MỤC LỤC
Trang
I. LỜI MỞ ĐẦU:…………………………………………………………...1
II. NỘI DUNG:……………………………………………………………..1
1. Định nghĩa tình hình tội phạm:………………………………………1
2. Các quan điểm khác nhau về tình hình tội phạm:…………………...2
3. Các nội dung của tình hình tội phạm:
a) Thực trạng của tình hình tội phạm: ………………………………..4
b) Diễn biến của tình hình tội phạm: …………………………………8
c) Cơ cấu và tính chất của tình hình tôị phạm:………………………..9
III. KẾT LUẬN:…………………………………………………………..12
PHỤ LỤC:…………………………………………………………………13
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO:…………………………………….17
1
I. LỜI MỞ ĐẦU
Nhà Luật Hình sự ở ta xưa nay vẫn giảng dạy rằng: “Tội phạm là hiện tượng xã hội
có tính giai cấp và tính lịch sử… và trái pháp luật hình sự”, mà không hề nghĩ rằng, kiến
thức đó là kiến thức tội phạm học vốn có trong “kho tàng” kiến thức của nhà Luật Hình sự.
Khái niệm “tội phạm” được dùng ở đoạn vừa trích dẫn không phải là khái niệm tội phạm
trong Luật Hình sự. Bởi khoa học Luật Hình sự không nghiên cứu tội phạm với tính cách
là hiện tượng. Và nay, khi tội phạm học đã “đăng đàn”, nhà tội phạm học lại giải thích
chính nội dung trên, nhưng bằng lời lẽ rằng: “Tình hình tội phạm là hiện tượng tâm – sinh
lý – xã hội tiêu cực, mang tính lịch sử cụ thể và tính pháp lý hình sự với hạt nhân là tính
giai cấp…”, thì nhà Luật Hình sự nghe không quen và thậm chí phủ nhận. Thế nhưng,
trong sâu thẳm của nhận thức luận, hai “Nhà” đang nói ở đây đều giảng giải về cùng một
hiện tượng khách quan mà tội phạm học gọi là TÌNH HÌNH TỘI PHẠM – “Kriminalitaet”.
Sau đây, nhóm chúng em xin trình bày nhận thức của nhóm về tình hình tội phạm.
Theo TS. Dương Tuyết Miên cho rằng, quan điểm của GS.TS. Nguyễn Ngọc Hòa
về tình hình tội phạm đã lột tả đúng bản chất của tình hình tội phạm và giúp ta phân biệt
rõ ràng giữa tội phạm và tình hình tội phạm cũng như cách nhìn nhận về tình hình tội
phạm dưới góc độ tội phạm học. Kế thừa và phát triển quan điểm của GS.TS. Nguyễn
Ngọc Hòa, theo TS. Dương Tuyết Miên thì nên hiểu tình hình tội phạm như sau: “Tình
hình tội phạm là trạng thái, xu thế vận động của (các) tội phạm (hoặc nhóm tội phạm hoặc
một loại tội phạm) đã xảy ra trong một đơn vị không gian và đơn vị thời gian nhất định.
Tình hình tội phạm được thể hiện thông qua thực trạng, diễn biến, cơ cấu, tính chất của
tình hình tội phạm, trên cơ sở đó giúp cho các cơ quan có thẩm quyền xây dựng được các
biện pháp phòng ngừa tội phạm sát hợp với thực tiễn”.
2. Các quan điểm khác nhau về tình hình tội phạm:
Hiện nay có khá nhiều quan điểm quan niệm khác nhau về tình hình tội phạm,
nhưng theo quan điểm của nhóm, nên xem xét tình thinh tội phạm qua cách nhận thức của
3 quan điểm lớn sau đây:
3
Quan điểm thứ nhất cho rằng: “Tình hình tội phạm là một hiện tượng xã hội pháp
lý mang tính tiêu cực, được thay đổi về mặt lịch sử, mang tính giai cấp bao gồm tổng thể
thống nhất (hệ thống) các tội phạm thực hiện trong một xã hội (quốc gia) nhất định và
trong khoảng thời gian nhất định”. Trong quan niệm về tình hình tội phạm này có bộc lộ
một cách nhìn nhận vấn đề không hợp lý, đó là: tình hình tội phạm mang tính giai cấp, trên
thực tế không phải bao giờ mọi tội phạm trong xã hội cũng đều phát sinh từ xung đột
quyền lợi giữa các giai cấp đối kháng - giữa giai cấp thống trị và giai cấp bị trị, vẫn có
những tội phạm phát sinh có thể là do những mục đích, động cơ, hay hoàn cảnh khác nhau
mà không thể quy chúng về cùng một nguyên nhân là mâu thuẫn, xung đột về quyền và lợi
ích giai cấp được. Tuy nhiên có thể nói ưu điểm của nhận định này là nhìn nhận tình hình
tội phạm trong một khoảng thời gian và không gian nhất định là khá phù hợp bởi vì như
vậy sẽ phù hợp với quy luật vận động của tự nhiên dựa trên quan điểm duy vật biện chứng,
vì rằng tình hình tội phạm không hề bất biến mà nó luôn vận động, luôn thay đổi theo thời
phạm, diễn biến (động thái) của tình hình tội phạm, cơ cấu của tình hình tội phạm, tính
chất của tình hình tội phạm. Các bộ phận hợp thành này có hai loại:
+ Đặc điểm về lượng của tình hình tội phạm bao gồm: thực trạng và diễn biến của
tình hình tội phạm.
+ Đặc điểm về chất của tình hình tội phạm bao gồm: cơ cấu và tính chất của tình
hình tội phạm.
a) Thực trạng của tình hình tội phạm:
Thực trạng của tình hình tội phạm là tổng hợp các số liệu về vụ phạm tội đã xảy ra,
số lượng người thực hiện các tội đó và số lượng người được coi là nạn nhân trên một địa
bàn nhất định và trong khoảng thời gian nhất định.
Để có cái nhìn khách quan và tương đối toàn diện về thực trạng của tình hình tội
phạm, người nghiên cứu trước hết cần phải đồng thời phải dựa vào số liệu về tội phạm rõ
và số liệu về tội phạm ẩn. Sở dĩ phải có sự kết hợp này vì không phải mọi tội phạm xảy ra
trên thực tế đều bị phát hiện và bị xử lý hình sự. Có khá nhiều tội phạm xảy ra trên thực tế
5
nhưng do nhiều nguyên nhân khác nhau nên không bị phát hiện và do vậy, không bị xử lý
về hình sự.
• Vấn đề thứ nhất – Tội phạm rõ:
Hiện nay, nhin chung, đa phần các tài liệu tội phạm học lưu hành ở Việt Nam đều
cho rằng tội phạm rõ là tội phạm đã bị điều tra, truy tố, xét xử về hình sự và có trong thống
kê hình sự. Như vậy, thời điểm để xác định tội phạm rõ là khi tội phạm bị đưa ra xét xử về
hình sự và có trong thống kê hình sự hay nói cách khác, con số về tội phạm được thống kê
chính thức bởi cơ quan Tòa án là tội phạm rõ. Số liệu này được cơ quan Tòa án thống kê
hàng năm. Sở dĩ có quan điểm về thời điểm xác định tội phạm rõ như vậy là vì các tài liệu
này đều cho rằng thống kê xét xử hình sự của Tòa án có tính chính xác cao, ổn định vì đây
là giai đoạn cuối cùng của quá tình chứng minh. Mặt khác, thực tế cũng cho thấy số người
bị Tòa án xử oan là hãn hữu.
+ Không có trong thống kê hình sự chính thức.
Theo quan điểm của TS.Dương Tuyết Miên thì tội phạm ẩn được hiểu như sau: Tội
phạm ẩn là số lượng tội phạm và người phạm tội đã thực hiện trên thực tế nhưng không
được tường thuật với cơ quan có thẩm quyền hoặc chưa bị phát hiện (một cách chính
thức) và do vậy chưa bị đưa ra xét xử, chưa có trong thống kê hình sự chính thức.
Để xác định tội phạm ẩn, các nhà tội phạm học trên thế giới thường tiến hành hai
phương pháp điều tra sau đây:
- Điều tra về tội phạm tự tường thuật (offender self – report surveys). Để tiến hành các
cuộc điều tra loại này, các nhà nghiên cứu phải cam kết giữ bí mật danh tính của người
tham gia tự tường thuật về tội phạm đã thực hiện, đảm bảo để họ không phải lo lắng về sự
tiết lộ thông tin với người tiến hành điều tra cũng như không sợ hãi sẽ bị bắt giữ và bị xử
lý về hình sự do đã thực hiện tội phạm.
Đối tượng mà các nhà nghiên cứu hướng tới là người trẻ tuổi. Kết quả thu được từ
Điều tra về tội phạm tự tường thuật cho thấy số tội phạm xảy ra trên thực tế cao hơn rất
nhiều so với số tội phạm có trong thống kê chính thức. Tuy nhiên, phương pháp này cũng
có một số hạn chế. Cụ thể là do đối tượng được nghiên cứu thường nhầm vào người trẻ
tuổi – diện nghiên cứu còn chưa rộng và sự tự tường thuật của một số người có thể không
7
trung thực hoặc do tội phạm xảy ra đã lâu so với thời điểm tự tường thuật, do vậy có thể
đưa tới kết quả nghiên cứu chỉ mang tính chính xác tương đối.
- Điều tra về nạn nhân của tội phạm học (the victimization survey). Với loại điều tra
này, nhà nghiên cứu cũng phải cam kết giữ bí mật danh tính của nạn nhân tham gia tự
tường thuật bởi vì sự tiết lộ danh tính của họ trong nhiều trường hợp có thể gây bất lợi cho
nạn nhân (nhất là đối với nạn nhân của nhóm tội xâm phạm tình dục, tội phạm bạo lực gia
đình). Điều cần chú ý là việc thiết kế mẫu điều tra về nạn nhân của tội phạm phải khác với
mẫu điều tra về tội phạm tự tường thuật vì đây là những đối tượng nghiên cứu khác nhau.
Hạn chế của phương pháp này không phải là nạn nhân nào cũng tường thuật đúng sự thật
do e ngại bị ảnh hưởng đến đời sống riêng tư hoặc do thái độ bất hợp tác,… Mặt khác, diện
như phải có biện pháp cảnh báo người dân để họ chủ động phòng tránh không trở thành
nạn nhân của tội phạm.
b) Diễn biến của tình hình tội phạm:
Khái niệm: Diễn biến của tội phạm là sự thay đổi thực trạng của tội phạm xét về
mức độ và tính chất theo thời gian trong đơn vị thời gian xác định.
Diễn biến tội phạm là một trong những nội dung của tình hình tội phạm mà việc phân tích
nội dung này cho phép dự đoán xu hướng vận động của tội phạm trong thời gian tiếp theo.
Diễn biến của tìn hình tội phạm có thể là diễn biến của tội phạm nói chung hay diễn biến
của một nhóm tội cụ thể hay một tội phạm cụ thể nào đó.
Yếu tố tác động: Diễn biến của tình hình tội phạm có thể bị thay đổi do tác động
của hai loại yếu tố:
- Các yếu tố xã hội: sự tăng trưởng hay thoái hóa của nền kinh tế, vấn đề di dân, sự gia
tăng dân số ở các thành phố lớn, sự chênh lệch mức sống của người dân…
- Sự thay đổi về mặt pháp lí trong đó, sự thay đổi của pháp luật hình sự trong việc mở rộng
hoặc thu hẹp tội phạm cũng như biện pháp xử lí hình sự cũng ảnh hưởng đáng kể đến xu
hướng vận động của tội phạm.
Phương pháp đánh giá diễn biến tình hình phạm tội: Khi đánh giá tình hình tội
phạm phải đánh giá tình hình tội phạm thực, bao gồm cả tội phạm rõ và tội phạm ẩn. Đặc
9
biệt, khi đánh giá diễn biến của tội phạm lại càng phải chú ý điều này. Đánh giá diễn biến
của tội phạm khi dựa trên số liệu tội phạm rõ chỉ đảm bảo độ chính xác khi độ ẩn có sự ổn
định tương đối.
Hiện nay, khi nói đến diễn biến của tội phạm, các tác giả nghiên cứu thường chỉ đề cập đến
sự diễn biến về mức độ. Theo đó, các số liệu được dùng để đánh giá diễn biến chỉ được bó
hẹp trong hai loại số liệu là số liệu về tổng tội phạm đã xảy ra và tổng người phạm tội đã
thực hiện các tội phạm đã xảy ra đó.
Nghiên cứu diễn biến của tội phạm, ngoài việc đánh giá xu hướng vận động của tội phạm
xét về đặc điểm định lượng còn đòi hỏi phải so sánh các số liệu phản ánh thực trạng của tội
xác định khi nghiên cứu tình hình tội phạm của nhóm tội nào đó.
+ Cơ cấu của THTP theo phân loại tội phạm – tội ít nghiêm trọng, tội nghiêm
trọng, tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng (Điều 8 khoản 3 BLDS). Loại cơ cấu
này xác định từng loại tội phạm chiếm tỷ lệ bao nhiêu % trong tổng số các 4 lọai tội phạm
nói trên. Bên cạnh đó cũng cần tìm hiểu số người phạm từng loại tội chiếm tỷ lệ như thế
nào trong tổng số người phạm 4 loại tội đó. Loại cơ cấu này được xác định khi nghiên cứu
tình hình tội phạm nói chung hoặc tình hình tội phạm của nhóm tội hoặc một tội danh cụ
thể nào đó.
+ Cơ cấu của THTP theo hình thức lỗi. Theo loại cơ cấu này, sẽ xác định loại tôi
phạm cố ý, vô ý xảy ra chiếm tỉ lệ bao nhiêu % trong tổng số tội phạm xảy ra; cũng như số
người phạm tội cố ý hoặc vô ý chiếm tỉ lệ bao nhiêu % trong tổng số người phạm tội của
các tội với các hình thức lỗi khác nhau. Loại cơ cấu này thường được xác định khi nghiêm
cứu tình hình tội phạm nói chung hoặc tình hình tội phạm của một nhóm tội nào đó.
+ Cơ cấu của THTP theo hình thức phạm tội. Theo loại cơ cấu này, sẽ xác định tội
phạm xảy ra dưới hình thức đồng phạm, đơn lẻ và nhất là phạm tội có tổ chức chiểm tỉ lệ
bao nhiêu % trong tổng số tội phạm xảy ra. Loại cơ cấu này được xác định khi nghiêm cứu
tình hình tội phạm nói chung hoặc tình hình tội phạm của nhóm tội phạm một tội danh cụ
thể nào đó.
11
+ Cơ cấu của THTP theo địa bàn phạm tội. Theo loại cơ cấu này, sẽ xác định tội
phạm xảy ra ở thành phố lớn, tội phạm xảy ra ở nông thôn chiếm tỉ lệ bao nhiêu % trong
tổng số tội phạm xảy ra trên thực tế, … Loại cơ cấu này được xác định khi nghiên cứu tình
hình tội phạm nói chung hoặc tình hình tội phạm của nhóm tộ hoặc một tội cụ thể nào đó.
+ Cơ cấu của THTP theo loại hình phạt áp dụng cho người phạm tội. Loại cơ cấu
này xác định từng loại hình phạt được áp dụng chiếm tỉ lệ bao nhiêu % trong tổng số hình
phạt được áp dụng, Loại cơ cấu này được xác định khi nghiên cứu tình hình tội phạm nói
chung hoặc tình hình tội phạm của nhóm tội hoặc một tội danh cụ thể.
trưng bởi hình thức đồng phạm, từ đó có những giải pháp phòng ngừa tập trung đối với các
băng nhóm tội phạm ma túy.
III. KẾT LUẬN
Tình hình tội phạm là hiện tượng cũng giống như bao hiện tượng khác của thế giới
khách quan, khi hình thành và tồn tại trong xã hội thì nó là một chỉnh thể, tức là bao giờ
cũng có hai mặt: Mặt bản chất và mặt bộc lộ bản chất đó. Đây là thuộc tính của thế giới vật
chất. Qua nghiên cứu về tình hình tội phạm là đã nghiên cứu phần nào về tội phạm học.
13
PHỤ LỤC
MỘT SỐ SÔ LIỆU, BIỂU ĐỒ, BẢNG SỐ LIỆU VỀ TÌNH HÌNH TỘI PHẠM
Phụ lục 1. BIỂU ĐỒ: TÌNH HÌNH TỘI PHẠM VỀ MA TUÝ BỊ BẮT GIỮ GIAI
ĐOẠN 1994 - 2001
Năm
1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001
Số tội phạm ma
8179 3998 6651 14266 18772 22835 19500 21103
tuý bị bắt giữ
Số vụ phạm tội
về ma tuý bị bắt 2778 2584 3813 7025 9110 11768 10300 12811
giữ
Nguồn: Văn phòng Thường trực Phòng chống ma túy - Bộ Công an.
Báo cáo sơ kết công tác phòng chống ma tuý 6 tháng đầu năm 2002.
14
Tỷ lệ %
(1) so với (2)
55.237/91.224
62.116/103.733
62.793/107.518
63.040/109.338
65.462/114.344
308.648/526.15
7
0,24%/0,15%
0,11%/0,07%
0,25%/0,17%
0,22%/0,14%
0,26%/0,17%
0,22%/0,14%
Phụ lục 3: Tổng quan theo giai đoạn 3 năm của THTP ở Việt Nam từ 1986 đến 2008
Giai đoạn
1986-1988
1989-1991
1992-1994
1995-1997
1998-2000
2001-2003
2004-2006
2006-2008
Tổng số án phải xét xử sơ
15
Bị cáo
39.923
38.190
42.592
69.768
84.481
76.706
101.116
114.045
Tỉ lệ bị cáo/vụ
%
179,04
168,03
161,74
160,71
156,64
150,06
166,90
173,42
Phụ lục 4: THTP giai đoạn 1986 - 1988 với các tội danh có mức độ phạm tội cao nhất,
từ 4 con số trở lên
Tội danh
Giết người
1.787
2.352
1.403
22.545
924
3.336
1.212
11.452
1.503
1.701
2.305
1.320
23.753
1.084
3.727
1.655
13.578
1.584
1.585
2.187
1.879
27.270
3.040
8.874
4.188
36.447
4.509
Vi phạm giai thông đường bộ
Chứa mại dâm + Môi giới
Tổng số
2001
2002
2003
Bị cáo
Bị cáo
Bị cáo
Cộng
%
1.534
4.992
1.376
3.279
2.605
16.265
2.088
1.308
9.810
1.264
4.646
4.376
1.295
59.042
4.932
15.685
4.041
10.789
7.938
48.683
6.859
4.237
33.061
3.248
8.066
11.422
3.684
162.654
2,64
8,38
2,16
5,77
4,24
26,01
3,67
2,26
17,67
1,74
Bị cáo
Bị cáo
Bị cáo
Bị cáo
Tỷ phần
%
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
16
17
1.312
7.248
2.702
1.159
1.032
3.302
8.905
4.882
1.211
3.397
24.300
2.803
1.520
1.444
13.282
5.633
645
1.438
8.357
2.593
971
1.280
3.542
9.936
5.628
1.340
3.793
26.405
3.587
10.761
6.117
1.184
5.182
30.239
3.053
1.365
2.439
14.459
6.416
1.822
1.333
14.893
4.018
852
1.393
17.128
49.725
28.228
6.176
20.852
127.257
15.340
7.417
9.155
67.574
30.426
5.966
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. “Khái niệm tình hình tội phạm với những hệ lụy của sự dễ tính trong khoa
học”, TS. Phạm Văn Tỉnh, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 11 (259)/2009, tr.6165.
2. “Khái niệm tội phạm và tình hình tội phạm dưới góc độ của tội phạm học”,
TS. Phạm Văn Tỉnh, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 6/2007, tr. 73-79.
3. “Bàn về tình hình tội phạm”, TS. Dương Tuyết Miên, Tạp chí Tòa án nhân
dân, số 24, tháng 12/2007, tr.5-12.
4. “Giáo trình Tội phạm học”, TS, Dương Tuyết Miên (chủ biên), Nxb. Giáo
dục Việt Nam, Hà Nội, 2010.
5. “Giáo trình Tội phạm học”, GS-TS. Võ Khánh Vinh, Nxb. CAND, Hà Nội,
2008.
6. “Giáo trình Tội phạm học”, Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb. CAND, Hà
Nội, 2012.
7. “Giáo trình Tội phạm học”, Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb. CAND, Hà
Nội, 2003.
8. TS. Dương Tuyết Miên, “Tội phạm học nhập môn”, Nxb.CAND, Hà Nội,
2009.
9. Thạc sĩ Phạm Văn Tỉnh, ”Một số vấn đề lý luận tình hình tội phạm Việt
Nam”, Nxb. Tư pháp, 2007.
10. Bộ nội vụ, tổng cục cảnh sát nhân dân, đề tài KX. 04. 14, ”Tội phạm ở Việt
Nam, thực trạng, nguyên nhân và giải pháp”, Nxb. CAND, 1994
11. Hocvientuphap.edu.vn.
12.
/>
toi-pham-o-Viet-Nam-qua-so-lieu-thong-ke-tu-nam-1986---2008.html
18