Đánh giá những biểu hiện ban đầu hướng đến xã hội tiêu dùng bền vững tại TP.Hồ Chí Minh
TS. Lê Văn Khoa
Đại học Bách Khoa TP. Hồ Chí Minh
Tiêu dùng bền vững được xem như đối trọng của sản xuất bền vững hướng đến mô hình phát
triển bền vững của xã hội. Nhận thức về bảo vệ môi trường (BVMT) của cộng đồng càng cao dẫn
đến nhu cầu của họ trong việc thực hiện các giải pháp BVMT ngày càng tăng. Tại TP. Hồ Chí
Minh trong những năm gần đây, một số chương trình và hoạt động môi trường của cộng đồng liên
quan đến chủ đề tiêu dùng bền vững đã dần xuất hiện như: Ngày hội Tái chế chất thải, Tháng hành
động không sử dụng túi nhựa, Chiến dịch tiêu dùng sản phẩm Xanh. Những sự kiện này, ít nhiều
đã tạo những dấu ấn nhất định và thu hút sự quan tâm và tham gia ngày càng nhiều của cộng đồng.
Thông qua việc đánh giá những sự kiện này và phân tích vai trò của các nhóm liên quan (người
dân, doanh nghiệp và chính quyền) trong việc xây dựng và thực hiện các chương trình trên, bài báo
đề xuất những giải pháp và định hướng chính sách để duy trì và phát triển một mô hình xã hội tiêu
dùng bền vững tại TP. Hồ Chí Minh.
1. Mở đầu
Nhiều quốc gia trên thế giới đã và đang phải trả giá cho những vấn đề môi trường bởi sản
xuất và tiêu dùng quá mức. Quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa đã thúc đẩy tiêu dùng trong
sản xuất và tiêu dùng cá nhân. Ở các thành phố, nguyên nhân chính gây ô nhiễm môi trường là sự
phát triển sản xuất, gia tăng tiêu dùng sản xuất và tiêu dùng cá nhân cùng với gia tăng lượng chất
thải (rắn, lỏng, khí, nguy hại). Tiêu dùng bền vững chính là cách phòng ngừa tốt nhất, đảm bảo lợi
ích cho hiện tại và tương lai. Tiêu dùng thế nào để các tài nguyên tái tạo có thể tái tạo được và
giảm thiểu sự lãng phí các nguồn tài nguyên không tái tạo. Do vậy, tìm kiếm, áp dụng và nhân
rộng các mô hình tiêu dùng bền vững trong điều kiện Việt Nam hiện nay là nhiệm vụ cần thiết và
ưn tiên của các nhà quản lý, khoa học, doanh nghiệp và của cả cộng đồng.
Nghiên cứu nhằm đánh giá các biểu hiện ban đầu hướng đến xã hội tiêu dùng bền vững tại
TP. Hồ Chí Minh. Qua đó đề xuất các giải pháp, định hướng chính sách nhằm phát triển mô hình
xã hội tiêu dùng bền vững.
Để giải quyết các mục tiêu trên, tác giả đã sử dụng phương pháp tổng hợp và phân tích tài
liệu; Phương pháp điều tra xã hội học, phương pháp phân tích hành vi và khảo sát thực tế; Lấy ý
kiến chuyên gia và ý kiến của các nhóm liên đới về các vấn đề liên quan.
2. Kết quả và thảo luận
nguyện viên Hoa hướng dương (hỗ trợ xếp túi giấy).
Mặc dù lần đầu tiên được tổ chức, không sử dụng ngân sách nhà nước cũng như gặp nhiều
khó khăn trong kêu gọi tài trợ, chương trình đã vận động được hầu hết các hệ thống bán lẻ lớn trên
địa bàn thành phố tham gia chương trình, tạo được sự chú ý của giới truyền thông và sự ủng hộ
của cộng đồng. Kết quả khảo sát cho thấy, Chương trình thu hút được sự chú ý và có tác động đến
nhận thức của cộng đồng về tác hại của túi ni lông, đồng thời góp phần hình thành thói quen sử
dụng túi thân thiện với môi trường thay cho túi ni lông. Hình 3 và 4 là kết quả khảo sát ý kiến 100
khách hàng vào ngày 25/11/2010, do Quỹ Tái chế thực hiện “Chiến dịch tiêu dùng sản phẩm xanh”
Chiến dịch tiêu dùng sản phẩm xanh (TDSPX) là hoạt động thường niên (bắt đầu từ năm
2010) do UBND Thành phố chỉ đạo thực hiện, báo Sài Gòn giải phóng (SGGP) phối hợp cùng Sở
Công Thương và Hợp tác xã thương mại TP. Hồ Chí Minh (Saigon Co.op) tổ chức với thông điệp
"Hãy sử dụng sản phẩm xanh vì sức khỏe của chính bạn". Chiến dịch hướng đến mục đích định
hướng thói quen tiêu dùng, thông qua đó thực thi quyền được sử dụng các sản phẩm an toàn của
người tiêu dùng, đồng thời khuyến khích các doanh nghiệp có trách nhiệm hơn với cộng đồng và
môi trường. Chiến dịch TDSPX năm 2011 diễn ra với các hoạt động: Đạp xe tuyên truyền (diễu
hành kết hợp phát cẩm nang); Khu phố Xanh (lồng ghép định hướng về sống xanh, tiêu dùng
xanh...); Mua sắm xanh cùng người nổi tiếng; Khuyến khích TDSPX tại hệ thống siêu thị CO.OP-
MART...
Từ ngày 6/6 - 3/7/2011, hệ thống 46 siêu thị Co.op Mart áp dụng nhiều chương trình khuyến
mại khuyến khích tiêu dùng xanh như: Khách mua hàng trong thời gian này nếu có hóa đơn thanh
toán trên 200.000 đồng, sử dụng túi thân thiện môi trường và mua một hoặc nhiều sản phẩm của
doanh nghiệp xanh thì được tặng một coupon tiêu dùng xanh trị giá 10.000 đồng. Nhiều đơn vị
được chứng nhận doanh nghiệp xanh như Vinamilk, Kido, Unilever Vietnam, Colgate, Pal-molive
Việt Nam cũng đã cam kết bán giảm giá các sản phẩm xanh trong thời gian diễn ra Chiến dịch.
Ngoài ra, Co.op Mart cũng đã tặng 300.000 phiếu tiêu dùng xanh cho cộng đồng (10.000 đ/phiếu),
phát hành 1.000.000 cẩm nang mua sắm tăng cường quảng bá về sản phẩm xanh trong hệ thống
đến khách hàng [3]. Kết thúc Chiến dịch, theo Saigon Co.op, doanh thu của sản phẩm xanh tăng
30-40% so với tuần bình thường, cho thấy người tiêu dùng đã bắt đầu chấp nhận tiêu dùng sản
phẩm xanh và sản phẩm của doanh nghiệp xanh nếu được tuyên truyền, thông tin đầy đủ và nhận
được chế độ khuyến mại hợp lý. Có thể thấy rõ sự hưởng ứng của cộng đồng sẽ khiến các doanh
công tác này thường là mở rộng của các Hội đồng môi trường và phát triển bền vững quốc gia
trước đó. Việc triển khai chương trình SCP do những nhóm liên đới chính đa ngành thực hiện do
bản chất đa ngành của các mô hình sản xuất và tiêu dùng và mối liên quan của rất nhiều các nhân
tố trong các vòng đòi sản phẩm và dịch vụ. Từ đó, các quan điểm và mục tiêu của chương trình sẽ
được ủng hộ rộng rãi. Tuy nhiên, những giải pháp này cần được các nhà chính trị chấp thuận để
được ưu tiên trong nghị trình chính sách của Chính phủ và địa phương.
Việc chọn các công cụ chính sách cho chương trình phụ thuộc lớn vào các mục tiêu và các
ưu tiên chính. Một số quốc gia thiên về các công cụ tự nguyện hơn là cưỡng chế. Một số nước
khác dựa vào cả công cụ tự nguyên và truyền thống. Các công cụ tự nguyện có thể kể như nhãn
sinh thái, thiết kế sinh thái và các hệ thống quản lý môi trường (EMS). Các công cụ truyền thống
như các tiêu chuẩn, quy định cưỡng chế, giáo dục và tập huấn cũng như các sắp xếp thể chế như
mua sắm công bền vững cũng thường được sử dụng. Công cụ kinh tế như thuế và trợ cấp cũng cần
thiết (tại Việt Nam, Luật thuế Môi trường đã có hiệu lực từ đầu năm 2012).
Két luận
Việt Nam nói chung và TP. Hồ Chí Minh nói riêng đang và sẽ phải trả giá cho những vấn đề
môi trường bởi sự tiêu dùng (sản xuất và cá nhân) quá mức. Để hạn chế nguy cơ này, sản xuất và
tiêu dùng phải hài hòa với BVMT, nhằm hướng đến việc giảm phát thải. Tại TP. Hồ Chí Minh
trong thời gian qua, một số các chương trình như Ngày hội tái chế chất thải, Tháng hành động
không sử dụng túi nylon, Chiến dịch Tiêu dùng sản phẩm xanh đã thu hút sự chú ý, quan tâm và
tham gia của cộng đồng, có thể xem là các biểu hiện ban đầu rất đáng khích lệ của tiêu dùng bền
vững. Các chương trình này phải được duy trì và nhân rộng thông qua các chính sách và thể chế hỗ
trợ phù hợp. Phương pháp tiếp cận đúng và hiểu biết chính xác về các nguyên tắc tiêu dùng bền
vững, nguyên tắc BVMT dựa vào cộng đồng,... cùng với sự gắn kết chặt chẽ và tạo cơ hội cho
những nhóm liên quan (người tiêu dùng, nhà sản xuất, nhà phân phối, nhà đầu tư, người tái chế và
xử lý rác, các tổ chức xã hội, báo đài và chính quyền) tham gia, sẽ giúp chúng ta lựa chọn và phát
triển thành công các mô hình tiêu dùng bền vững thích hợp cho Việt Nam.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Lê Văn Khoa - Nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo vệ môi trường tại TP.HCM-
Kinh nghiệm tổ chức Ngày hội tái chế chất thải TP.HCM, Hội thảo quốc tế "Nhận thức về nhu cầu
BVMT: Vai trò của giáo dục Đại học", ĐH Hoa Sen & ĐH An Giang, 21-23/7/2010.