Tập đề thi chọn học sinh giỏi lớp 9 môn ngữ văn kèm đáp án chi tiết là tài liệu mới
nhất hữu ích cho bồi dưỡng học sinh giỏi bộ môn. Chúc các em học sinh thi đạt kết
quả cao nhất.
UBND HUYỆN .............
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐỀ THI CHỌN HỌC SINH GIỎI CÁP HUYỆN ĐỢT 1
Năm học .............
Môn thi: Ngữ văn - Lớp 9
Thời gian làm bài;150 phút (không kể thời gian giao đề)
Câu 1: (2điểm)
Phân tích tác dụng biện pháp tu từ trong hai câu thơ sau:
“Biển cho ta cá như lòng mẹ
Nuôi lớn đời ta tự thuở nào’’
( Đoàn thuyền đánh cá - Huy Cận)
Câu 2: (2 điểm)
Cảm nhận của em về đoạn thơ sau đây trong bài Ánh trăng của Nguyễn Duy:
Ngửa mặt lên nhìn mặt
có cái gì rưng rưng
như là đồng là bể
như là sông là rừng
Trăng cứ tròn vành vạnh
kể chi người vô tình
ánh trăng im phăng phắc
đủ cho ta giật mình.
( SGK Ngữ văn 9, tập một)
Câu 3 (6 điểm)
Nghệ thuật miêu tả nhân vật trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du ( Dựa vào các
đoạn trích đã học và đoạn trích Mã Giám Sinh mua Kiều).
Hai câu thơ là sự cảm nhận về sự gắn bó của biển với
con người.
+ Phép so sánh diễn tả tấm lòng rộng lớn, bao dung của
biển khơi đối với con người như tấm long của mẹ dành
cho những đứa con; biển luôn mang đến cho con người
những gì biển có vô tận.
+ Phép nhân hóa diễn tả vai trò của biển đối với con
người, mối quan hệ hài hòa giữa thiên nhiên với con
người.
Điểm
1đ
1đ
* Cách cho điểm: Thí sinh trình bày được các ý như trên, diễn đạt mạch lạc, không
mắc lỗi nghiêm trọng về dùng từ, viết câu cho 2 điểm. Giám khảo căn cứ vào mức độ
đạt yêu cầu của thí sinh để cho các điểm dưới 2
Câu 2: (2 điểm)
Nội dung cơ bản của câu này là yêu cầu học sinh trình bày được những cảm xúc
chân thành và những suy nghĩ sâu sắc của bản thân về giá trị nội dung và nghệ thuật của
đoạn thơ, từ đó rút ra bài học về đạo lí làm người cho bản thân. Mạch bài làm cho câu
này có thể như sau:
ý/Phần
Đáp án
* Lưu ý: Khi cho điểm giáo viên cần trân trọng những cảm nhận tinh tế. cách viết sáng
tạo của học sinh để cho điểm phù hợp.
* Yêu cầu về kĩ năng: - Học sinh nhận thức đúng yêu cầu của đề về kiểu bài, nội dung,
giới hạn.
- Biết cách làm bài nghị luận văn học: bố cục rõ ràng, lập luận chặt chẽ; diễn đạt trong
sáng, biểu cảm; không mắc lỗi chính tả, dùng từ, viết câu.
* Yêu cầu về kiến thức:
ý/Phần
a. Mở bài
Đáp án
- Giới thiệu tác giả Nguyễn Du, dẫn đến tác phẩm
“Truyện Kiều”.
- Đánh giá khái quát tài năng nghệ thuật miêu tả
nhân vật của Nguyễn Du.
* Thúy Vân, Thúy Kiều, những nhân vật chính diện
được Nguyễn Du tôn xưng là đấng bậc và được khắc
Điểm
( 0,5 điểm)
b. Thân
bài
họa bằng bút pháp cổ điển ước lệ tượng trưng, mồi
người một vẻ mười phân vẹn mười. Họ là những nhân
vật mang vẻ đẹp lí tưởng, được mô tả với những chi tiết
1.5đ
0,5đ
1đ
* Tả cảnh để ngụ tình: Tâm trạng của chi em Thúy
Kiều khi du xuân trở về, tâm trạng của Kiều khi ở lầu
Ngưng Bích.
* Tôn trọng tuyền thống nghệ thuật trung đại, nhưng
Nguyễn Du in dấu ấn cá nhân của mình trong việc khắc
họạ chân dung các nhân vật. Chính vì vậy người ta mới
nói: tài sắc hiếu nghĩa như Thúy Kiều, ghen như Hoạn
Thư, ngang tàng, anh hùng như Từ Hải, tráo trở, lật
lọng như Sở Khanh… Qua khắc họa chân dung nhân
vật mà thể hiện tư cách nhân vật, cảm hứng nhân đạo
của thi hào trước cuộc đời và con người.
c.
Kết bài
- Khẳng định lại tài năng nghệ thuật miêu tả nhân vật
của Nguyễn Du.
- Phát biểu cảm nghĩ của bản thân về tài năng nghệ
thuật của Nguyễn Du.
ỦBND HUYỆN .............
tỏ ý kiến trên.
….Hết….
( Đề thi gồm có 1 trang )
Thí sinh không được sử dụng tài liệu. Cán bộ coi thi không giải thích gì thêm.
Họ tên thí sinh…………………………….Số báo danh………………………
UBND HUYỆN .............
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
HƯỚNG DẪN CHẤM
Môn thi: Ngữ văn - Lớp 9
Câu 1. ( 2 điểm)
Yêu cầu học sinh viết thành đoạn văn hoàn chỉnh, lời văn có cảm xúc
Ý/phần
Ý1
Đáp án
Điểm
Học sinh cần chỉ ra được đó là một bức họa thiên nhiên (1 điểm)
mùa xuân tuyệt đẹp. Bức họa ấy có: - Màu xanh non của
Ý2
Ý3
cỏ xuân trải rộng tới chân trời – phông nền của bức tranh
- Trên nền xanh non ấy điểm xuyết vài bông hoa (0,5
một ý kiến, có bố cục ba phần mạch lạc, hệ thống luận điểm luận cứ phù hợp; diễn đạt
lưu loát, có sức thuyết phục, ít mắc lỗi chính tả, dùng từ đặt câu, dựng đoạn
Bài văn cần đảm bảo các ý cơ bản sau:
Ý/phần
Mở bài
Đáp án
Điểm
- Nêu xuất xứ của đoạn trích: Đây là đoạn kế tiếp đoạn kể ( 0,5
về Mã Giám Sinh đưa Kiều đến lầu xanh của Tú Bà. Tú điểm)
Bài ép kiều tiếp khách làng chơi. Kiều không chấp nhận
nên bị Tú Bà đánh đập. Tủi nhục Kiều tự sát. Tú Bà sợ
mất món lợi lớn đành cho Kiều ra lầu Ngưng Bích để đợi
thực hiện một âm mưu mới
- Đoạn trích này phản ánh tâm trạng thương nhớ gia đình,
Thân bài
Kết bài
thương nhớ người yêu và xót xa buồn tủi cho thân phận
mình của Thúy Kiều
* Đoạn Kiều ở lầu Ngưng Bích là một bức tranh tâm tình ( 1,5
đầy xúc động
điểm)
- Bức tranh phong cảnh được nhìn qua con mắt đầy
tâm trạng của Kiều:
+ Đường nét vừa thực vừa ảo: vẻ non xa, tấm trăng gần,
bốn bè bát ngát, cát vàng cồn nọ, buijhoongf dặm kia…
Bố cục rõ ràng
Diễn đạt lưu loát
- Trừ điểm các lỗi sau
Sai mỗi lỗi chính tả trừ 0,25 điểm
Trình bày bẩn, chữ viết xấu trừ 0,5 điểm
Tổng điểm trừ không quá 2 điểm
UBND HUYỆN .............
ĐỀ THI CHỌN HỌC SINH GIỎI CẤP HUYỆN ĐỢT 1
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Năm học: .............
-------------------------Môn thi: Ngữ văn – Lớp 9
Thời gian làm bài: 150 phút ( không kể thời gian giao đề)
Câu 1: (2 điểm)
Trong bài thơ “Tây Tiến” của tác giả Quang Dũng ( viết về những người chiến sĩ
của đoàn binh Tây Tiến- sáng tác năm 1948) có câu thơ;
“…Heo hút cồn mây súng ngửi trời…”
Trong bài thơ” Đồng chí” của Chính Hữu cũng có câu;
“…Đầu súng trăng treo…”
Em hãy so sánh sự giống và khác nhau trong hai hình ảnh thơ ở hai câu thơ trên.
Qua sự giống và khác nhau đó, em cảm nhận được gì về hình tượng người lính trong
thơ ca Việt Nam.
Câu 2: (2 điểm)
Phân tích điểm sáng nghệ thuật ở khổ thơ sau:
“Không có kính, ừ thì có bụi,
Bụi phun tóc trắng như người già
Chưa cần rửa, phì phèo châm điếu thuốc
Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha”...
(Bài thơ về tiểu đội xe không kính – Phạm Tiến Duật)
* Về nội dung:
- Nét giống nhau:
Hai câu thơ đều xuất hiện hình ảnh người lính gắn liền với cây
súng. Cây súng là vũ khí chiến đấu của người lính. Hai hình ảnh
gắn liền với nhau và xuất hiện nhiều trong thi ca Việt nam.
Tuy vậy hình ảnh cây súng xuất hiện trong hai câu thơ trên không
gợi lên sự ác liệt, dữ dội của chiến tranh mà vẫn mang đến cho
người đọc cảm giác nhẹ nhàng, bình thản.
- Nét khác:
Ở câu thơ: Heo hút cồn mây súng ngửi trời” Hình ảnh người lính
với cây súng được đặt trong không gian cao, rộng với “ cồn mây,
trời”, gợi cho người đọc sự hình dung: người lính Tây Tiến leo dốc
dài và gian khổ để lên được đỉnh núi rất cao.
Hình ảnh “ súng ngửi trời” là hình ảnh nhân hóa gợi cho người đọc
thấy được độ cao của núi, sự heo hút,âm u, mù mịt của cồn mây
đồng thời thấy được cái dí dỏm, hài hước, tinh nghịch, hồn nhiên và
tinh thần lạc quan vượt qua mọi khó khăn gian khổ của người lính
Tây Tiến. Cách thể hiện ý thơ của Quang Dũng lãng mạn, hồn
1,0 đ
nhiên, phóng khoáng mà tài hoa.
2
3
Câu thơ “ Đầu súng trăng treo” gợi một không gian yên tĩnh vắng
lặng, người lính đứng gác mà trăng treo đầu súng. Súng và trăng
gợi nhiều liên tưởng. Súng là vũ khí chiến tranh, trăng là biểu
- Khổ thơ làm sáng lên vẻ đẹp, phẩm chất dũng cảm, tinh thần lạc
quan, coi thường khó khăn gian khổ của người chiến sĩ lái xe qua
giọng điệu ngang tàng, đùa tếu, nghịch ngợm. Cấu trúc câu vừa có
ý nghĩa tạo nhịp vừa làm cho ngôn ngữ thơ gần với khẩu ngữ:
“Không có… ừ thì… chưa cần…” . Sự đan xen của thể thơ bảy
chữ, tám chữ cũng khiến cho giọng thơ gần gũi với lời nói thường
ngày
- Hình ảnh thơ rất thực mà lại hết sức độc đáo, cách diễn tả vừa
mộc mạc, cụ thể vừa giàu sức gợi hình, gợi cảm: “ Mặt lấm…Phì
phèo châm điếu thuốc”; “Bụi phun tóc trắng như người già” phép
so sánh càng làm nổi bật phẩm chất dũng cảm, coi thường khó khăn
gian khổ của người lính lái xe.
2
3
- Từ tượng thanh “ha ha” vừa mô phỏng tiếng cười của những
chàng lính xế trẻ trung mới rời ghế nhà trường vừa nêu được tác
phong sống rất “lính”: sôi nổi, hoạt bát , nhanh nhẹn, tinh nghịch
mà ấm áp tình đồng đội.
0,75 đ
* Về hình thức:
HS viết trình bày đoạn văn mạch lạc, rõ các ý, diễn đạt mượt
mà, trong sáng, rõ ràng, không sai mắc các lỗi.
0,5
1,5
tượng với bạn đọc như những gì Nguyễn Du xây dựng về con người.
Điều đó có nghĩa là, thiên nhiên không chỉ là cái bình phong, là hình
thức để Nguyễn Du ngụ tình, mà thiên nhiên là đối tượng thứ nhất, có
vẻ đẹp tự thân, hiện lên chân thực, có hồn, thể hiện tình yêu cái đẹp
và tạo vật của thi hào Nguyễn Du.
- Có thể thấy hai điểm cơ bản từ ý kiến của Hoài Thanh: Nguyễn Du
đã thể hiện tình yêu thắm thiết với thiên nhiên, tạo vật và qua thiên
nhiên, thể hiện tình yêu thắm thiết với cuộc sống, con người
c. Chứng minh
c1. Thiên nhiên- một thế giới tuyệt đẹp hiện lên trong Truyện Kiều,
được nhìn qua tâm hồn nhạy cảm, tinh tế, thấm đượm yêu thương
của Nguyễn Du
Nguyễn Du đã hoạ được bằng thơ cái thần của thiên nhiên trong sáng
tác của mình.
Đó là cảnh sắc phới phới sức xuân trong “ Cảnh ngày xuân”: Bức hoạ
của đường nét, màu sắc, vẻ non tơ, sự sinh động giao hoà thắm thiết
cùng nhau trong không gian và thời gian.
Đó là bức tranh thiên nhiên bát ngát, hoang vắng, đượm buồn ở Lầu
Ngưng Bích.
Đó là cảnh vườn đào nới Kim Trọng gặp gỡ Thuý Kiều.
đó là cảnh thu đã nhuộm màu quan san khi Thuý Kiều chia tay Thúc
Sinh...
*HS cần chọn được dẫn chứng để bình, tránh sa vào sự bề bộn.
Qua cách miêu tả thiên nhiên, Nguyễn Du cho thấy một tâm hồn
thiết tha yêu sự sống, yêu tạo vật, một linh hồn “ mang mang thiên
Sử dụng thiên nhiên nhu một nét bút pháp đòi hỏi ở Nguyễn Du tâm
hồn yêu thiên nhiên đằm thắm và sự tài hoa, tinh tế của ngòi bút.
Ngòi bút Nguyễn Du đã trở thành đỉnh cao của nghệ thuật tả cảnh
ngụ tình trong nền thơ ca dân tộc.
2. Thang điểm
- Điểm 6: Đáp ứng xuất sắc yêu cầu 2.1. Hiểu đề. Có vốn kiến thức
sâu và rộng. Có cấu trúc bài độc đáo, mạch lạc, cảm thụ sâu sắc, tinh
tế...Văn có giọng điệu riêng.
- Điểm 5: Cơ bản đáp ứng yêu cầu 2.1. Nắm vững tác phẩm và có sự
cảm thụ tốt ; vượt qua sự cóp nhặt bắt chước. Diễn đạt rõ ràng trôi
chảy. Hình thức bài sáng sủa.
- Điểm 3-4 : Cấu trúc bài viết theo cách riêng do có thểư lúng túng
về lí luận. Yêu cầu khác như điểm 6.
- Điểm 2 : Thuần tuý phân tích văn bản nhưng chỉ dừng ở mức hời
hợt.
- Điểm 1 : Xử lí rất ít yêu cầu của đề bài hoặc viết nhiều nhưng rất
lộn xộn.
- Điểm 0 : Làm bài về vấn đề khác hoặc không làm bài.
1,0
UBND HUYỆN .............
ĐỀ THI CHỌN HỌC SINH GIỎI CÁP HUYỆN ĐỢT 1
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Năm học .............
Môn thi: Ngữ Văn - Lớp 9
Thời gian làm bài:150 phút (không kể thời gian giao đề)
Đáp án
Biểu điểm
1
- Điệp từ “nhóm” được nhắc lại 4 lần làm toả sáng hơn 0.5 điểm
nét “kì lạ” và thiêng liêng bếp lửa. Bếp lửa của tình bà
đã nhóm lên trong lòng cháu bao điều thiêng liêng, kì
lạ.
2
Từ “nhóm” đứng đầu mỗi dòng thơ mang nhiều 1.5 điểm
ý nghĩa:
+ Khơi dậy tình cảm nồng ấm
+ Khơi dậy tình yêu thương, tình làng nghĩa xóm, quê
hương
+ Khơi dậy những kỉ niệm tuổi thơ, bà là cội nguồn của
niềm vui, của ngọt bùi nồng đượm, là khởi nguồn của
những tâm tình tuổi nhỏ.
=> Đó là bếp lửa của lòng nhân ái, chia sẻ niềm vui
chung.
Câu 2 (3 điểm).
Ý/Phần
Đáp án
Biểu điểm
1
- Đây là lời nói của anh thanh niên trong cuộc trò 0.5 điểm
chuyện với ông họa sĩ. Anh cảm thấy hạnh phúc vì đã
góp phần phát hiện đám mây khô giúp không quân ta
hạ được phản lực Mỹ trên cầu Hàm Rồng. Đó là niềm
vui được cống hiến, được làm việc có ích cho đất nước.
Niềm hạnh phúc của chàng trai trẻ là được sống vì mục
Câu 3 (5 điểm).
Ý/Phần
Đáp án
Biểu điểm
Yêu cầu chung:
Thể loại: phân tích kết hợp chứng minh
Vấn đề nghị luận: Vẻ đẹp, những phẩm chất cao quý và
số phận bi kịch của người phụ nữ Việt Nam thể hiện
trong các tác phẩm thuộc dòng văn học trung đại đã
học trong chương trình Ngữ văn THCS.
Phạm vi dẫn chứng: Các tác phẩm văn học trung đại đã
được học và đọc thêm ( THCS)
Yêu cầu cụ thể: HS vận dụng kĩ năng của văn nghị
luận để viết bài văn nghị luận văn học thuộc dạng tổng
hợp
HS có những cách dẫn dắt vấn đề khác nhau, tuy nhiên
phải đảm bảo được những yêu cầu sau:
I/ Mở bài;
0.5 điểm
Dẫn dắt vấn đề nghị luận: Phụ nữ là trung tâm của cái
đẹp, chính vì vậy hình ảnh người phụ nữ đã trở thành
đề tài quen thuộc trong văn học từ xưa đến nay…
Nêu vấn đề: VHTĐ Việt Nam đã có không ít những tác
phẩm viết về người phụ nữ ( Chuyện người con gái
Nam Xương, Chinh phụ ngâm khúc,Bánh trôi nước,
mĩ của Kiều đến mức cả hoa, liễu.. những tạo vật xinh
đẹp của thiên nhiên phải hờn ghen. Không chỉ đẹp Kiều
còn đa tài: cầm, kì, thi, họa…và ở tài nào Kiều cũng
đạt đến độ xuất chúng. Trong số những tài đó tài đàn là
tài nổi trội hơn cả: Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một
trương
2. Họ là những người phụ nữ có những phẩm chất
1 điểm
đáng quý: thủy chung, hiếu thảo, khát tình yêu và
hạnh phúc……
- Vũ Nương: ba năm xa cách chồng, nàng ở nhà chăm
sóc mẹ, nuôi con. Sự chăm sóc tận tâm của nàng khiến
mẹ chồng không khỏi xúc động. Câu trăng trối của bà
đã khẳng định lòng hiếu thảo của Vũ Nương: xanh kia
quyết chẳng phụ con cũng như con đã chẳng phụ mẹ…
Khi bị chồng nghi oan, nàng đã phân trần, giải thích “
cách biệt ba năm giữ gìn một tiết. Tô son điểm phấn
từng đã nguôi lòng, ngõ liễu tường hoa chưa hề bén
gót…”. Để rồi cuối cùng nàng đã phải tìm đến cái chết
để minh chứng cho lòng chung thủy của mình…Mặc
dù ở dưới thủy cung nhưng Vũ Nương vẫn không
nguôi nhớ về gia đình, chồng con…
- Nhân vật trữ tình trong Bánh trôi nước: mặc cho số
phận đưa đẩy “ Mà em vẫn giữ tấm lòng son”…
- Thúy Kiều: sau khi gặp Kim Trọng nàng đã quên đi
mọi lễ giáo phong kiến tự tìm đến chàng Kim để gặp
gỡ và đính ước… Phải bán mình chuộc cha nhưng Kiều
vẫn một lòng chung thủy với Kim Trọng, đau đáu nhớ
- Chiến tranh đã khiến cho cuộc sống vợ chồng Vũ
Nương phải xa cách, là nguyên nhân gián tiếp gây nên
bi kịch trong cuộc đời nàng.
- Chiến tranh đã khiến bao gia đình phải li tán, người
vợ phải ngày đêm ngóng trông chồng ( Chinh phụ
ngâm khúc)
Tóm lại: Người phụ nữ trong các tác phẩm văn học
trung đại đều là những người phụ nữ tài sắc với những
phẩm chất đáng quý song bị XHPK chà đạp, cuộc sống
không hạnh phúc..
- Viết về những người phụ nữ các tác giả đã đề cao, ca
ngợi vẻ đẹp của họ đồng thời còn dành cho họ sự trân
trọng, cảm thông, yêu mến…
- Qua hình tượng người phụ nữ các tác giả đã lên án
chế độ PK nam quyền, lên án cuộc chiến tranh phi
nghĩa….Bày tỏ những ước mơ, khát vọng chính đáng
của họ.
* Liên hệ với hình tượng người phụ nữ trong các tác
phẩm VHHĐ, trong cuộc sống ngày nay…
III. Kết bài.
-Khẳng định những nét đẹp của người phụ nữ trong
VHTĐ nói riêng, trong nền VH nói chung
- Nêu cảm nghĩ của bản thân….
Biểu điểm chấm:
* Điểm 5: đáp ứng tốt các yêu cầu trên. Thể hiện tư
1 điểm
1 điểm
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa.
- Buồn trông nội cỏ rầu rầu,
Chân mây mặt đất một màu xanh xanh.
(Ngữ văn 9 - Tập một)
Câu 2: (2 điểm)
Chỉ ra biện pháp tu từ và phân tích cái hay, cái đẹp mà những biện pháp tu từ ấy mang
lại:
“ Chúng ta hãy bước nhẹ chân, nhẹ nữa
Trăng ơi trăng, hãy yên lặng cúi đầu
Suốt cuộc đời Bác có ngủ yên đâu
Nay Bác ngủ chúng ta canh giấc ngủ’’
( Hải Như, “ Chúng con canh giấc ngủ Bác, Bác Hồ ơi!’’)
Câu 3: (6 điểm)
Em hãy trình bày suy nghĩ của mình về người nông dân trước Cách mạng tháng Tám
và trong kháng chiến chống Pháp qua hai tác phẩm “Lão Hạc” của Nam Cao và “Làng”
của Kim Lân.
............... HẾT...............
( Đề thi gồm có 01 trang)
Thí sinh không được sử dụng tài liệu. Cán bộ coi thi không giải thích gì thêm.
Họ
và
tên
thí
sinh:..............................................;
Số
danh.........................................
1đ
* Là bức tranh mùa xuân tươi đẹp, trong sáng, hài hòa, tràn đầy sức
sống (màu xanh của cỏ gợi sức sống, màu trắng của hoa gợi sự trong
sáng). Đằng sau bức tranh ấy là tâm trạng vui tươi của Thúy Kiều.
* Nghệ thuật thể hiện: bút pháp chấm phá, kế thừa tinh hoa của văn
học cổ, từ ngữ giàu chất tạo hình.
+ Câu thơ : Buồn trông nội cỏ rầu rầu,
Chân mây mặt đất một màu xanh xanh.
* Là bức tranh thiên nhiên mêng mang, héo úa, đơn điệu (“rầu rầu”
thể hiện sự héo úa của cảnh, “xanh xanh” gợi sự mêng mang, mờ mịt).
Đằng sau bức tranh ấy là tâm trạng cô đơn, hoảng loạn của Thúy
Kiều.
* Bút pháp tả cảnh ngụ tình, từ ngữ giàu sức gợi tả.
4
- Giải thích lí do tạo nên sự khác biệt ấy:
0,5đ
+ Ở câu đầu:
* Thiên nhiên là đối tượng miêu tả.
* Thiên nhiên được cảm nhận qua con mắt của người con gái tài sắc,
đang sống trong những tháng ngày tươi đẹp.
+ Ở câu sau:
* Thiên nhiên là phương tiện, là cách thức để thể hiện tâm trạng nhân
vật.
* Thiên nhiên được cảm nhận qua con mắt của một người trong tâm
trạng của kẻ tha hương, biết mình bị lừa bán vào chốn lầu xanh.
của mọi người muốn giữ yên giấc ngủ cho Bác.
- “Trăng’’lời nhắn nhủ làm cho trăng trở nên gần gũi với
người.
* Ẩn dụ: “ ngủ’’( trong câu thơ thứ 3)=> tấm lòng lo lắng cho
dân, cho nước suốt cuộc đời của Bác, tác giả ca ngợi sự hi sinh
quên mình của Bác
* Nói giảm nói tránh: “ ngủ’’( trong câu thơ thứ tư)=> làm
giảm sự đau thương khi nói về việc Bác đã mất, qua đó nhà
thơ ca ngợi sự bất tử của Bác, khảng định Bác vẫn còn sống
mãi
* Nhận xét : đoạn thơ là cách nói rất riêng và giàu cảm xúc về
tình cảm của nhà thơ nói riêng và của nhân dân ta nói chung
với Bác
0,4 đ
0,4đ
0,4đ
0,4đ
Câu 3: ( 6 điểm)
Ý/ Phần
Đáp án
1
Mở bài: HS giới thiệu đúng đề tài và phạm vi nghị luận
2
2.1
2.2
làng. Lão thà chết để giữ trọn 3 sào vườn cho con trai. ..
- Ông Hai cũng là người yêu thương con, yêu thương làng
chợ Dầu “ hai bố con nằm bên nhau... vỗ nhẹ lên lưng nó..”. Ông
buồn đau khi nghe tin làng chợ Dầu theo Tây “Làng thì yêu thât...
phải thù”…..
3. Vẻ đẹp riêng của nhân vật trong mỗi giai đoạn lịch sử:
+ Lão Hạc sống trong thời kỳ trước cách mạng tháng Tám. 2đ
Cuộc đời lão từ khi vợ chết, chịu nhiều cơ cực, đau khổ. Là người
nông dân nghèo, một mình nuôi con. Cái nghèo đói làm cuộc đời
lão càng thêm tăm tối, bất hạnh. Lão ân hận khổ sở vì không có
tiền cho con lấy vợ. Lão lo tiền cho con, lo tiền làm ma cho mình
lúc chết hơn là lo cho cuộc sống hàng ngày của mình. Lão chọn
đến cái chết, một cái chết đau đớn, vật vã về thể xác (ăn bả chó tự
tử) để giữ lương tâm và phẩm giá trong sạch của mình.
+ Ông Hai nghèo khổ trong kháng chiến chống Pháp . Cách
mạng đã đem đến cho ông sự suy nghĩ và hành động mới. Được
sống trong tự do, đựoc làm chủ, thoát khỏi sự áp bức nặng nề của
chế độ thực dân phong kiến. Ông hể hả, vui mừng tự tin và hiểu rõ
trách nhiệm của mình trước làng xóm, trước cách mạng. Nhân vật
ông Hai trong truyện ngắn “Làng” của Kim Lân, một người nông
dân thuần khiết như bao người nông dân Việt Nam khác mang
trong mình tình yêu làng quê thật giản dị mà sâu sắc. Ông thường
hay nói về nó, kể về nó với một tâm trạng háo hức say mê : Một
ngôi làng với phòng thông tin tuyên truyền sáng sủa , rộng rãi
nhất vùng, chòi phát thanh cáo bằng ngọn tre, nhà ngói san sát,
sầm uất như tỉnh, đường làng lát toàn đá xanh, cái sinh phần to
đẹp của viên tổng đốc làng mình... và tự hào hơn bao giờ hết là
làng ông đã theo kháng chiến những ngày đánh Tây gian khổ mà
vui. Đó là cái làng mà cả giới phụ lão cũng vác gậy đi tập một hai
trong những ngày khởi nghĩa dồn dập, cái làng với nhiều ụ, nhiều