Nêu và lí giải những điểm khác nhau giữa chếđịnh nuôi con nuôi trong Luật HN và GĐ năm 2000 và Luật nuôi con nuôi năm2010 về điều kiện và hậu quả pháp lí của việc nuôi con nuôi - Pdf 34

MỤC LỤC
MỞ BÀI
NỘI DUNG
I.
Khái niệm

II.

Sự khác nhau về điều kiện và hệ quả pháp lý của việc nuôi con nuôi
giữa Luật Nuôi con nuôi 2010 và chế định nuôi con nuôi trong Luật
Hôn nhân và Gia đình 2000.
1. Điều kiện của việc nuôi con nuôi
1.1. Điều kiện đối với người được nhận làm con nuôi.
1.2. 1.2. Điều kiện đối với người nhận nuôi con nuôi.
2. Điều kiện về ý chí của các bên chủ thể
3. Hậu quả pháp lí của việc nuôi con nuôi
3.1. Về mối quan hệ ba bên giữa cha mẹ nuôi, con nuôi, cha mẹ đẻ
3.2. Vấn đề về báo cáo tình hình phát triển của con nuôi

III.

Những hạn chế cần sửa đổi bổ sung
a. Vấn đề về điều kiện của việc nuôi con nuôi
b. Hệ quả pháp lý của nuôi con nuôi

KẾT BÀI

1


MỞ BÀI

1.1. Điều kiện đối với người được nhận làm con nuôi.
Luật Nuôi Con Nuôi đã thống nhất các điều kiện của người được nhận làm con
nuôi trong nước và nước ngoài như nhau tại Điều 8. Điều 1 Nghị định 69/2006/ NĐ- CP
còn quy định thêm các điều kiện cho trẻ em được nhận làm con nuôi ở nước ngoài. Sự
khác nhau cơ bản vấn đề này cụ thể như sau :

2


Quy định về độ tuổi, theo Khoản 1 Điều 68 Luật Hôn Nhân & Gia Đình năm
2000 quy định “người được nhận làm con nuôi phải là người từ 15 tuổi trở xuống trừ
trường hợp con nuôi là người tàn tật, người mất năng lực hành vi dân sự hoặc làm con
nuôi của người già yếu cô đơn”, còn Luật Nuôi Con Nuôi lại quy định tại Khoản 1 Điều
8 về độ tuổi của người được nhận làm con nuôi là “Trẻ em dưới 16 tuổi”.
Sự điều chỉnh về độ tuổi của người được nhận làm con nuôi là để phù hợp với
mục đích chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ em được nhận làm con nuôi trong môi
trường gia đình, đồng thời điều này phù hợp với độ tuổi được coi là trẻ em trong Luật
chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em. Việc quy định 15 tuổi trở xuống có phần không
phù hợp với thực tế và với bản chất của việc nuôi con nuôi vì mục đích nuôi con nuôi
trước hết hướng tới đối tượng là trẻ em không được nuôi dưỡng, chăm sóc trong gia đình
ruột thịt nên việc nuôi con nuôi là để tạo điều kiện cho trẻ em có một cuộc sống xứng
đáng với quyền và lợi ích hợp pháp của các em.
Nếu chỉ quy định độ tuổi mà không kèm theo điều kiện khác của người được cho
làm con nuôi đã dẫn đến nhận thức rằng mọi trẻ em từ 15 tuổi trở xuống đều có thể được
cho làm con nuôi. Điều này đã dẫn đến một số đối tượng nhận nuôi con nuôi nhằm
những mục đích khác, không nhằm xác lập quan hệ cha mẹ và con giữa người nhận nuôi
và người được nhận làm con nuôi. Ví dụ, việc cho trẻ em làm con nuôi của người có
hoàn cảnh khó khăn hoặc có hộ khẩu nằm trong diện chính sách ưu đãi, diện Vùng đặc
biệt khó khăn để được hưởng các chế độ đãi ngộ của nhà nước dành cho các đối tượng
này, nhưng trẻ em được nhận nuôi vẫn sống ở nhà cha mẹ đẻ, quan hệ cha mẹ và con

mẹ kế của trẻ em muốn nhận trẻ em đó làm con nuôi.
Quy định đối với người làm con nuôi, khoản 2 điều 68 Luật Hôn Nhân và
Gia Đình năm 2000: “Một người chỉ có thể làm con nuôi một người hoặc của cả hai vợ
chồng” còn tại khoản 3 Điều 8, Luật Nuôi Con Nuôi năm 2010 lại quy định: “một
người chỉ được làm con nuôi của một người độc thân hoặc của cả hai người là vợ
chồng”. Quy định của luật Hôn Nhân và Gia Đình chưa làm rõ vấn đề một người đã có
vợ hoặc chồng có được phép nhận con nuôi riêng hay không. Luật Nuôi Con Nuôi đã có
sự thay đổi, hiểu theo quy định của khoản 3 điều 8, luật chỉ cho phép một người độc thân
hoặc cả hai vợ chồng nhận con nuôi như vậy đồng nghĩa với việc Luật không cho phép
người đã có vợ hoặc chồng nhận con nuôi riêng, việc nhận con nuôi cần có sự thống nhất
của cả hai vợ chồng. Đây cũng một điều luật nhằm đảm bảo cho trẻ được cho làm con
nuôi có một môi trường gia đình trọn vẹn, có sự yêu thương của tất cả các thành viên
trong gia đình.
1.2. Điều kiện đối với người nhận nuôi con nuôi.
Trường hợp nuôi con nuôi trong nước:
Luật Nuôi Con Nuôi tiếp tục kế thừa một số điều kiện của người nhận con nuôi
như: có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên, có tư cách đạo
đức tốt…Và cũng nêu cụ thể những trường hợp không được nhận nuôi con nuôi tại
khoản 1 và 2 Điều 14.

4


Về điều kiện thực tế để nuôi con nuôi, trong Luật Hôn Nhân & Gia Đình tại
khoản 4 Điều 69 quy định : “có điều kiện thực tế đảm bảo việc trông nom, chăm sóc,
nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi”, tại điểm c khoản 1 điều 14 Luật Nuôi Con Nuôi năm
2010 được bổ sung đầy đủ hơn là điều kiện về sức khoẻ, kinh tế, chỗ ở đảm bảo việc
chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi, Luật Nuôi Con Nuôi có sự quy định cụ thể rõ
ràng hơn về vấn đề này đã tạo sự thuận lợi cho những người có thẩm quyền trong việc
xem xét điều kiện của người nhận nuôi, dễ giải quyết các trường hợp nhận nuôi con nuôi

thì việc xác định điều kiện của người xin nhận con nuôi lại dựa trên pháp luật Việt Nam
và pháp luật nơi đó thường trú. Sở dĩ lại có quy định như vậy nhằm bảo đảm sự phù hợp
giữa pháp luật trong nước và pháp luật quốc tế. Như vậy Luật Hôn Nhân và Gia Đình có
sự mâu thuẫn về vấn đề trên. Còn Khoản 1 Điều 29 Luật Nuôi Con Nuôi 2010 quy định:
“Người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài thường trú ở nước ngoài
nhận người Việt Nam làm con nuôi phải có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật nơi
người đó thường trú và quy định tại điều 14 của Luật này”.
Luật Nuôi Con Nuôi đã giải quyết tình trạng mẫu thuận giữa các quy định trước
đây, mặt khác Luật Nuôi Con Nuôi đã thể hiện sự kế thừa hợp lí trong NĐ 68/2002/NĐCP và NĐ 69/2006/ NĐ- CP.
Vấn đề điều kiện của người nhận con nuôi có yếu tố nước ngoài còn được quy
định tại điều 28 Luật Nuôi Con Nuôi 2010. Theo khoản 1 Điều 28: “Người Việt Nam
định cư ở nước ngoài, người nước ngoài thường trú ở nước cùng là thành viên của điều
ước quốc tế về nuôi con nuôi với Việt Nam làm con nuôi”. Luật quy định chỉ cho làm
con người nước ngoài khi không thể tìm được gia đình thay thế ở trong nước. Đây cũng
là nguyên tắc được thừa nhận trong các văn kiện pháp lý quốc tế. Nếu việc nuôi dưỡng
trong phạm vi gia đình không thể thực hiện được thì phải tính đến các biện pháp chăm
sóc thay thế ở trong nước, trong đó có việc nuôi con nuôi. Chỉ sau khi đã xem xét thỏa
đáng các giải pháp trong nước mà vẫn không tìm được mái ấm gia đình cho trẻ thì mới
tính đến việc cho trẻ em làm con nuôi người nước ngoài và việc đó phải vì lợi ích tốt
nhất của trẻ.
Khoản 2 Điều 28 quy định về các trường hợp người Việt Nam định cư ở nước
ngoài, người nước ngoài thường trú ở nước ngoài được nhận con nuôi đích danh. Có thể
nhận thấy người nhận nuôi con nuôi không nhất thiết phải đáp ứng điều kiện định cư
hoặc thường trú tại quốc gia kí kết hợp tác về nuôi con nuôi với Việt Nam. Chỉ cần việc
nuôi con nuôi thuộc một trong các trường hợp tại Khoản 2 Điều 28 thì người nhận nuôi
con nuôi có thể nhận nuôi đích danh, người nước ngoài không thường trú ở Việt Nam
nhận con nuôi ở Việt Nam phải trả một khoản tiền bù đắp một phần chi phí cho việc giải
quyết nuôi con nuôi nước ngoài, bao gồm chi phí nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ em từ khi
được giới thiệu làm con nuôi đến khi hoàn thành thủ tục giao nhận con nuôi, xác minh
nguồn gốc của người được giới thiệu làm con nuôi, giao nhận con nuôi và thù lao hợp lý

trên cổng thông tin điện tử của Bộ Tư pháp. Nếu hết thời hạn này mà không có người
trong nước nhận làm con nuôi, thì trẻ em mới được giới thiệu làm con nuôi người nước
ngoài. Bên cạnh đó, Điều 36 của luật còn quy định, nếu hết thời hạn nêu trên, trẻ em
đang được xem xét để giới thiệu cho làm con nuôi người nước ngoài nhưng Sở Tư pháp
chưa giới thiệu cho người xin con nuôi cụ thể nào đó, mà có người trong nước nhận trẻ
em làm con nuôi thì vẫn được xem xét giải quyết. Như vậy, trẻ em có hoàn cảnh đặc
biệt được tạo cơ hội đến mức tối đa để tìm được mái ấm gia đình thay thế. Luật còn quy
định công dân trong nước có nhu cầu và nguyện vọng nhận trẻ em làm con nuôi mà chưa

7


xác định được trẻ em cần nhận làm con nuôi, thì có thể đăng ký nhu cầu với Sở Tư pháp
nơi thường trú (Điều 16), nếu có trẻ em để giới thiệu thì Sở Tư pháp giới thiệu người đó
đến UBND cấp xã nơi thường trú để xem xét giải quyết.
2. Điều kiện về ý chí của các bên chủ thể:
Luật Hôn Nhân & Gia Đình 2000 chưa quy định rõ ràng về các hình thức nuôi
con nuôi và hậu quả pháp lý của việc cha mẹ đẻ cho con nuôi, cụ thể là về quyền và
nghĩa vụ của cha mẹ đẻ với con đem cho người khác nuôi, như vậy về mặt ý chí của các
bên chủ thể của Luật này còn lỏng lẻo. Theo Luật Nuôi Con Nuôi, việc cho trẻ em làm
con nuôi vẫn cần phải có dự đồng ý của cha mẹ đẻ, người giám hộ của trẻ em từ 09 tuổi
trở lên. Luật còn quy định rõ sự đồng ý này là phải hoàn toàn tự nguyện, trung thực
không bị ép buộc, không bị đe doạ hay mua chuộc, không vụ lợi, không kèm theo yêu
cầu trả tiền hoặc lợi ích vật chất khác (Điều 21). Trong việc giới thiệu trẻ em làm con
nuôi, cũng phải bảo đảm quyền được thể hiện ý kiến, quyền được lựa chọn của trẻ em để
tránh tư tưởng áp đặt từ phía người lớn. Luật Nuôi Con Nuôi còn quy định: Cha, mẹ đẻ
chỉ được đồng ý cho con làm con nuôi sau khi con đã được sinh ra ít nhất 15 ngày, đây
là quy định nhằm tránh các trường hợp cha mẹ đẻ và các cá nhân tổ chức khác có sự thoả
thuận cho trẻ làm con nuôi trước khi sinh, hoặc cha mẹ đẻ trong hoàn cảnh đặc biệt đã
chấp nhận con vừa sinh ra làm con nuôi mà không có sự suy nghĩ kĩ lưỡng.

ra cơ sở pháp lí để đảm bảo quyền và nghĩa vụ của mỗi bên chủ thể trong quan hệ nuôi
con nuôi:
Đối với quan hệ cha mẹ nuôi và con nuôi, Khoản 1 Điều 24 Luật Nuôi Con Nuôi
quy định: “kể từ ngày giao nhận con nuôi, giữa cha mẹ nuôi và con nuôi có đầy đủ các
quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con; giữa con nuôi và các thành viên khác trong gia
đình cha mẹ nuôi cũng có quyền, nghĩa vụ đối với nhau theo quy định của pháp luật về
hôn nhân và gia đình, pháp luật dân sự và các quy định khác của pháp luật có liên
quan”. Điều luật này có sự kế thừa Điều 74 của Luật Hôn Nhân & Gia Đình năm 2000.
Có nghĩa là kể từ thời điểm đăng kí nuôi con nuôi, cha mẹ nuôi sẽ có quyền và nghĩa vụ
đối với con như chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con, là người đại diện pháp luật cho con
chưa thành niên, mất năng lực hành vi, ngược lại con nuôi cũng phải làm tròn vai trò và
trách nhiệm của mình theo quy định của pháp luật, cha mẹ nuôi và con nuôi có quyền
hưởng di sản thừa kế của nhau theo quy định của pháp luật thừa kế…Và khoản 4 Điều
24 cũng quy định rõ “Trừ trường hợp giữa cha mẹ đẻ và cha mẹ nuôi có thỏa thuận
khác, kể từ ngày giao nhận con nuôi, cha mẹ đẻ không còn quyền, nghĩa vụ chăm sóc,
nuôi dưỡng, cấp dưỡng, đại diện theo pháp luật, bồi thường thiệt hại, quản lý, định đoạt
tài sản riêng đối với con đã cho làm con nuôi”. Luật Nuôi Con Nuôi quy định thêm về
mối quan hệ pháp lí giữa con nuôi và các thành viên khác trong gia đình cha mẹ nuôi,
khi trở thành thành viên trong gia đình cha mẹ nuôi, con nuôi sẽ có mối quan hệ chặt
chẽ, gắn bó, có quyền và nghĩa vụ với các thành viên khác trong gia đình như con đẻ.
Những quy định này đã cụ thể hóa vai trò, quyền và nghĩa vụ của con nuôi và cha mẹ
nuôi, điều này giúp con nuôi có thể hoà nhập vào gia đình của cha mẹ nuôi, không có sự

9


phân biệt đối xử giữa con nuôi và con đẻ. Như vậy mối quan hệ cha mẹ nuôi và con nuôi
trong Luật Nuôi Con Nuôi có sự gắn bó chặt chẽ hơn về quyền và nghĩa vụ với cha mẹ
nuôi.
Luật Hôn Nhân & Gia Đình 2000 quy định rất ít về vấn đề mối quan hệ giữa con

10


thể hoá trong các quy định về điều kiên của người được nhận nuôi. Sự thiếu sót này có
thể dẫn đến tình trạng mặc dù cha mẹ đẻ vẫn có đủ điều kiện nuôi dưõng nhưng vẫn cho
trẻ làm con nuôi để nhằm mục đích khác. Điều này gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới ý
nghĩa của việc nuôi con nuôi, tạo điều kiện cho những thủ đoạn lách luật nhằm những
mục đích không tốt, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của trẻ em. Do đó, Luật cần bổ sung
thêm quy định về khả năng nuôi dưỡng, chăm sóc của cha mẹ đẻ, cha mẹ đẻ chỉ được
cho con đẻ của mình làm con nuôi người khác trong trường hợp không có khả năng nuôi
dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ. Bên cạnh đó cũng cần đưa ra những hình phạt nghiêm
khắc đối với việc lạm dụng cho và nhận nuôi con nuôi.
4.2.Hệ quả pháp lý của nuôi con nuôi
Về hệ quả pháp lý của việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài chưa được quy
định trong Luật Nuôi Con Nuôi. Nó chỉ được quy định tại điều 24 thuộc chương 2- Nuôi
con nuôi trong nước, nhưng không phải trường hợp nào cũng áp dụng được Điều 24.
Một quan hệ pháp luật có yếu tố nước ngoài sẽ chịu sự điều chỉnh của nhiều hệ thống
pháp luật khác nhau, do vậy sẽ rất dễ gây đến việc mâu thuẫn, không phù hợp giữa các
hệ thống pháp luật. Vì vậy cần phải có những văn bản hướng dẫn cụ thể hơn trong vấn
đề này, đặc biệt là việc giải quyết hậu quả pháp lý việc nuôi con nuôi có yếu tố nước
ngoài tại Việt Nam hay tại nơi con nuôi thường trú.
KẾT BÀI
Trong đời sống xã hội hiện nay nuôi con nuôi thực tế vẫn còn tồn tại khá nhiều và
không phải trường hợp nuôi con nuôi nào cũng đã được đăng ký tại cơ quan nhà nước có
thẩm quyền. Vì thế giải quyết tốt vấn đề nuôi con nuôi thực tế một mặt đảm bảo tốt nhất
quyền và lợi ích của các bên trong quan hệ nuôi con nuôi, mặt khác còn có ý nghĩa xã
hội sâu sắc, thể hiện tính nhân văn trong chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước ta.
Bên cạnh đó giải quyết tốt vấn đề nuôi con nuôi thực tế là góp phần bảo vệ sự ổn định
bền vững trong mối quan hệ tình cảm gia đình rất đáng trân trọng đó là truyền thống quý
báu.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status