ỦY BAN NHÂN DÂN TP.HCM
SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
SỞ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG TPHCM
QUỸ TÁI CHẾ CHẤT THẢI TPHCM
BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ 1 – 4
Đề tài: ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP GIẢM THIỂU
VIỆC SỬ DỤNG BAO BÌ NYLON TẠI THÀNH
PHỐ HỒ CHÍ MINH HƯỚNG ĐẾN XÃ HỘI
TIÊU THỤ BỀN VỮNG
Tp. HCM, Tháng11/2008
Nội dung:
Người thực hiện: Nguyễn Ngọc Trang
MỤC LỤC
1. TIÊU THỤ BỀN VỮNG 1
1.1. Định nghĩa tiêu thụ bền vững 1
1.2. Mối liên quan giữa tiêu thụ bền vững và sự phát triển của đất nước 1
1.3. Đối tượng tiêu thụ bền vững 2
1.4. Các sản phẩm và dịch vụ của tiêu thụ bền vững 2
1.5. Tiêu thụ bền vững và sản xuất bền vững 3
2. CÁC CÔNG CỤ TIÊU THỤ BỀN VỮNG 4
2.1. Thông tin sản phẩm 4
2.2. Ngăn chặn, giảm thiểu và tái chế chất thải 5
2.3. Nhận thức, giáo dục, và tiếp thị 6
2.4. Các hoạt động bền vững của cơ quan chính phủ 7
3. TIÊU THỤ BỀN VỮNG Ở VIỆT NAM 10
3.1. Các vấn đề và thách thức 10
3.2. Hướng đến xã hội tiêu thụ bền vững ở Việt Nam 11
4. KẾT LUẬN 14
1. TIÊU THỤ BỀN VỮNG
1
1.1. Định nghĩa tiêu thụ bền vững
Tiêu thụ là trọng tâm của quá trình sản xuất (bởi vì tiến hành sản xuất nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu
thụ). Tuy nhiên, tiêu thụ ngày nay làm tiêu tốn một lượng lớn nguồn tài nguyên thiên nhiên mà rất
nhiều trong số đó đang bị sử dụng dưới mức bền vững. Chỉ trong 50 năm qua, lượng nước ngọt sử
dụng trên toàn cầu đã tăng gấp ba và nhiên liệu hóa thạch tiêu hao hết gấp 05 lần. Tài nguyên có
thể tái tạo đang bị đe dọa. Thiệt hại được tính toán không chỉ trong các hệ sinh thái bị phá hủy mà
còn là dịch bệnh và cảnh khổ cực của loài người. Do đó, tiêu thụ là tác nhân trực tiếp hay gián tiếp
ảnh hưởng đến những vấn đề môi trường (chất thải phát sinh từ quá trình sản xuất làm ô nhiễm
môi trường) và sự phát triển bền vững. UNEP định nghĩa tiêu thụ bền vững là “mang đến cho
1
Nguồn: Hertwich E. & Katzmayr M., 2003 ; UNEP, 2005.
Ngày nay, chỉ 26% dân số trong khu vực hài lòng với mức thu nhập cá nhân như vậy. Vì vậy, viễn
cảnh được thiết lập cho việc gia tăng đáng kể số lượng của họ nếu sự tăng trưởng kinh tế tiếp tục.
Cùng lúc đó, cũng có một nhu cầu mạnh mẽ cho các quốc gia phát triển có mức tiêu thụ trên đầu
người quá mức, áp dụng biện pháp để giảm mức tiêu thụ này tớ
i những mức bền vững hơn. Vì
vậy, tiêu thụ bền vững có liên quan tới các quốc gia phát triển và không phát triển, mặc dù họ tiếp
cận vấn đề từ những hướng khác nhau. Nhu cầu phấn đấu tiến tới tiêu thụ bền vững quan trọng
cho tất cả các quốc gia và tất cả mọi người, cả giàu lẫn nghèo.
1.3. Đối tượng tiêu thụ bền vững
Từ “người tiêu thụ” thường được hiểu là những cá nhân tiêu thụ sản phẩm hay dịch vụ. Tuy nhiên,
những công ty (công ty sản xuất cũng như công ty dịch vụ) và những tổ chức tư nhân và công
cộng, bao gồm cả chính phủ, cũng là những khách hàng tiêu thụ. Những cơ quan tiêu thụ như vậy
lớn hơn gấp nhiều lần người tiêu thụ cá nhân và có thể ảnh hưởng một cách đáng kể đến tình hình
thị trườ
ng đối với các sản phẩm và dịch vụ bền vững.
Tiêu thụ bất kì dịch vụ hay sản phẩm đặc biệt nào hầu như cũng liên quan đến một tỉ lệ lớn những
bên có liên quan. Ngoài chính bản thân những người tiêu thụ ra, thường có những nhà sản xuất,
những nhà phân phối, những người xử lý rác, người có thẩm quyền, nhà đầu tư,… mà tất cả có lợi
theo hướng này hoặc hướng khác trong việc làm thế nào tiêu thụ được hình thành. Thêm vào đó,
những người sản xuất, các tổ chức xã hội và chính phủ cũng có thể được xem như những khách
hàng tiêu thụ các nguyên liệu, dịch vụ và thông tin theo nhiều cách khác nhau. Do đó, các bên có
liên quan được trao cơ hội để tham gia tích cực, hay ít nhất là tác động những nỗ lực tiêu thụ bền
vững mà ảnh hưởng đến họ.
1.4. Các sản phẩm và dịch vụ của tiêu thụ bền vững
Tiêu thụ bền vững là một vấn đề xã hội gay gắt. Nó có thể có áp dụng cho tất cả các sản phẩm và
nguyên thiên nhiên và gây ra những tác dụng phụ như xói mòn và tạo muối trong đất. Từ viễn
cảnh của chúng ta, tiêu thụ bền vững đề cập đến các biện pháp để đạt được sự phân bố công bằng
tiêu thụ trên toàn thế giới và giảm thiểu ảnh hưởng môi trường. Tuy nhiên, không phải tất cả các
biện pháp nhằm giảm thiểu ảnh hưởng xấu của con người xem như tiêu thụ bền vững.
Theo các nhà kinh tế, mục đích của sản xuất là tiêu thụ. Sự đánh giá các ảnh hưởng xã hội và môi
trường của các hộ gia đình là cần thiết nhằm giải thích cho các ảnh hưởng trực tiếp của các hộ gia
đình, như sự phát nhiệt từ việc đốt cháy nhiên liệu, và những ảnh hưởng không trực tiếp xảy ra
trong suốt quá trình sản xuất hàng hóa và phân phát dịch vụ đến các hộ gia đình, như việc phun
thuốc trừ sâu trong sản xuất nông nghiệp và việc phát sinh khí thải từ các bãi chôn lấp.
Nếu tất cả các ảnh hưởng phát sinh trong quá trình sản xuất hàng hóa hay phân phát sản phẩm và
tiêu thụ là giống nhau, thêm vào đó là những ảnh hưởng phát sinh trong quá trình tiêu thụ, thì nội
dung của tiêu thụ bền vững sẽ rất rộng. Điều này là không thực tế. Trong khi tiêu thụ và sản xuất
là hai mặt của cùng một đồng tiền thì vẫn có thể phân biệt giữa tiêu thụ bền vững và sản xuất bền
vững.
Chúng ta phân biệt những biện pháp hay hoạt động gọi là sản xuất hay là tiêu thụ. Rõ ràng hơn,
ảnh hưởng môi trường và xã hội của hộ gia đình có thể được giảm thiểu thông qua các biện pháp
sản xuất. Ví dụ, nếu sự phát sinh CO
2
của các quá trình sản xuất được giảm một nửa thì sự phát
sinh CO
2
của một hộ gia đình cũng sẽ giảm đi một nửa. Nếu những chiếc xe hơi mới, được trang
bị các bộ chuyển hóa xúc tác, thay thế cho những chiếc xe hơi cũ hơn không có bộ phận xúc tác,
thì sự phát sinh khí CO, NO
x
và VOCs do tiêu thụ sẽ giảm. Ví dụ đầu tiên là một trong những qui
trình sản xuất trở nên bền vững hơn, trong khi ví dụ thứ hai cho thấy sản xuất tự bản thân nó được
cải tiến. Không có ví dụ nào đòi hỏi bất cứ sự thay đổi nào về phần người tiêu dùng. Tất nhiên, có
thể có ảnh hưởng ràng buộc, vì giá của các sản phẩm có thể thay đổi, ảnh hưởng đến chất lượng
của các sản phẩm cũng như khả năng tài chính của người tiêu dùng. Những thay đổi về hiệu quả
họ sử dụng đồng tiền có giá trị hơn. Tuy nhiên, các kiểm tra ở châu Á chủ yếu tập trung vào các
khía cạnh chất lượng, cung cấp cho khách hàng thông tin về những khía cạnh được lựa chọn của
một sản phẩm.
Vì lí do này, cần có nhu cầu mở rộng những nỗ lực kiểm tra tập trung vào khía cạnh sức khỏe, an
toàn và hoạt động liên quan đến môi trường và xã hội. Đặc biệt, kiểm tra cho tiêu chuẩn bền vững
sẽ liên quan đến việc ki
ểm tra những vấn đề cùng với toàn bộ vòng đời sản phẩm (giai đoạn sản
xuất, tiêu thụ, và thải bỏ) hay dịch vụ. Kiểm tra sản phẩm là ưu tiên chính cho nhiều tổ chức khách
hàng, vì nó đẩy mạnh hơn sự tiếp cận thông tin sản phẩm cho khách hàng, và xác định những sản
phẩm không an toàn hay không phù hợp. Chính phủ có thể thực thi và khuyến khích trách nhiệm
người tiêu dùng bằng việc kiểm tra sản phẩm theo các chỉ thị bền vững, hoặc hỗ trợ các tổ chức
người tiêu dụng thực hiện. Một sự tiếp cận vòng đời sản phẩm trong kiểm tra rất quan trọng nhằm
hạn chế những kết quả sai lệch như các nghĩa vụ pháp lý về môi trường được chuyển từ một phần
trong chuỗi sản phẩm tới phần khác, hơn là thực sự được giải quyết. Hai yếu tố quan trọng trong
kiểm tra là những thử nghiệm so sánh và sự độc lập. 2
Nguồn: UNEP, 2005.
• Giấy chứng nhận sản phẩm độc lập
Ở châu Á, có nhiều lý do cần có giấy chứng nhận sản phẩm. Trong nhiều trường hợp, người tiêu
dùng muốn đảm bảo rằng sản phẩm họ mua an toàn và không gây hại đến môi trường. Trong
những trường hợp khác, những nhà sản xuất được yêu cầu phải chứng minh sản phẩm họ có chất
lượng. Hầu hết các giấy chứng nhận sản phẩm thường đi kèm với con dấu hay nhãn hiệu. Một
thách thức chính cho việc chứng nhận sản phẩm là việc áp dụng phí cho nhà sản xuất. Và phí này
thường được chuyển cho người tiêu dùng vào thời điểm bán hàng. Vì vậy, những nhà máy qui mô
nhỏ hay trung bình trong khu vực phàn nàn rằng việc chứng nhận sản phẩm thường tạo ra một rào
cản thị trường đối với họ. Để vượt qua điều này, những nhà làm luật châu Á cần đảm bảo rằng
chứng nhận sản phẩm nhằm kêu gọi trách nhiệm đối với môi trường và xã hội, nhưng nó cũng có ý
nghĩa về mặt tài chính đối với người tiêu dùng cũng như đối với các nhà sản xuất tìm kiếm lợi
3
Nguồn: UNEP, 2005.
bao gồm các giai đoạn tiêu thụ (và ngược lại) đã được các chuyên gia và người làm chính sách
châu Á xác nhận là cao nhất.
• Giảm thiểu chất thải đề cập đến nhiều công nghệ/hoạt động xử lý chất thải để lượng chất thải
còn lại cuối cùng được xử lý giảm tối thiểu. Giảm thiểu chất thải bao gồm giảm thiểu, phục hồi, tái
chế, làm phân compost, đốt (với những công nghệ sạch phù hợp và phục hồi năng lượng), và chôn
lấp. Nhiều quốc gia, ở châu Âu và một vài quốc gia ở châu Á đã áp dụng chính sách 3R như một
nguyên tắc hướng dẫn quản lý chất thải.
Để thực hiện những chiến lược ngăn chặn và giảm thiểu chất thải, cần có sự hợp tác của chính
phủ, nhà sản xuất và người tiêu thụ. Các chính phủ có thể đưa ra các khung chính sách và luật
nhằm cung cấp cho nhà sản xuất những động cơ để giảm thiểu phát sinh chất thải tại nguồn. Ví dụ,
thay đổi các quy định về bao bì và áp dụng thuế sinh thái lên bao bì và các sản phẩm thải bỏ sẽ
khuyến khích các nhà sản xuất giảm sử dụng bao bì hay sử dụng bao bì phân hủy sinh học hoặc
bao bì có thể sử dụng lại. Hơn nữa, các chính phủ có thể can thiệp về mặt nhu cầu bằng cách cung
cấp thông tin đúng cho khách hàng về những sản phẩm ít bao bì và những sản phẩm thân thiện với
môi trường hơn.
• Lối sống người tiêu dùng châu Á cho thấy có một sự gia tăng trong việc tiêu thụ các sản phẩm
dễ thải bỏ, khẩu phần cá nhân và các sản phẩm có quá nhiều bao bì. Điều này làm gia tăng lượng
chất thải rắn phát sinh. Ngoài những nguyên tắc như trách nhiệm “thu hồi” của nhà sản xuất quan
trọng cho việc giảm chất thải thì người tiêu dùng cũng nên được khuyến khích đóng góp một vai
trò thiết thực. Ví dụ, người tiêu thụ phải có trách nhiệm bảo đảm các sản phẩm đã sử dụng được
đưa trở lại các nơi hồi phục. Cộng đồng có một vai trò quan trọng trong việc đảm bảo rằng các
chất hữu cơ phát sinh từ cộng đồng (chất thải thực phẩm, rác vườn) được làm phân compost và trả
về môi trường một cách an toàn. Kết quả, tái chế chất thải được xem như một phương tiện giảm
thiểu chất thải phát sinh bởi việc tiêu thụ không bền vững của các hộ gia đình ở châu Á.
2.3. Nhận thức, giáo dục, và tiếp thị
4
và các tổ chức người tiêu dùng không đặc biệt chú trong việc giáo dục người tiêu dùng. Hơn nữa,
các tổ chức người tiêu dùng châu Á đã xem thái độ thờ ơ và học vấn thấp của người tiêu dùng như
là những thách thức khi phát triển các chương trình giáo dục người tiêu dùng.
• Tiếp thị
Ở châu Á, có một sự công nhận mạnh mẽ rằng sự phát triển của các sản phẩm bền vững là
bước then chốt đầu tiên trước khi cân nhắc các giải pháp tiếp thị cho tiêu thụ bền vững. Sự đổi mới
và thiết kế sản phẩm sinh thái cần có sự ủng hộ của các ngành công nghiệp và chính phủ. Tuy
nhiên, những khía cạnh này có liên quan đến khía cạnh sản xuất trong chuỗi giá trị của sản phẩm.
Tiếp thị sản phẩm để khuyến khích tiêu thụ bền vững là cung cấp cho người tiêu dùng những
thông tin về sản phẩm hay dịch vụ đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng mà không làm thiệt hại môi
trường và kết cấu xã hội dọc theo chuỗi giá trị. Mặc khác, tiếp thị có ảnh hưởng trực tiếp đến khía
cạnh tiêu thụ. Tiếp thị sản phẩm khuyến khích tiêu thụ bền vững là cung cấp cho người tiêu dùng
các thông tin về sản phẩm hay dịch vụ nhằm đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng mà không làm thiệt
hại cấu trúc xã hội hay môi trường trong chuỗi giá trị. Tất cả sản phẩm đều có những thuộc tính: ví
dụ, giá cả, chất lượng, tiện ích, và vị trí mua bán. Tuy nhiên, ngày càng nhiều sản phẩm có cả
thuộc tính đạo đức. Ví dụ, người uống cà phê có thể mua cà phê nguyên hạt được trồng bằng phân
h
ữu cơ và mua trực tiếp từ những nhà nông được cấp giấy chứng nhận. Trách nhiệm xã hội của tập
thể, quảng cáo bền vững, đóng nhãn và dán nhãn sinh thái là những khía cạnh thích hợp cho việc
tiếp thị các sản phẩm tiêu thụ bền vững cho người tiêu dùng.
2.4. Các hoạt động bền vững của cơ quan chính phủ
5
Trong hầu hết các quốc gia, các cơ quan chính phủ và các cơ quan khác là những người mua hàng
hóa và dịch vụ lớn nhất từ những món hàng cơ bản đến các trang thiết bị công nghệ cao. Do đó,
việc mua sắm của họ là một trong những đòn bẩy chính ủng hộ sản xuất và tiêu thụ bền vững. Một
thị trường lớn được tạo ra theo cách này có thể là chìa khóa cho xu hướng hàng hóa và dịch vụ bền
vữ
ng hơn.
• Các cơ quan chính phủ thường mua với một số lượng lớn nên có vị trí trong việc thương thuyết
Sử dụng hiệu
quả tài nguyên
Sản xuất sạch
hơn; ISO14001
Sử dụng
Mở rộng trách
nhiệm người sản
xuất
Cấm vật liệu độc
hại
Mua sắm công xanh
Cộng đồng bền vững
dựa trên phân tích vòng đời sản phẩm (Wei Zhao & Emilie Mazzacurati. 2007)
3. TIÊU THỤ BỀN VỮNG Ở VIỆT NAM
3.1. Các vấn đề và thách thức
6
Hiện nay, tốc độ công nghiệp hóa và đô thị hóa ở Việt Nam đang xảy ra rất nhanh. Nhiều khu
công nghiệp, trung tâm thương mại và đô thị mới đã và đang được xây dựng. Công nghiệp hóa và
đô thị hóa là hai quá trình xảy ra song song và có mối liên hệ mật thiết với nhau. Hai quá trình này
thúc đẩy sự tiêu thụ: tiêu thụ trong sản xuất và tiêu thụ cá nhân. Ngày nay, tiêu thụ ở Việt Nam
được đánh giá là không thích hợp và đang trở thành một vấn đề nghiêm trọng như:
Gia tăng tiêu thụ trong sản xuất không đi kèm với gia tăng các hiệu quả kinh tế bởi vì công nghệ
sản xuất không được cải tiến đúng mức. Ngoài ra, giá thành của các nguyên liệu, năng lượng khai
thác trong nước cũng như nhập từ ngoài vào ngày càng gia tăng nên gia tăng tiêu thụ sản xuất ở
Việt Nam tương ứng với giảm hiệu quả sản xuất trong nhiều năm quá.
Gia tăng tiêu thụ cá nhân ngày nay là không thích hợp so với mức sống và thu nhập của người
dân. Mô hình tiêu thụ của người dân được đánh giá là không những không phù hợp so với mức
sống mà còn tạo nên gánh nặng cho nền kinh tế và gây ô nhiễm môi trường.
Gia tăng tiêu thụ (tiêu thụ sản xuất và tiêu thụ cá nhân) đang gây ô nhiễm môi trường. Ô nhiễm
gom. Nhìn chung, xử lý chất thải ở Việt Nam không đạt tiêu chuẩn và tạo nên các áp l
ực và thách
thức bảo vệ môi trường. Để giải quyết các vấn đề này, cần có thời gian và vốn để vượt qua. Hiện
tại ở Việt Nam, hơn 90% chất thải rắn được chuyển đến các bãi chôn lấp làm gia tăng gánh nặng
tìm kiếm địa điểm mới cho các bãi chôn lấp, các nguy cơ và nguy hiểm cho môi trường và sức
khỏe con người cũng lãng phí các nguyên liệu có thể tái chế và nguồn năng lượng cho sả
n xuất.
3.2. Hướng đến xã hội tiêu thụ bền vững ở Việt Nam
Nguyễn Danh Sơn (2007) cho rằng: Tại Việt Nam, chính sách phát triển bền vững hướng đến các
nhu cầu tiêu thụ bền vững nhằm mục đích:
a. Khuyến khích xây dựng mô hình tiêu thụ (tiêu thụ sản xuất và tiêu thụ cá nhân) phù hợp
với kinh tế Việt Nam, các điều kiện văn hóa xã hội trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và đáp
ứng các nhu cầu phát triển bền vững.
b. Sử dụng các công cụ kinh tế như thuế tiêu thụ để điều chỉnh các hành vi tiêu thụ không phù
hợp.
c. Thể chế hóa các tiêu chuẩn, tiêu chí về lối sống mới, đồng thời thể hiện mô hình tiêu thụ
hợp lý. Đây là sự cụ thể hóa yêu cầu của Chính phủ Việt Nam về vấn đề bảo vệ môi trường trong
giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa, cụ thể là xây dựng các tiêu chí, chuẩn mực về việc đánh
giá mức độ bảo vệ môi trường của các xí nghiệp, cơ quan, cá nhân, và gia đình.
d. Tạo thị trường cho chất thải: Thay đổi lối suy nghĩ chất thải là chất thải và phải được đem
đi chôn lấp thay vì sử dụng chất thải theo hướng tiết kiệm nhất trước khi thải chúng trở lại tự
nhiên. Điều đó có nghĩa là làm cho chất thải trở thành hàng hóa. Tạo thị trường cho chất thải trước
hết phải có chính sách cũng như các dịch vụ hỗ trợ nhằm tạo cung cầu.
Ở Việt Nam, chính sách quản lý chất thải hiện tại tập trung chủ yếu vào việc giải quyết chất thải
phát sinh mà không giảm thiểu chúng. Tuy nhiên hiệu quả của cách tiếp cậ
n này chỉ đạt mức độ
nhất định. Để giảm thiểu lượng chất thải phát sinh, tránh những tổn thất môi trường và nâng cao
hiệu suất sử dụng các nguồn tài nguyên hướng đến một nền sản xuất xuất và tiêu thụ bền vững,
việc xây dựng và thực hiện chiến lược SCP tại Việt Nam cần dựa trên phương pháp luận vòng đời
sản phẩm (life cycle thinking) (cũng xem hình H 2.1). Quan điểm này vượt qua sự tập trung truyền
Hình 2.2. Tiếp cận tổng hợp cho sản xuất và tiêu thụ bền vững (Nguồn: UNEP, 2004)
Gợi ý cho các công cụ và hoạt động hỗ trợ
Chính sách Luật
pháp
Công cụ kinh tế
Xây dựng điển hình Nâng cao nhận thức
Thông tin
Giáo dục
Phá i
ể ồ hâ
l
Nhữn
g
gợ
i
ý
về các cách tiế
p
c
ậ
n
q
uản l
ý
môi
Sản xuất s
ạ
ch
Q
P
)
TIÊU THỤ
(XÃ HỘI)
CHẤT THẢI
& TÀI
NGUYÊN
(
MÔI Các gợi ý cho việc xây dựng chiến lược sản xuất và tiêu thụ bền vững (SCP) ở Việt Nam
Không có một mô hình chuẩn nào để xây dựng và thực hiện một chiến lược SCP cho một quốc
gia. Tùy thuộc vào điều kiện và các ưu tiên phát triển KT-XH và môi trường, vào đặc điểm văn
hóa, chính trị của quốc gia để thực hiện chương trình SCP. Thường thì nó được gắn kết trong
những chiến lược quốc gia khác như chiến lược phát triển bền vững.
Trong thực tế ở nhiều nước, hoạt động SCP được giám sát bởi ủy ban tư vấn hoặc hội đồng quốc
gia bao gồm rộng rãi các chuyên gia từ chính phủ, doanh nghiệp và các tổ chức phi chính phủ.
Nhóm công tác này thường là mở rộng của các hội đồng môi trường và phát triển bền vững quốc
gia có trước đó. Việc triển khai chương trình SCP do những nhóm liên đới chính đa ngành thực
hiện do bản chất đa ngành của các mô hình sản xuất và tiêu thụ và mối liên quan của rất nhiều các
nhân tố trong các vòng đời sản phẩm và dịch vụ. Từ đó, các quan điểm và mục tiêu của chương
trình sẽ được ủng hộ rộng rãi.
Việc chọn các công cụ chính sách cho chương trình phụ thuộc lớn vào các mục tiêu và các ưu tiên
chính. Một số quốc gia thiên về các công cụ tự nguyện (voluntary) hơn là cưỡng chế (regulatory).
Một số nước khác dựa vào cả công cụ tự nguyện và truyền thống. Các công cụ tự nguyện có thể kể
như nhãn sinh thái (eco-labels), thiết kế sinh thái (eco-design) và các hệ thống quản lý môi trường
(EMS). Các công cụ truyền thống như các tiêu chuẩn, quy định cưỡng chế, giáo dục và tập huấn
cũng như các sắp xếp thể chế như mua sắm công bền vững cũng thường được sử dụng. Công cụ
mấu chốt của vấn đề bảo vệ môi trường chính là tiêu thụ. Tiêu thụ quá mức là nguyên nhân cơ bản
tạo ra chất thải và các tác động đến môi trường và xã hội. Tiêu thụ thế nào để các tài nguyên tái
tạo có thể tái tạo được và giảm thiểu sự lãng phí các nguồn tài nguyên không tái tạo. Tiêu thụ bền
vững chính là cách phòng ngừa tốt nhất, đảm bảo lợi ích cho hiện tại và tương lai. Tiêu thụ bền
vững và quản lý chất thải tổng hợp bền vững là những khái niệm tương đối mới ở Việt Nam.
Phương pháp tiếp cận đúng và hiểu biết chính xác về các nguyên tắc tiêu thụ bền vững và quản lý
chất thải tổng hợp bền vững sẽ giúp Việt Nam lựa chọn và tìm ra các quản lý chất thải kinh tế nhất
và tốt nhất.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Hertwich E. & Katzmayr M., 2003. Examples of Sustainable Consumption Review,
Classification and Analysis. Industrial Ecology Programme, report 5/2004.
2. Matthew Bentley, 2008. Planning for Change - Guidelines for National Programmes on
Sustainable Consumption and Production. UNEP.
3. Nguyen Danh Son, 2007. Sustainable Consumption in Vietnam – A point of view of Integrated
Sustainable Waste Management. Asian-Pacific Roundtable Conference. Hanoi
4. United Nations Environment Programme, 2005. Advancing Sustainable Consumption in Asia –
A Guidance Manual. Division of Technology, Industry and Economics.
BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ
2.8 Đài Loan 14
2.9 Đức 14
2.10 Hồng Công 14
2.11 Ireland 14
2.12 Israel 15
2.13 Mỹ 15
2.14 New Zealand 18
2.15 Nhật 18
2.16 Pháp 19
2.17 Singapore 19
2.18 Thổ Nhĩ
Kỳ 19
2.19 Trung Quốc 19
2.20 Úc 20
3. NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM 24
4. KIẾN NGHỊ 25
Tài liệu tham khảo 27
LỜI NÓI ĐẦU Hiện nay môi trường đang là vấn đề bức xúc của toàn nhân loại, mang tính chất toàn cầu được
toàn xã hội quan tâm. Khoảng 20 năm thời kỳ đổi mới và mở cửa, nền kinh tế Việt Nam đã tăng
trưởng khá nhanh. Tuy nhiên sự tăng trưởng kinh tế đã kéo theo sự suy thoái về môi truờng. Đồng
thời cũng chính từ sự phát triển nhanh chóng ấy đã làm nảy sinh nhiều vấn đề môi trường nghiêm
trọng, đã làm biến động môi trường theo cả hai hướng tích cực và tiêu cực. Trong đó, những vấn
đề đáng quan tâm do phát triển kinh tế-xã hội tác động đến môi trường theo hướng tiêu cực là: Đã
làm thay đổi hệ cân bằng sinh thái, tài nguyên thiên nhiên bị khai thác quá mức cho phép; rừng
Nhưng qua nhiều năm, số lượng túi nhựa đã tăng lên và chúng trở thành một vấn đề lớn
về chất thải. Túi nhựa thu gom trên đường phố. Gió thổi chúng qua các thành phố. Các túi
nhựa trên biển có thể giết chết cá và chim. Và túi nhựa có đầy ở những vùng đất bỏ hoang.
Nhiều loại chất thải có thể nhanh chóng phân hủy vào đất trồng tự nhiên nhưng với túi nhựa
thì không dễ dàng như vậy. Túi nylon có phải là vấn đề lớn về chất thải ở nơi bạn không?
Nhiều người đang cố giải quyết vấn đề về chất thải từ các túi nhựa. Các ý tưởng của họ
rất sáng tạo và dễ dàng đối với bất kỳ ai cố gắng.
1. 1 Thành phần
Có hai loại túi nylon:
1. Polyethylene mật độ cao (HDPE) – các túi nhựa mỏng thường được dùng trong các
siêu thị, gói đồ tươi sống, thực phẩm mang về và những sản phẩm không có nhãn mác
khác.
2. Polyethylene mật độ thấp (LDPE) – các túi của các cửa hàng, thường được gắn nhãn
mác và được sử dụng để mang các hàng hóa có giá trị cao.
Cả HDPE và LDPE được sản xuất từ ethylen (sản phẩm phụ của khí gaz hoặc dầu tinh
chế), là nguồn tài nguyên không thể tái tạo được. Không giống như HDPE, LDPE không thể
tái chế được. (Plastic shopping bags in Australia, 2002). Túi nylon có rất nhiều màu sắc, và
màu sắc này không phụ thuộc vào loại và chất lượng của túi. Tuy nhiên, các túi nylon làm từ
nguyên liệu nhựa chính phẩm thường trong suốt và có màu sắc sáng, còn các loại túi nylon
làm t
ừ nhựa tái sinh có màu sẫm, hoặc là màu sáng mà không trong suốt, có nhiều vệt loan.
1.2 Ưu điểm
Sự bền bĩ, chắc chắn, giá thấp, chống nước và hóa chất, có thể hàn kín, đòi hỏi ít năng lượng
và hóa chất hơn trong sản xuất, ít phát nhiễm ta không khí, nhẹ…là các điểm mạnh của túi nhựa.
Nhiều nghiên cứu so sánh túi nhựa với túi giấy cho thấy túi nhựa thật ra ít gây đến môi trường hơn
là túi giấy, đòi hỏi ít năng lượng hơn để sản xuất, vận chuyển và tái chế. Tuy nhiên những nghiên
cứu này cũng cho biết tỷ lệ tái chế nhựa lại mang ý nghĩa thấp hơn là giấy. Túi nhựa có thể được
• Túi nhựa rất mỏng và không thể đứng tốt như bằng giấy hay sợi đay.
• Khi thải ra không đúng cách, sẽ không đẹp mắt và bị coi như một mối nguy hại cho
cuộc sống.
• Túi nylon, thông thường hay có thể phân hủy sinh học, cũng không hoàn toàn phân
hủy trong các bãi chôn lấp hợp vệ sinh
• Vứt túi nhựa bừa bãi gây tắc nghẽn hệ thống cống rãnh, từ đó gây ngập lụt khi có các trận
mưa lớn.
1.4 Các tác động đến môi trường
Túi nhựa kết thúc như rác thải hôi thối trên mặt đất, giết chết hàng ngàn động vật có vú mỗi
năm do nhầm lẫn các túi trôi nổi là thức ăn. Túi plastic được chôn trong các bãi chôn lấp có thể
mất hàng ngàn năm để tan rã, và theo thời gian, chúng phân chia thành những thành phần độc hại
ngày càng nhỏ hơn do đó có thể gây nhiễm bẩn đất và nước. Hơn nữa, việc sản xuất túi nhựa tiêu
tốn hàng triệu lít dầu thay vì được dùng làm nhiên liệu và sưởi ấm.
Hình 1.1. Con rùa nuốt túi nylon vào bụng
Hình 1.2. Túi nylon tìm thấy trong con rùa Leatherback ở Ballycotton (7/2007) Hình 1.3. Túi nylon trong dạ dày con cá voi ở Cuvier's năm 2004
Hình 1.4. Túi nylon được tìm thấy trong có voi ở Normandy, 2002
Vì sao lại cho rằng việc sử dụng túi nhựa lại gây tác động đến môi trường? Căn bản là vì các
túi nhựa không thể phân hủy. Túi nhựa vứt đi như rác trên mặt đất, không thể phân hủy và do đó