LUẬT THƯƠNG MẠI - MODUL 01- KHÓA 35
BÀI TẬP LỚN HỌC KÌ
Đề bài: TM1.HK - 8.
Bằng kiến thức lý luận và thực tiễn, hãy trình bày hiểu biết của em về sáp
nhập doanh nghiệp.
Bài làm:
MỞ ĐẦU
Sáp nhập và mua lại doanh nghiệp (Merger and Acquisition - M&A) là một
lĩnh vực tương đối mới mẻ ở Việt Nam và đang thu hút sự quan tâm của các chủ
doanh nghiệp, các nhà đầu tư, các tổ chức tài chính - ngân hàng, các quỹ đầu tư.
Theo Avalue Vietnam, trong năm 2009 tại Việt Nam ước tính có 287 giao
dịch M&A với giá trị giao dịch đạt 1,09 tỷ USD. Báo cáo của Công ty
PricewaterhouseCoopers (PwC) ngày 19/1/2009 cho biết, tổng số lượng giao dịch
M&A trong năm 2008 tại Việt Nam là 146 thương vụ, nhiều hơn 26% so với năm
2007. Các giao dịch M&A tại Việt Nam trong năm 2007 tăng nhanh nhất ở khu
vực châu Á Thái Bình Dương với 113 vụ sát nhập, tổng giá trị là 1,753 tỉ đô là Mỹ.
M&A được nhìn nhận như con đường ngắn nhất để hút vốn nước ngoài cũng như
nâng cao chất lượng đầu tư nước ngoài và quy mô của các doanh nghiệp Việt Nam.
Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và thị trường M&A có mối quan hệ biện
chứng: việc "hút" được lượng FDI nhiều hay ít phụ thuộc không nhỏ vào việc thiết
lập, vận hành và phát triển thị trường M&A, và ngược lại, thị trường M&A là "bà
đỡ" cho FDI xâm nhập nhanh nhất vào thị trường.
I.
Khái niệm về sáp nhập doanh nghiệp
Thuật ngữ “Sáp nhập doanh nghiệp” xuất hiện trong khá nhiều tài liệu trong
nước và quốc tế. Trong lý luận kinh tế chính trị, C.Mác đưa ra một khái niệm rộng
vẫn có sự khác biệt về bản chất.
Mua bán doanh nghiệp là một quá trình trong đó cổ phiếu hoặc tài sản của
một bên sẽ được chuyển giao và thuộc sở hữu của bên mua. Giao dịch mua bán
doanh nghiệp có thể tồn tại ở dạng mua tài sản hoặc mua cổ phiếu. Việc mua bán
này thường được thực hiện thông qua đấu thầu, đấu thầu rộng rãi để mua trực tiếp
cổ phiếu từ các cổ đông của bên bán.
Vậy, điểm khác biệt giữa sáp nhập và mua bán doanh nghiệp là gì? Mua bán
doanh nghiệp là một thuật ngữ chung để mô tả cách thức chuyển quyền sở hữu.
Sáp nhập lại là một thuật ngữ có nghĩa hẹp hơn, một thuật ngữ kỹ thuật để mô tả
một quy trình pháp lý đặc biệt có thể hoặc không tiếp diễn thông qua mua bán
doanh nghiệp. Ví dụ cổ đông của doanh nghiệp A và doanh nghiệp B đồng ý sáp
nhập thì việc sáp nhập sẽ bị ảnh hưởng bởi thoả thuận là cổ phiếu doanh nghiệp A
sẽ chuyển đổi sang cổ phiếu doanh nghiệp B hay là chuyển thành tiền.
Luật Thương Mại - Modul 1 – Page 2
Trên thực tế, thường thấy phổ biến các giao dịch mua bán doanh nghiệp
trong đó có thể không dẫn đến kết quả sáp nhập. Ví dụ doanh nghiệp B mua một
lượng lớn cổ phiếu của doanh nghiệp A, dù đủ lớn để biến thành một thương vụ
sáp nhập nhưng nếu bên B quyết định là bên A sẽ vẫn tồn tại riêng rẽ như một
công ty con của B thì đó không phải là sáp nhập; hoặc nếu bên B mua toàn bộ hoặc
hầu hết tài sản của bên A và thanh toán bằng tiền hoặc cổ phiếu của bên B và bên
A lúc này chỉ còn là cái vỏ bọc mà không còn hoạt động nữa và cổ đông của bên A
không thay đổi, tài sản còn lại duy nhất của bên A là tiền hoặc cổ phiếu do bên B
thanh toán.
Các dạng thức mua bán doanh nghiệp có một số đặc điểm như sau: (1) Sáp
nhập và Hợp nhất: Đơn giản về pháp lý; Không tốn kém, không cần các chuyển
nhượng về tên hiệu của doanh nghiệp; Tất cả các khoản nợ phải trả được thừa nhận
bao gồm cả những khoản tranh chấp tiềm năng; Yêu cầu 2/3 cổ đông của hai bên
nhất trí thông qua; Các cổ đông có quyền khiếu kiện để nhận được giá trị thực của
doanh nghiệp C thì sau khi liên doanh có sự tồn tại của cả ba doanh nghiệp A, B và
C.
Từ những phân tích trên đây có thể rút ra được khái niệm của sáp nhập
doanh nghiệp như sau:
“Sáp nhập doanh nghiệp theo nghĩa hẹp là giao dịch trong đó một hoặc một
số doanh nghiệp từ bỏ pháp nhân của mình để gia nhập vào một doanh nghiệp
khác. Doanh nghiệp nhận sáp nhập sẽ tiếp nhận toàn bộ tài sản, quyền, lợi ích hợp
pháp và nghĩa vụ của doanh nghiệp bị sáp nhập. Sau khi việc sáp nhập hoàn thành
doanh nghiệp bị sáp nhập sẽ chấm dứt sự tồn tại của mình. Sáp nhập theo nghĩa
rộng ngoài định nghĩa theo nghĩa hẹp còn bao gồm cả việc hai hoặc nhiều doanh
nghiệp chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình để
hình thành một doanh nghiệp mới, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của các doanh
nghiệp trước sáp nhập (sáp nhập theo nghĩa rộng bao gồm cả hợp nhất)”
II.
Các vấn đề về sáp nhập doanh nghiệp
1. Các hình thức sáp nhập doanh nghiệp
1.1. Dựa vào cấu trúc của doanh nghiệp
Có khá nhiều hình thức sáp nhập khác nhau. Dưới đây là một số hình thức
sáp nhập được phân biệt dựa vào mối quan hệ giữa hai công ty tiến hành sáp nhập:
- Sáp nhập cùng ngành (hay còn gọi là sáp nhập chiều ngang): Diễn ra đối với
hai công ty cùng cạnh tranh trực tiếp và chia sẻ cùng dòng sản phẩm và thị trường.
- Sáp nhập dọc: Diễn ra đối với các doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng như
giữa một công ty với khách hàng hoặc nhà cung cấp của công ty đó.
- Sáp nhập mở rộng thị trường: Diễn ra đối với hai công ty bán cùng loại sản
phẩm, nhưng ở những thị trường khác nhau.
- Sáp nhập mở rộng sản phẩm: Diễn ra đối với hai công ty bán những sản
phẩm khác nhau, nhưng có liên quan với nhau trong cùng một thị trường.
- Sáp nhập kiểu tập đoàn: Diễn ra khi hai công ty không có cùng lĩnh vực kinh
doanh, nhưng muốn đa dạng hóa hoạt động kinh doanh đa ngành đa nghề.
1.2. Dựa trên cách thức cơ cấu tài chính
động biết trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày thông qua;
c) Sau khi đăng ký kinh doanh, công ty bị sáp nhập chấm dứt tồn tại; công ty
nhận sáp nhập được hưởng các quyền và lợi ích hợp pháp, chịu trách nhiệm về các
khoản nợ chưa thanh toán, hợp đồng lao động và nghĩa vụ tài sản khác của công ty
bị sáp nhập.
3. Trường hợp sáp nhập mà theo đó công ty nhận sáp nhập có thị phần từ 30%
đến 50% trên thị trường liên quan thì đại điện hợp pháp của công ty thông báo cho
Luật Thương Mại - Modul 1 – Page 5
cơ quan quản lý cạnh tranh trước khi tiến hành sáp nhập, trừ trường hợp pháp luật
về cạnh tranh có quy định khác.
Cấm các trường hợp sáp nhập các công ty mà theo đó công ty nhận sáp nhập
có thị phần trên 50% trên thị trường có liên quan, trừ trường hợp pháp luật về cạnh
tranh có quy định khác.
3. Lợi ích của sáp nhập doanh nghiệp
Có vô số lý do tại sao một công ty lại chọn để sáp nhập hay bị thâu tóm bởi
một công ty khác. Đối với các công ty trong môi trường cạnh tranh khốc liệt thì
M&A có thể giúp họ chống đở được các công ty lớn hơn. Như vậy cạnh tranh thúc
đẩy M&A, và M&A càng khiến cuộc cạnh tranh gay gắt hơn. Các nghiên cứu cho
thấy có 5 động lực chính để các doanh nghiệp sát nhập và thâu tóm:
• Hợp lực thay cạnh tranh: sáp nhập giữa các công ty vốn là đối thủ sẽ làm
giảm cạnh tranh, giúp tăng hiệu quả kinh doanh. Thí dụ ngày 23/3/09 Hai công ty
năng lượng khổng lo của Canada là Suncor Energy Inc. và Petro-Canada đã thông
báo đạt được thoả thuận sáp nhập thành một tập đoàn mới với giá trị thị trường lên
tới 43,3 tỷ CAD (35 tỷ USD).
• Nâng cao hiệu quả: Thông qua M&A các công ty có thể tăng cường hiệu quả
kinh tế nhờ quy mô gộp thị phần, giảm chi phí và bổ sung tích hợp các nguồn lực
của nhau như thương hiệu, thông tin, bí quyết, dây chuyền công nghệ, cơ sở khách
hàng. Thí dụ trong giai đoạn khó khăn của ngành hàng không, Delta Air Lines
tới 90% lợi nhuận từ thị trường nội địa sau khi tiến hành mua lại Merrill Lynch với
giá 50 tỉ đô la; Trong khi đó việc Ericsson sáp nhập với Sony không chỉ tạo nên
một thương hiệu được người tiêu dùng yêu thích là Sony Ericsson mà còn giúp
Ericsson đối đầu với đối thủ hung mạnh là Nokia; Còn với hãng xe hơi Fiat của Ý
đã xâm nhập thị trường Mĩ một cách dễ dàng và thành công sau khi tiến hành sáp
nhập với hãng Chrysler của Mĩ; Tại Việt Nam hoạt động mua bán sáp nhập doanh
nghiệp với những thương vụ đình đám như Viettel &Vinaconex, HSBC& Tập
đoàn Bảo Việt; Pomina & Thép Việt, ICP & Thuận Phát …
4. Khó khăn khi sáp nhập doanh nghiệp
Thiệt thòi trong những thương vụ M&A chính là những người mua. Thông
thường sau khi thông báo về kế hoạch mua, giá cổ phiếu các công ty bắt đầu giảm
xuống (đây là thước đo cho thấy rằng thị trường thường coi việc sáp nhập là sai
lầm). “Phần thưởng” của thị trường dành cho cổ đông công ty mục tiêu lớn bao
nhiêu thì giá cổ phiếu của công ty sáp nhập giảm bấy nhiêu, và như vậy thiệt hại
của cổ đông là không thể nào đo lường được. Như đã đề cập ở trên, công ty sáp
nhập thường phải chi trả số tiền lớn hơn nhiều so với giá trị thực của công ty mà nó
thôn tính. Thêm vào đó có rất nhiều rủi ro và bất trắc tiềm ẩn trong một vụ sáp
nhập. Dưới đây là một số những khó khăn mà công ty sáp nhập có thể gặp phải:
- Những thay đổi bất thường trong quá trình sáp nhập: Sự khác biệt về văn
hóa công ty, văn hóa không hài hòa dẫn đến mâu thuẫn nội bộ;
- Giảm năng suất vì những xung đột trong ban quản trị;
Luật Thương Mại - Modul 1 – Page 7
- Gánh thêm các khoản nợ và các chi phí khác liên quan đến hoạt động sáp
nhập;
- Các vấn đề về mặt kế toán có thể ảnh hưởng đến tình hình tài chính của công
ty sáp nhập, ví dụ như chi phí tái cấu trúc-tổ chức, hay các vấn đề có liên
quan đến uy tín, thương hiệu công ty…;
- Mâu thuẫn về quyền lợi giữa các cá nhân, bộ phận…Sự ra đi của các nhân
Luật Thương Mại - Modul 1 – Page 8
bàn là tốt nhất thì không có nghĩa là anh ta sẽ làm được đồ chơi loại tốt. Cần phải
làm những việc mà mình biết làm. Việc chuyển đổi hoạt động thường làm phân tán
sự tập trung của những người điều hành”.
Như vậy, khi một công ty sáp nhập với một công ty khác thì chúng ta luôn có
khả năng sẽ dự đoán được những tác động ngắn hạn của sáp nhập đối với giá cổ
phiếu của cả hai công ty. Thông thường cổ phiếu của công ty tiến hành sáp nhập sẽ
giảm và giá cổ phiếu của công ty mục tiêu sẽ tăng. Tất nhiên đây chỉ là nhận xét
chủ quan, ngoài ra vẫn có những ngoại lệ. Nếu như một vụ sáp nhập tiến hành trơn
tru thì viễn cảnh với công ty sáp nhập là hoàn toàn sáng sủa.
5. Mối quan hệ giữa Mua bán và Sáp nhập doanh nghiệp
5.1. Nguyên lý của M&A (Sáp nhập và mua lại)
Một cộng một bằng ba: phương trình này là động lực đặc biệt cho một
thương vụ mua bán và sáp nhập. Nguyên tắc then chốt đằng sau việc mua một
công ty là nhằm tăng giá trị lớn hơn nhiều lần cho cổ đông chứ không chỉ là tổng
của hai công ty.
Nói cách khác, hai công ty Sáp nhập cùng nhau sẽ có giá trị lớn hơn hai
công ty riêng lẻ - và ít nhất nó cũng là lý do đằng sau mua bán và sáp nhập.
Nguyên lý này đặc biệt hữu ích khi các công ty rơi vào những thời kỳ khó khăn do
cạnh tranh, thị trường hay bất kỳ yếu tố nào. Những công ty lớn sẽ mua lại các
công ty khác nhằm tạo nên một công ty mới có sức cạnh tranh hơn và giảm thiểu
chi phí. Các công ty sau khi M&A sẽ có cơ hội mở rộng thị phần lớn hơn và đạt
được hiệu quả kinh doanh tốt hơn. Những công ty nhỏ là đối tượng bị mua cũng
sẵn sàng để công ty khác mua vì như vậy sẽ tốt hơn nhiều là bị phá sản hoặc rất
khó khăn tồn tại trên thị trường.
5.2. Sự khác nhau giữa Mua bán và Sáp nhập
Mặc dù mua bán và sáp nhập thường được đề cập cùng nhau với thuật ngữ
quốc tế phổ biến là “M&A” nhưng hai thuật ngữ mua bán và Sáp nhập vẫn có sự
nghiệp mới (sau khi sáp nhập) được nâng cao. Lợi ích mà các doanh nghiệp kỳ
vọng sau mỗi thương vụ M&A bao gồm:
- Giảm nhân viên: nói chung sáp nhập doanh nghiệp thường có khuynh hướng
giảm việc làm. Hai hệ thống sáp nhập lại sẽ làm giảm nhiều công việc gián tiếp, ví
dụ các công việc văn phòng, tài chính kế toán hay marketing… Việc giảm thiểu vị
trí công việc cũng đồng thời với đòi hỏi tăng năng suất lao động. Đây cũng là dịp
tốt để các doanh nghiệp sa thải những vị trí làm việc kém hiệu quả.
- Đạt được hiệu quả dựa vào quy mô: Một doanh nghiệp lớn lúc nào cũng có
thế hơn khi giao dịch với các đối tác, kể cả mua văn phòng phẩm hay một hệ thống
IT phức tạp thì công ty lớn vẫn có ưu thế khi đàm phán hơn là so với công ty nhỏ.
Mặt khác, quy mô lớn cũng giúp giảm thiểu chi phí.
- Trang bị công nghệ mới: Để duy trì cạnh tranh, các công ty luôn cần vị trí
đỉnh cao của phát triển kỹ thuật và công nghệ. Thông qua việc mua bán hoặc sáp
nhập, công ty mới có thể tận dụng công nghệ của nhau để tạo lợi thế cạnh tranh.
- Tăng cường thị phần và danh tiếng trong ngành: Một trong những mục tiêu
của mua bán & sáp nhập là nhằm mở rộng thị trường mới, tăng trưởng doanh thu
và thu nhập. Sáp nhập cho phép mở rộng các kênh marketing và hệ thống phân
Luật Thương Mại - Modul 1 – Page 10
phối. Bên cạnh đó, vị thế của công ty mới sau khi sáp nhập sẽ tăng lên trong mắt
cộng đồng đầu tư: công ty lớn hơn có lợi thế hơn và có khả năng tăng vốn dễ dàng
hơn một công ty nhỏ.
Trên thực tế, đạt được sự cộng hưởng thường khó hơn người ta tưởng - nó
không tự đến khi hai công ty sáp nhập. Đương nhiên khi hai công ty sáp nhập dễ
nhìn thấy khả năng đạt được lợi thế quy mô nhưng đôi khi nó lại có hiệu ứng
ngược lại. Trong nhiều trường hợp, một cộng một lại nhỏ hơn hai. Do đó, việc
phân tích chính xác mức độ cộng hưởng trước khi tiến hành những thương vụ
M&A rất quan trọng. Khá nhiều nhà quản lý doanh nghiệp đã cố tình vẽ ra bức
tranh cộng hưởng để tiến hành các vụ M&A nhằm trục lợi từ việc định giá doanh
nơi mà tài sản quan trọng nhất là con người và phương thức dựa trên ý tưởng là
chính.
- Phương pháp chiết khấu dòng tiền (DCF): Đây là một công cụ định giá quan
trong trong mua bán và sáp nhập. Mục đích của DCF là xác định giá trị hiện tại của
công ty dựa trên ước tính dòng tiền mặt trong tương lai. Dòng tiền mặt ước tính
(được tính bằng công thức “Lợi nhuận + khấu hao - chi phí vốn - thay đổi vốn lưu
thông”) được chiết khấu đến giá trị hiên tại có tính đến trọng số trung bình vốn của
công ty (WACC). Tất nhiên DCF cũng có những hạn chế nhất định nhưng rất ít có
công cụ nào có thể cạnh tranh được với phương thức định giá này về mặt phương
pháp luận.
III.
M&A ở trên thế giới và ở Việt Nam, Xu hướng M&A trong những
năm tới
1 M&A thế giới
Trên thế giới, các hoạt động M&A đã trải qua nhiều thăng trầm. Hơn 100
năm qua, Hoa Kỳ đã chứng kiến 5 chu kỳđỉnh cao của hoạt động sáp nhập công ty:
đó là các năm 1895-1905, 1925-1929, 1965-1970, 1980-1985 và 1998-2000. Làn
sóng M&A diễn ra mạnh mẽ và song hành với những giai đoạn kinh tế tăng trưởng
nóng. Đó là thời điểm ban quản trị của các công ty liên tục hoạt động dưới sức ép
cạnh tranh rất lớn từ thị trường. Khái niệm tăng trưởng lợi nhuận và mở rộng hoạt
động thông qua M&A đồng nghĩa với sự tồn tại của công ty nói chung, cũng như
địa vị của chính họ ở các công ty này nói riêng.
Bước vào thế kỷ XXI, nền kinh tế thế giới tiếp tục chứng kiến một làn sóng
M&A mới, dưới những hình thức đa dạng và quy mô lớn chưa từng có. Đợt sóng
này không chỉ bó hẹp trong phạm vi các nền kinh tế phát triển mà còn lan tỏa sáng
các nền kinh tế mới nổi và đang phát triển như Hàn Quốc, Singapore, Nga, Ấn Độ,
Trung Quốc, Trung Đông... Năm 2006, tổng giá trị M&A toàn cầu đạt mức cao kỷ
lục, 3460 tỷđô la Mỹ (USD). Còn trong 5 tháng đầu năm nay, thị trường mua bán
sáp nhập công ty trên thế giới đã đạt trị giá 2000 tỷ USD (trung bình 93 tỷ/tuần),
gam đây, xuất hiện nhiều trang web phục vụ mua bán doanh nghiệp cũng như
nhiều công ty luật tư vấn trong lĩnh vực này. Tuy nhiên nếu so với thế giới thì các
thương vụ M&A của VN còn quá thấp, và không có xu hướng tăng như kỳ vọng
của các nhà phân tích, so với Trung Quốc chỉ riêng ngành bán lẻ trong năm 2005
họat động M&A có tổng giá trị khoảng 52,2 tỉ USD, gấp 100 lần hoạt động M&A
năm 2008 của VN.
Có nhiều lý giải cho việc quy mô M&A của Việt Nam còn khá èo uột như
hành lang pháp lý, tập quán văn hóa, thiếu vắng ngân hàng đầu tư để hỗ trợ. Tuy
nhiên, nguyên nhân cốt cán là do nền kinh tế thị trường vẫn còn hạn chế và thị
trường chứng khoán chưa vượt qua khỏi giai đọan “miền tây hoang dã” với nhiều
bất ổn.
Trong việc mua bán, sáp nhập doanh nghiệp thì công nghệ – thương hiệu –
thị phần là 3 yếu tố quan trọng. Hiện nay yếu tố thương hiệu và công nghệ của Việt
Nam chưa được pháp luật bảo vệ đúng mức. Vấn nạn hàng gian – hàng giả đang
làm đau đầu các doanh nghiệp, còn công nghệ thì gần như là trận địa bỏ trống
Luật Thương Mại - Modul 1 – Page 13
trong bảo vệ bản quyền. Đối với thị phần tại VN, chỉ có những công ty quy mô lớn
thì mới có ý nghĩa, còn các công ty nhỏ thì thị phần rất bất ổn, khó xác định. Như
vậy những giá trị tạo lên động lực chính của M&A tại Việt Nam còn rất yếu, khiến
cho họat động M&A hiện nay chủ yếu là mua lại tài sản của doanh nghiệp.
Một nguyên nhân rất cần suy ngẫm cho họat động M&A còn ít được chọn
lựa là các doanh nghiệp lớn đang có xu thế phát triển thành tập đoàn theo cách liên
tục lập công ty mới ở nhiều lĩnh vực. Điều này trái ngược với tiến trình phát triển
của các tập đòan nước ngòai chủ yếu là mua lại các công ty trong những ngành họ
quan tâm. Việc lập công ty mới có nhiều bất lợi hơn mua lại công ty đang họat
động ở các điểm phải mất một thời gian mới hòan thiện sản phẩm và thâm nhập thị
trường, cũng như phải tuyển chọn và huấn luyện đội ngủ nhân sự mới. Tuy nhiên
lập công ty mới có thể đem lại quyền lợi cho Hội đồng quản trị và Ban điều hành
thị trường, thì việc cổ phần hóa các doanh nghiệp Nhà nước- một dạng của M&A
sẽ ngày càng tăng và đóng vị trí quan trọng trong chiến lược kinh tế của Nhà nước.
Tuy nhiên, trên thực tế hiện nay hoạt động này tạo ra những doanh nghiệp
có khả năng thâu tóm thị phần trên thị trường và tạo ra những cạnh tranh không
bình đẳng. Về vấn đề này ông Trần Duy Hưng, Giám đốc công ty First Asia Ltd
khẳng định :“M&A là hình thức đầu tư chéo giữa các doanh nghiệp đang ngày
càng phổ biến dưới phương thức “đối tác chiến lược” mà thực chất đó là một dạng
của tập chung kinh tế”.
KẾT LUẬN
Trong bối cảnh suy thoái chung hiện tại, M&A là một xu thế tất yếu và là
một hoạt động cần được được chú ý điều tiết với khung pháp lý rõ ràng, đáp ứng
mong mỏi của các nhà đầu tư nước ngoài. Hoạt động M&A đã có “thâm niên” trên
thế giới nhưng còn rất non trẻ ở Việt Nam. Vấn đề đặt ra là tiếp tục nghiên cứu
từng nội dung cụ thể trong quy trình M&A để vận dụng phù hợp với thực tiễn Việt
Nam.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
/> /> /> /> /> />spx
/>Luật Thương Mại - Modul 1 – Page 15
/>%E1%BB%87p-ai-d%C6%B0%E1%BB%A3c-ai-m%E1%BA%A5t/
/>
MỤC LỤC
I
II
1
1.1
1.2
2
Trang
1
1
4
5
5
6
7
9
9
10
11
12
13
14
KẾT LUẬN
Luật Thương Mại - Modul 1 – Page 17
15