nhiên, đào thải các yếu kém, kích thích các nhân tố tích cực phát
triển được thể hiện như: trước kia ở miền quê Vụ Bản – Nam Định
sản xuất vẫn còn mang nặng tính thuần nông, qui mô vẫn còn nhỏ lẻ,
chậm áp dụng khoa học kĩ thuật,… dẫn đến năng suất lao động
không cao; ngược lại bằng ý chí và nghị lực của mình Hoàng Minh
Tiến đã áp dụng những thành tựu KH-KT trong chăn nuôi theo
phương pháp công nghiệp đã đạt được hiệu quả cao. Như vậy, những
thành quả trong việc áp dụng KH-KT của anh Tiến đã đào thải
những yếu kém tồn tại trước đó, thể hiện sự chọn lọc tự nhiên giữa
các phương pháp sản xuất.
- Mặt thứ hai: Phân hóa xã hội thành kẻ giàu, người nghèo, tạo ra sự
bất bình đẳng trong xã hội: Hoàng Minh Tiến – sinh viên của trường
Đại học Nông Nghiệp sau khi tốt nghiệp ra trường đã lập nghiệp
ngay trên quê hương mình, bằng trình độ và kiến thức của mình với
trang thiết bị tốt, anh Tiến đã đạt được hiệu quả lao động rất cao từ
một trang trại với 7000 m2 đất đi thuê Tiến đã mở rộng phát triển
trang trại của mình gấp 2-3 lần, mở rộng nuôi trồng và thành lập
công ti để mở rộng sản xuất kinh doanh,… Bên cạnh đó, thực tế đã
chứng minh có rất nhiều sinh viên cũng tốt nghiệp trường Đại học
Nông nghiệp sau khi ra trường không có quyết tâm, ý chí, không
chịu khó tìm tòi, sáng tạo, không biết nắm bắt cơ hội,… đã không
tìm được việc làm. Và những người không có điều kiện thuận lợi,
làm ăn kém cỏi hoặc gặp rủi ro trong kinh doanh bị thua lỗ dẫn đến
phá sản trở thành nghèo khó. Cùng với đó còn có những người
không có trình độ, không được đi học đại học như anh Tiến, không


có điều kiện đầu tư trang thiết bị, không mạnh dạn quyết đoán trong

của sản xuất hàng hóa, là cơ sở của tất cả các quy luật khác của sản xuất
hàng hóa. Đối với mỗi quốc gia thì sản xuất hàng hoá luôn luôn giữ vị trí
quan trọng, đây là một trong những hoạt động có ý nghĩa quyết định đến sự
phát triển của quốc gia. Sản xuất hàng hoá thúc đẩy sự phát triển của phân
công lao động, phát triển chuyên môn hoá, tạo điều kiện phát huy lợi thế so
sánh của mỗi vùng, mỗi đơn vị sản xuất, tạo điều kiện cải tiến kỹ thuật,
nâng cao trình độ sản suất, mở rộng phạm vi sản xuất, thúc đẩy sản xuất


phát triển. Ngoài ra, sản xuất hàng hoá còn làm cho quá trình giao lưu kinh
tế văn hoá giữa các địa phương, các vùng, các nước ngày càng phát triển,
đời sống tinh thần được nâng cao, phong phú và đa dạng, tạo điều kiện cho
sự phát triển tự do độc lập của cá nhân. Những tác động của quy luật giá trị
trong nền kinh tế hàng hóa có ý nghĩa lý luận và thực tiễn to lớn. Quy luật
giá trị vừa có tác động tích cực, vừa có tác động tiêu cực. Do đó, đồng thời
với việc thúc đẩy sản xuất hàng hóa phát triển, nhà nước cần có những biện
pháp để phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của nó, đặc biệt trong
điều kiện phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng
xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay.
Do khuôn khổ bài viết có hạn nên chúng em không thể đề cập tới tất
cả khía cạnh của vấn đề. Chúng em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến
và sửa chữa của các thầy cô giáo và các bạn về bài làm của chúng em để
bài viết hoàn thiện hơn.
Chúng em xin chân thành cảm ơn!

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


1. Giáo trình những nguyên lí cơ bản của chủ nghĩa Mác- Lênin
NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội- 2009


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status