Nghĩa vụ và quyền của bố dượng, mẹ kế và con riêng của vợ hoặc của chồng - Pdf 34

I. Lý thuyết.
1.Nam tròn 20 tuổi, nữ tròn 18 tuổi trở lên mới được đăng kí kết hôn.
SAI: Chỉ cần Nam đang ở tuổi hai mươi (19 tuổi + 1 ngày), nữ đang ở tuổi mười
tám(17 tuổi + 1 ngày) là đã đủ điều kiện về tuổi kết hôn. Đ.9 LHN
2. Mọi trường hợp nam, nữ chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì
ko được pháp luật thừa nhận là vợ chồng. SAI: Quan hệ vợ chồng được xác lập trước
ngày 03/01/1987 nếu chưa đăng ký kết hôn mà chung sống với nhau như vợ chồng thì
vẫn được pháp luật công nhận là vợ chồng và chỉ khuyến khích chứ không bắt buộc
đăng ký kết hôn. NQ.35
3. Những giao dịch lien quan đến tài sản chung có giá trị lớn của vợ chồng do 1 bên
vợ hoặc chồng thực hiện luôn bị coi là vô hiệu.
SAI: Giao dịch đối với tài sản chung nhưng đã được chia để đầu tư kinh doanh riêng
theo qui định tại khỏan 1 Điều 29 vẫn có thể do 1 bên xác lập thực hiện.
4.Khi vợ hoặc chồng thực hiện những giao dịch phục vụ cho nhu cầu thiết yếu của gia
đình mà không có sự đồng ý của bên kia thì người thực hiện giao dịch đó phải thanh
toán bằng tài sản riêng của mình.
SAI: Đối với những giao dịch phục vụ cho nhu cầu thiết yếu của gia đình do 1 bên thực
hiện mà không có sự đồng ý của bên kia thì TS chung của vợ chồng sẽ được chi dùng
để thanh tóan. Đ.25
5.Quan hệ nuôi con nuôi chỉ chấm dứt khi có sự thoả thuận của cha mẹ nuôi và con
nuôi.
SAI: Quan hệ nuôi con nuôi còn được TA ra quyết định chấm dứt khi con nuôi bị kết
án theo qui định tại khỏan 2 Điều 76 hoặc trong trường hợp cha mẹ nuôi đã có các
hành vi qui định tại khỏan 3 Điều 67 hoặc khỏan 5 Điều 69.
6. Những trường hợp nam nữ chung sống như vợ chồng là kết hôn trái pháp luật.
SAI: Kết hôn trái pháp luật là việc xác lập quan hệ vợ chồng có đăng ký kết hôn nhưng
vi phạm điều kiện kết hôn do PL qui định. Đ.9(a.2 k1 NQ02/2000)


7. Người đang có vợ có chồng mà chung sống như cợ chồng với người khác là kết hôn
trái pháp luật.

2. Con riêng có nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng bố dượng, mẹ kế cùng
sống chung với mình theo quy định tại Điều 35 và Điều 36 của Luật này.
3. Bố dượng, mẹ kế và con riêng của vợ hoặc của chồng không được ngược đãi,
hành hạ, xúc phạm nhau.”
13. Con riêng và bố dượng mẹ kế có tất cả các quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ và con
khi cùng chung sống với nhau.
ĐÚNG: Theo qui định tại các điều từ 34 đến 38.
14. Tài sản chung của vợ chồng nếu phải đăng kí quyền sở hữu thì phải đăng kí tên của
hai vợ chồng, do đó tài sản nào đứng tên 1 bên vợ hoặc chồng sẽ là tài sản riêng của
người đó.
SAI: Tài sản đứng tên 1 bên vợ hoặc chồng nhưng không có chứng cứ chứng minh tài
sản đó là tài sản riêng của bên đó thì tài sản đó vẫn là tài sản chung. K3 D. 5 NĐ 70/CP
15. Đơn xin ly hôn bắt buộc phải có chữ kí của cả vợ và chồng.
SAI: Trường hợp ly hôn theo yêu cầu của một bên thì đơn xin ly hôn chỉ cần có chữ ký
của một bên.
16. Việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân chỉ được đặt ra khi vợ
chồng không thoả thuận được việc dùng tài sản chung để thực hiện nghĩa vụ riêng về
tài sản của một bên vợ hoặc chồng.
SAI: Việc thỏa thuận phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân còn


được đặt ra trong trường hợp vợ chồng có nhu cầu đầu tư kinh doanh riêng.Đ.29
17. Khi vợ hoặc chồng bị toà án tuyên bố mất tích bằng 1 quyết định co hiệu lực pháp
luật thì quan hệ vợ chồng sẽ chấm dứt.
SAI: Quan hệ hôn nhân trong trường hợp này chỉ thực sự chấm dứt khi yêu cầu xin ly
hôn của người có vợ hoặc chồng đã bị tòa án tuyên bố mất tích trước đó được tòa án
công nhận bằng một quyết định độc lập. K2.Đ78 LDS2005
18. Sự thoả thuận giữa con nuôi từ 9 tuổi trở lên với cha mẹ nuôi là một trong những
căn cứ để quan hệ nuôi con nuôi chấm dứt.
SAI: Chỉ có thỏa thuận giữa cha mẹ nuôi và con nuôi đã thành niên mới là một trong

với gia đình cha mẹ đẻ.
SAI: Khi được cho đi làm con nuôi người khác thì nguời con đó vẫn được PL đảm bảo
quyền thừa kế đối với cha mẹ đẻ.d74
27. Thuận tình ly hôn ko cần phải thông qua thủ tục hoà giải.
SAI: Hòa giải tại tòa án là thủ tục bắt buộc trong trường hợp có tranh chấp TS chung
hoặc con chung. d88
28. Tài sản chung của vợ chồng là tài sản có trong thời kì hôn nhân.
SAI: Còn có thể là các tài sản riêng có trước thời kỳ hôn nhân nhưng được nhập vào
khối tài sản chung.
Khoản 1.đều 27. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu
nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác


của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc
được tặng cho chung và những tài sản khác mà vợ chồng thoả thuận là tài sản chung.
29. Mọi tài sản mà vợ hoặc chồng tạo dựng trong thời kỳ hôn nhân đều là tài sản
chung.
Sai/ Vì khi vợ chồng đã chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân thì tài sản tạo dựng
trong thời kỳ hôn nhân từ số tài sản đã chia sẽ thuộc sở hữu riêng của mỗi người
30. Trường hợp vợ chồng thực sự tự nguyện ly hôn, đã thoả thuận được về việc
chia tài sản và nuôi dưỡng con cái thì Toà án phải chấp nhận cho ly hôn.
Sai/ Trường hợp người vợ đang còn mang thai hoặc đang nuôi con nhỏ dưới 12
tháng tuổi thì không được ly hôn. Trong trường hợp này người chồng bị hạn chế do
luật định (khoản 2, điều 85 Luật HNGĐ). Nếu có thể chỉ là người vợ đứng tên xin ly
hôn thì Tòa án mới thụ lý vụ việc
31. Tài sản thuộc sở hữu riêng của một bên vợ hoặc chồng thì người đó có toàn
quyền định đoạt không phụ thuộc ý chí của bên còn lại.
Sai/ Khoản,đ33. Luat HNGĐ:Trong trường hợp tài sản riêng của vợ hoặc chồng đã
được đưa vào sử dụng chung mà hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng đó là nguồn sống duy
nhất của gia đình thì việc định đoạt tài sản riêng đó phải được sự thoả thuận của cả vợ

hoặc phải có công chứng, chứng thực)”. Ở đây đề bài chỉ nói là “A nói với B” nên coi
như thỏa thuận với nội dung “lương của B sẽ chi tiêu cho gia đình còn A kinh doanh để
tích lũy cho gia đình” không được xem là “thỏa thuận của vợ chồng”. Như vậy, đối
chiếu với qui định tại khoản 2 Điều 8 NĐ70/2001 thì số lương 5 triệu/tháng của B vẫn
là tài sản riêng của B. Cũng thế, theo khoản 1 Điều 8 NĐ70/2001 thì: “Hoa lợi, lợi tức
phát sinh từ tài sản đã được chia thì thuộc sở hữu riêng của mỗi người, trừ trường hợp
vợ chồng có thỏa thuận khác bằng văn bản”. Do vậy, số tiền thu được từ việc A kinh
doanh từ tài sản riêng của mình (sau 3 năm là 200 triệu) vẫn là tài sản riêng của A bởi
lẽ hai người không có thỏa thuận nào khác bằng văn bản. Số tiền này nếu A không
đồng ý nhập vào khối tài sản chung của 2 người thì mặc nhiên nó vẫn là tài sản riêng
của A và A có toàn quyền định đoạt, muốn làm gì thì làm, muốn cho ai thì cho (không
vi phạm khoản 5 Điều 33 do hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng không phải là nguồn sống
duy nhất của gia đình do đó A có quyền định đọat mà không cần hỏi ý kiến B). Việc B


phát hiện mối quan hệ bất chính của A và yêu cầu tòa cho ly hôn là có cơ sở và phù
hợp các qui định của PL. Tuy nhiên việc B yêu cầu “đòi lại số tài sản đã có” là không
có cơ sở. Ở đây B không thể “đòi lại số tài sản đã có” mà B chỉ có thể đòi lại những tài
sản nào là “tài sản riêng” của mình đồng thời yêu cầu tòa phân định “phần tài sản mà
mình được chia trong khối tài sản chung của vợ chồng” mà thôi. Theo Điều 95 về
nguyên tắc chia tài sản khi ly hôn thì khi phân xử, tòa án phải bảo đảm 2 nguyên tắc :
(1) “Tài sản riêng của bên nào thì thuộc quyền sở hữu của bên đó” (khoản 1 Điều 95);
(2) Tài sản chung được giải quyết theo nguyên tắc tôn trọng thỏa thuận của các bên,
nếu không thỏa thuận được thì trên nguyên tắc sẽ chia đôi nhưng có xem xét hoàn cảnh
của mỗi bên, công sức đóng góp của mỗi bên, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
vợ, con chưa thành niên (khoản 2 Điều 95). Như vậy, khi phân xử, tòa sẽ áp dụng
nguyên tắc (1) để công nhận những tài sản nào là tài sản riêng của B và chúng phải
thuộc về B. Dĩ nhiên là B có quyền yêu cầu tòa công nhận số lương 5 triệu/tháng (có
được sau thời điểm phân chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ HN) là tài sản riêng
của B (áp dụng khoản 2 Điều 8 NĐ70/2001) như đã phân tích ở trên. Đối với khối tài

gia đình năm 2000 có hiệu lực) mà có đủ điều kiện kết hôn, nhưng chưa đăng ký kết
hôn và đang chung sống với nhau như vợ chồng, thì theo quy định tại điểm b khoản 3
Nghị quyết số 35 của Quốc hội họ có nghĩa vụ đăng ký kết hôn kể từ ngày 01/01/2001
cho đến ngày 01/01/2003; do đó, cần phân biệt như sau:
a. Kể từ ngày 01/01/2001 cho đến ngày 01/01/2003 nếu họ chưa đăng ký kết hôn
hoặc đã đăng ký kết hôn mà họ có yêu cầu ly hôn, thì Toà án thụ lý vụ án và áp dụng
quy định về ly hôn của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết vụ án ly hôn
theo thủ tục chung. Cần chú ý trong trường hợp họ thực hiện việc đăng ký kết hôn theo
quy định tại điểm b khoản 3 Nghị quyết số 35 của Quốc hội, thì quan hệ của họ vẫn
được công nhận là đã xác lập kể từ ngày họ bắt đầu chung sống với nhau như vợ
chồng, chứ không phải kể từ ngày đăng ký kết hôn.
Việc đăng ký kết hôn theo quy định tại điểm b khoản 3 Nghị quyết số 35 của Quốc
hội do Bộ Tư pháp hướng dẫn.
b. Kể từ sau ngày 01/01/2003 mà họ không đăng ký kết hôn, thì theo quy định tại
điểm b khoản 3 Nghị quyết số 35 của Quốc hội họ không được công nhận là vợ chồng;
nếu một bên hoặc cả hai bên có yêu cầu ly hôn, thì Toà án thụ lý vụ án để giải quyết và


áp dụng điểm b khoản 3 Nghị quyết số 35 của Quốc hội, khoản 1 Điều 11 Luật hôn
nhân và gia đình năm 2000, bằng bản án tuyên bố không công nhận họ là vợ chồng;
nếu họ có yêu cầu về nuôi con và chia tài sản, thì Toà án áp dụng khoản 2 và khoản 3
Điều 17 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết theo thủ tục chung.
Theo lý luận trên Tòa án giải quyết ly hôn giữa T & H (bằng bản án tuyên bố không
công nhận họ là vợ chồng) là đúng( theo điểm b, k1, TT01và theo c.1 NQ02/2000
HDTP), dù rằng T & H đáng lẽ ra phải có nghĩa vụ đăng ký kết hôn, vì như thế sẽ đảm
bảo quyền lợi chính đáng cho 2 con của họ ( NQ02/2000HĐTP).Tuy nhiên trong lúc
chờ giải quyết vụ việc thì T đăng ký kết hôn với X. Việc đăng ký kết hôn này đã vi
phạm khoản 1, điều 10 LHNGĐ. Tòa án sẽ tuyên bố hủy bỏ hôn nhân giữa T & M. Sau
khi giải quyết ly hôn xong giữa T và H ( có bản án của Tòa án giựa T & H có hiệu lực
pháp lý) thì T mới được đăng ký kết hôn với M.

nhân là con chung. => D là con chung của BC theonguyen tac suy doan phap ly.
2/ Xét về thực tế, NN thường tôn trọng HN đang tồn tại tại thời điểm con được sinh ra
nên suy đoán người chồng sau là cha của đưa trẻ ( tên người chồng sau sẽ được ghi vào
phần họ tên người cha trong giấy khai sinh của trẻ – trừ trường hợp người chồng sau
không chấp nhận và chứng minh được anh ta không phải là cha mà là người chồng
trước thì có thể xác định lại theo thủ tục tố tụng .
Nếu có tranh chấp và có yêu cầu TAND giải quyết thì XD ai là cha của cháu D, phụ
thuộc vào bản án, quyết định có hiệu lực của Tòa án .Việc xác định gen ADN không
bắt buộc trong tố tụng mà phụ thuộc vào sự tự nguyên của A và C.
3. Tháng 5/1995, anh A kết hôn cùng chị B. Tháng 9/1997, do mâu thuẫn, hai bên
quyết định ly thân và chia đôi TS chung là 8 chỉ vàng (Thỏa thuận được chính quyền
địa phương công nhận). Ngay sau đó, chị B bỏ về nhà mẹ đẻ sống. Tháng 6/2000, chị
B sinh một cháu trai nhưng không đăng ký khai sinh và cũng không nói rõ bố cháu là
ai. Cuối năm 2001, anh A nộp đơn xin ly hôn chị B.
Trong khi việc ly hôn chưa được giải quyết thì ngày 02. 06. 2002, anh A đột tử do tai
nạn giao thông. Sau khi A chết, gia đình A bất ngờ phát hiện 5 tờ vé số trúng độc đắc
trị giá 255 triệu do A mua trước đó mà chưa kịp lĩnh. Cùng lúc, chị B khi nghe tin liền
yêu cầu gia đình A chia cho mẹ con chị toàn bộ số tiền trúng thưởng mà anh để lại


(Cha, mẹ anh A đã mất và lúc này chị B cũng đã tiến hành đăng ký khai sinh cho cháu
bé với tên gọi là Nguyễn Văn C, tên cha là Nguyễn Văn A). Song, người thân thích của
anh A phản đối vì theo họ, A và B đã chia TS chung và trên thực tế, họ cũng đã ly
thân, không còn quan hệ vợ chồng. Trước tình thế đó, chị B khởi kiện ra Tòa yêu cầu
được bảo vệ quyền lợi.
Trên cơ sở PL, hãy xác định chủ sở hữu số tiền 255 triêu tranh chấp trên? Theo bạn,
chị B và con có được hưởng di sản thừa kế của anh A không , vì sao?
Trả lời:
a. 1// Đã chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân. Đ30 + Đ8 NĐ 70: về hậu quả TS
sau khi chia: thu nhập hợp pháp của mỗi bên sau khi chia TSC là TS rieng ( tiên tso la

hon: cua ai nguoi do nhan ve , chung:chia theo cs dong gop
6.Anh T và chị H được gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán từ ngày
1/10/1988 (không có đăng ký kết hôn). Trong lễ cưới, cha mẹ anh T tuyên bố cho chị
H một sợi dây chuyền (5 chỉ vàng). Hai năm sau, cha mẹ anh T cho vợ chồng anh
mảnh đất 150m2 để làm nhà và hai người đã cùng đứng tên chủ quyền mảnh đất này.
Cuộc sống gia đình hạnh phúc, hai anh chị đã có các con chung là cháu M (1990) và
cháu N (1994). Đến cuối năm 2007, giữa hai người phát sinh mâu thuẫn. Ngày
12/10/2008, anh T đã làm đơn xin ly hôn gửi đến Toà án (Toà đã thụ lý). Trong thời
gian chờ giải quyết vụ việc, ngày 15/10/2008, anh T đã kết hôn với chị X (có đăng ký
kết hôn).
- Toà án sẽ giải quyết vụ việc như thế nào (chia tài sản và con chung) ? Tại sao?
- Chị H có đơn yêu cầu Toà án huỷ việc kết hôn trái pháp luật giữa anh T và chị X. Toà
án sẽ xử lý yêu cầu này ra sao?
Trả lời:
1. CHIA TS; KHÔNG CONG NHAN TH LA VC: CHIA NHU HUY HON D 17;
DAY CHUYEN: H; QUYEN SU DUNG DAT: CHIA DOI,
CON: N DUOC CAP DUONG, AI O TRUC TIEP NUOI PHAI CAP DUONG;
2. KHÔNG HUY VI KHÔNG VI PHAM – ANH T DUOC COI NHU NGUOI CHUA
CO VO ( Nếu như trong khoảng thời gian từ 01/01/2001 đến 01/01/2003 anh chị đi


đăng ký kết hôn thì toà án sẽ công nhận quan hệ vợ chông từ thời điểm anh chị chung
sống với nhau. Sau ngày 01/01/2003 thì đăng ký lúc nào công nhận từ thời điểm đang
ký. Ở đây, do anh T và chị H không đăng ký nên không được coi là vợ chồng nên anh
T và chị X kết hôn sẽ không bị huỷ kết hôn trái pháp luật do một bên đang có vợ có
chông ).
7.Anh A và chị B kết hôn năm 1995. Năm 5 sau kết hôn, hai vợ chồng đã tích góp mua
được một ngôi nhà diện tích 70 m2 và có một con chung là N ( sinh năm 2000 ). Năm
2002, anh A chết đột ngột do tai nạn giao thông.
Sau khi anh A chết, chị B và con vẫn tiếp tục ở tại ngôi nhà này. Vì không còn khả

tỉnh Q. Sau đó, TAND tỉnh xử chấp nhận yêu cầu được trực tiếp nuôi con của anh S.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng, bản án phúc thẩm tuyên chị T. không phải cấp dưỡng nuôi
con. Các quyết định còn lại của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị vẫn
được giữ nguyên. Do vậy, theo bản án này, cơ quan THA vẫn phải thi hành bản án sơ
thẩm năm 2006 tuyên anh S. cấp dưỡng 100 triệu đồng cho con.
Anh ( chị ) nhận xét như thế nào về phán quyết trên của Tòa phúc thẩm Tòa án thành
phố Q ?
Trả lời::
Khoản 4 Điều 61: người cấp dưỡng đã trực tiếp nuôi người được cấp dưỡng thì nghĩa
vụ cấp dưỡng được chấm dứt. Trong vụ này, Tòa án chỉ cứng nhắc chỉ xem xét phần
kháng cáo của đương sự về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con mà không xác định
lại trách nhiệm cấp dưỡng ( bỏ sót phần cấp dưỡng do đương sự không yêu cầu ). L ẽ
ra khi thụ lý đơn, Tòa phải giải thích và hướng dẫn để đương sự bổ sung phần kháng
cáo để quyết định của tòa hợp lý, toàn diện hơn




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status