Mục lục:
A. Đặt vấn đề……………………………………………….…..…….2
B. Giải quyết vấn đề…………………………………….…………..…2
I. Một số khái niệm về thừa kế………………………………….….2
1. Thừa kế theo pháp luật….……………………….………..…2
2. Diện và hàng thừa kế…………………………..………….....3
a. Diện thừa kế.……………………………..…….……………….….3
b. Hàng thừa kế…………………………………………………….….3
II. Một số vấn đề về diện và hàng thừa kế……………………..….4
1. Diện thừa kế……………………….…………………….…..4
a) Diện thừa kế theo pháp luật dựa trên quan hệ hôn nhân…………6
b) Diện thừa kế theo pháp luật dựa trên quan hệ huyết thống….…...8
c) Diện thừa kế theo pháp luật dựa trên quan hệ nuôi dưỡng…….…10
2. Hàng thừa kế:………………………….……….……………11
a) Hàng thừa kế thứ nhất………………….…………….…………….11
b) Hàng thừa kế thứ hai………………………….……….…………..14
c) Hàng thừa kế thứ ba…………………………….……….…………16
III. Một số điểm hạn chế về diện và hàng thừa kế………….…….17
C. Kết thúc vấn đề…………………………………….………………19
D. Danh mục tài liệu tham khảo……………….................................20
1
A. Đặt vấn đề:
Thừa kế với ý nghĩa là một phạm trù kinh tế có mầm mống và xuất hiện
ngay trong thời kì sơ khai của xã hội loài người. Từ đó đến nay, quyền để lại
thừa kế và quyền thừa kế luôn được pháp luật các nước quan tâm, bảo hộ, đặc
biệt là vấn đề thừa kế theo pháp luật. Ở Việt Nam cũng vậy, ngày nay phần
lớn các vụ việc thừa kế được giải quyết theo quy định của pháp luật. Trong
vấn đề thừa kế theo pháp luật, vấn đề diện và hàng thừa kế là hai vấn đề vô
sản nếu như không còn ai ở hàng thứ nhất hoặc có nhưng họ đều không nhận
hoặc không được quyền nhận.
2. Diện và hàng thừa kế:
a. Diện thừa kế:
Diện những người thừa kế là phạm vi những người có quyền hưởng di
sản thừa kế của người chết theo quy định của pháp luật. Diện những người
thừa kế được xác định dựa trên ba mối quan hệ với người để lại di sản: quan
hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống và quan hệ nuôi dưỡng.
b. Hàng thừa kế:
Theo quy định của pháp luật, di sản của người chết sẽ được chia cho
những người thân thiết, có quan hệ gần gũi với người đã chết. Tuy nhiên mức
độ gần gũi của mỗi người lại khác nhau khiến việc phân chia di sản của người
chết gặp nhiều khó khăn và thường dẫn đến tranh chấp. Chính vì vậy mà để
giải quyết vấn đề này, diện những người thừa kế sẽ được xếp thành các hàng
thừa kế.
Hàng thừa kế theo pháp luật là nhóm những người có cùng mức độ gần
gũi với người chết và theo đó họ cùng hưởng ngang nhau đối với di sản thừa
kế mà người chết để lại.
Theo khoản 1 Điều 676 Bộ luật dân sự năm 2005, pháp luật Việt Nam
chia những người trong diện thừa kế ra làm ba hàng:
3
“1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau
đây:
a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ
nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;
b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại,
anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà
con nuôi, cháu, chắt, cha mẹ của người để lại di sản và những người thừa kế
khác. Nhưng thông tư này không xác định rõ những người thừa kế khác là ai
nên trong thời kỳ này anh, chị, ông, bà không thuộc diện thừa kế.
Thông tư 594/NCPD xác định diện thừa kế bao gồm: vợ góa (cả vợ cả
và vợ lẽ); con đẻ và con nuôi; bố đẻ, mẹ đẻ, bố nuôi, mẹ nuôi, ông bà nội, ông
bà ngoại; anh chị em ruột và anh chị em nuôi. Thông tư này đã thêm được anh
chị em và ông bà vào diện thừa kế nhưng lại bỏ đi cháu, chắt ra khỏi diện thừa
kế.
Thông tư 81/TANDTC xác định rõ cơ sở pháp lý của việc thừa kế theo
pháp luật là ba mối quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống và quan hệ nuôi
dưỡng. Đây là một quan điểm tiến bộ vẫn được sử dụng cho đến ngày nay. Vì
vậy, diện thừa kế được quy định trong thông tư bao gồm: vợ góa (vợ cả và vợ
lẽ) hoặc chồng góa, các con đẻ và con nuôi; bố mẹ đẻ hoặc bố mẹ nuôi; ông
bà nội ngoại; anh chị em ruột, anh chị em cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác
cha và anh chị em nuôi. Ngoài ra thông tư này còn quy định “người thừa tự”
cũng là người thừa kế theo pháp luật tức là cháu được quyền thừa kế của ông
bà nếu cha mẹ không còn.
Pháp lệnh thừa kế do Hội đồng Nhà nước ban hành vào ngày
30/8/1990. Diện thừa kế theo pháp lệnh này mở rộng hơn so với thông tư
81/TANDTC. Đối với những người có quan hệ huyết thống với người để lại
tài sản theo trực hệ được xác định đến tận bốn đời (từ đời cụ xuống đời chắt).
Đối với những người có quan hệ huyết thống với người để lại di sản theo
bàng hệ (ngành ngang) đã được mở rộng sang hai đời (chú ruột, bác ruột, cô
5
ruột, dì ruột, cậu ruột của người chết là cháu và ngược lại). Pháp lệnh thừa kế
bác bỏ quyền thừa kế của anh chị em nuôi.
Đến Bộ luật dân sự 1995 tuy không quy định trực tiếp về diện thừa kế
kiện kết hôn và đăng ký kết hôn”. Để được đăng ký kết hôn, thì hai bên nam,
nữ phải thỏa mãn các điều kiện kết hôn do luật hôn nhân và gia đình quy định
tại các điều 9, 10, 11 và 14 về độ tuổi kết hôn, ý chí tự do, tự nguyện trong kết
hôn, không vi phạm chế độ một vợ một chồng, không vi phạm các quan hệ
huyết thống trong phạm vi ba đời, và không vi phạm các điều cấm khác của
pháp luật như: Giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha mẹ,
cha nuôi với con nuôi, bố chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, bố dượng với
con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng; giữa những người cùng giới
tính hay người mất năng lực hành vi không được kết hôn.
Còn đối với vấn đề hôn nhân thực tế, trước đây (trước năm 2000) do
hoàn cảnh lịch sử, kinh tế đất nước thì vấn đề hôn nhân thực tế được tòa thừa
nhận cũng coi là hôn nhân hợp pháp. Như vậy, hôn nhân của vợ chồng là hôn
nhân hợp pháp từ thời điểm kết hôn hoặc hôn nhân thực tế được tòa án thừa
nhận, thì vợ và chồng thuộc diện thừa kế theo pháp luật của nhau và còn là
người thừa kế tài sản của nhau không phụ thuộc vào di chúc.
Sau này nhằm giải quyết dứt điểm những quan hệ vợ chồng không tuân
thủ những quy định của luật hôn nhân và gia đình, chính phủ đã ban hành
Nghị định số 77/2001/NĐ-CP ngày 22 tháng 10 năm 2001 quy định chi tiết về
đăng ký kết hôn theo Nghị quyết số 35 /2000/QH10 của Quốc hội về thi hành
luật hôn nhân và gia đình năm 2000, tại điều 2 có quy định: “Quan hệ vợ
chồng chưa đăng ký mà được xác lập trước 3/1/1987, thì việc kết hôn không
bị hạn chế về thời gian. Nhưng nếu nam, nữ chung sống với nhau như vợ
chồng từ 3/1/1987 đến ngày 1/1/2001 mà có đủ điều kiện kết hôn theo quy
định của luật hôn nhân và gia đình năm 2000, thì có nghĩa vụ đăng ký kết
hôn. Từ sau ngày 1/1/2001 mà họ không đăng ký kết hôn ,thì pháp luật không
công nhận họ là vợ chồng.”
Như vậy, pháp luật không thừa nhận hôn nhân thực tế đối với quan hệ
nam và nữ trên thực tế đã chung sống với nhau như vợ chồng từ 3/1/1987 đến
7
8
quyền xin xác nhận con của cha, mẹ là nhằm bảo vệ những quyền dân sự
chính đáng của công dân, trong đó có quyền thừa kế tài sản.
Việc xác định quan hệ huyết thống không những là cơ sở để xác định
quyền và nghĩa vụ của cha, mẹ và con đối với nhau trong quan hệ gia đình mà
còn là cơ sở để xác định diện thừa kế giữa cha, mẹ và các con trong trường
hợp có người chết.
- Mối quan hệ giữa cụ, ông và và các cháu, chắt:
Cũng như cha mẹ, ông bà phải là người thừa kế theo quy định của pháp
luật. Tuy vậy, ông bà không thể là người được thừa kế ưu tiên hay cùng hàng
so với cha, mẹ đối với cháu, chắt được.
Theo Điều 679 Bộ luật dân sự năm 1995 thì ông nội, bà nội, ông ngoại,
bà ngoại, cụ nội, cụ ngoại của người chết được hưởng thừa kế theo pháp luật
của cháu, chắt, nhưng cháu, chắt không phải là người thừa kế theo pháp luật
của họ. Quy định này đi ngược với thứ tự ưu tiên hưởng thừa kế theo quan hệ
huyết thống xuôi của cháu chắt. Vì thế, cháu, chắt không được hưởng di sản
của ông, bà và cụ là điều hợp lý. Chính vì vậy, Bộ luật dân sự năm 2005 đã
sửa đổi bổ sung thêm tại điều 676. Ngoài ra, nếu cha mẹ, cháu, chắt chết
trước hoặc cùng thời điểm với ông, bà, các cụ thì cháu, chắt được hưởng thừa
kế thế vị tại điều 677 Bộ luật dân sự năm 2005.
- Mối quan hệ giữa những người thân thuộc bàng hệ:
Điều 676 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định anh, chị, em ruột là những
người thuộc hàng thừa kế thứ hai của nhau cùng với ông nội, bà nội, ông
ngoại, bà ngoại của người chết. Con của anh, chị, em được xếp vào hàng thứ
ba bên cạnh cụ nội, cụ ngoại.
- Mối quan hệ giữa những người thân thuộc bàng hệ khác:
Ngoài anh, chị, em ruột và con của anh, chị, em ruột, pháp luật hiện
hành chỉ thừa nhận những người nào mà người chết gọi cô ruột, bác ruột, chú
gia đình thì ông bà nội, ông bà ngoại có nghĩa vụ nuôi dưỡng cháu. Ngược lại
cháu cũng có bổn phận kính trọng, chăm sóc phụng dưỡng ông bà. Với lý do
như trên, ngoài mối quan hệ huyết thống, dựa trên quan hệ nuôi dưỡng thì ông
bà và các cháu thuộc diện thừa kế của nhau.
10
- Quan hệ giữa bố dượng, mẹ kế với con riêng của vợ, chồng: Theo quy
định của pháp luật thì giữa những người con riêng với bố dượng, mẹ kế đã thể
hiện được nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau. Điều 38 Luật hôn nhân và
gia đình quy định bố dượng ,mẹ kế có quyền và nghĩa vụ nuôi dưỡng, chăm
sóc, giáo dục con riêng cùng chung sống với mình và đã thể hiện được nghĩa
vụ của người cha, người mẹ đối với con thì theo quy định của pháp luật họ
thuộc diện thừa kế của nhau. Nếu con riêng của vợ, của chồng mà chết trước
bố dượng, mẹ kế, con của họ sẽ được thừa kế thế vị nhận di sản của ông bà kế
khi qua đời.
- Quan hệ giữa cha mẹ nuôi với con nuôi: Mối quan hệ thừa kế này
được xác định trên cơ sở quan hệ nuôi dưỡng. Trong trường hợp nhận nuôi
một người làm con nuôi thì người con nuôi đó đương nhiên trở thành một
thành viên trong gia đình cha, mẹ nuôi. Khi mối quan hệ nuôi dưỡng giữa cha
mẹ nuôi với con nuôi được thiết lập thì sẽ phát sinh quyền và nghĩa vụ chăm
sóc, nuôi dưỡng con nuôi, ngược lại người con nuôi phải biết yêu thương kính
trọng, chăm sóc, phụng dưỡng cha, mẹ nuôi. Điều 678 Bộ luật dân sự năm
2005 quy định ngoài việc được hưởng di sản thừa kế của cha mẹ nuôi, người
con nuôi vẫn được thừa kế di sản của cha mẹ đẻ và những người trong gia
đình cha mẹ đẻ. Ngoài ra, giữa con đẻ và con nuôi không có sự phân biệt.
Theo đó, quyền thừa kế theo pháp luật của con đẻ và con nuôi là ngang nhau
khi hưởng di sản thừa kế của cha mẹ. Điều này còn phù hợp với mục đích
nhận và nuôi con nuôi nhằm thể hiện lòng nhân đạo, yêu thương của mọi
người đối với trẻ em, bù đắp cả về vật chất lẫn tinh thần cho con nuôi.
nhất và ngược lại người chồng có thể hưởng thừa kế ở hàng thứ nhất khi các
bà vợ qua đời.
+ Thứ tư: Nếu cán bộ chiến sĩ đã có vợ ở miền Nam, sau khi tập kết ra
Bắc, lấy vợ ở miền Bắc mà việc kết hôn sau không bị hủy bỏ bằng một bản án
có hiệu lực pháp luật thì những người vợ đó đều là người thừa kế ở hàng thứ
nhất của người chồng và ngược lại, người chồng là người thừa kế thuộc hàng
thứ nhất nếu những người vợ đó qua đời.
12
+ Thứ năm: Nếu vợ chồng không đăng kí kết hôn nhưng được công
nhận là hôn nhân thực tế (hôn nhân tiến hành trước ngày Luật Hôn nhân và
gia đình 1986 có hiệu lực pháp luật có đủ điều kiện kết hôn nhưng không
đăng ký kết hôn) thì quan hệ vợ chồng giữa họ vẫn được thừa nhận nên họ là
người thừa kế theo pháp luật ở hàng thứ nhất của nhau.
+ Thứ sáu: hai vợ chồng đã ly hôn nhưng sau đó quay lại sống chung
với nhau trước ngày Luật Hôn nhân gia đình 1986 có hiệu lực mà cuộc sống
chung đó không bị hủy bỏ bằng một bản án có hiệu lực thì quan hệ vợ chồng
đó vẫn được chấp nhận. Và họ vẫn là người thừa kế hàng thứ nhất của nhau
khi một người chết.
- Quan hệ thừa kế giữa cha mẹ và con cái:
Mối quan hệ này được xác định bằng quan hệ huyết thống và quan hệ
nuôi dưỡng. Cụ thể như sau:
Đối với quan hệ huyết thống: Quyền thừa kế theo pháp luật của con
không phụ thuộc vào hình thức hôn nhân của cha, mẹ đẻ. Các con đẻ của
người để lại di sản, không phân biệt con trai hay con gái, con trong giá thú
hay ngoài giá thú, có năng lực hành vi dân sự hay không có năng lực hành vi
dân sự, theo quy định của pháp luật, họ đều thuộc diện thừa kế theo pháp luật
của nhau; vì giữa họ với cha, mẹ đẻ có quan hệ huyết thống. Như vậy việc
Sở dĩ có điều luật này là để tránh trường hợp tranh chấp di sản người chết
trong các trường hợp như: mẹ kế sống với bố còn con riêng sống với mẹ đẻ
như vậy hai người này không có quan hệ huyết thống mà cũng chẳng có quan
hệ nuôi dưỡng; hoặc là các trường hợp con riêng sống với bố dượng, mẹ kế
nhưng bị ghét bỏ, không nhận được sự quan tâm, chăm sóc nuôi dưỡng. Như
vậy là trong trường hợp pháp luật xác định được chắc chắn mối quan hệ nuôi
dưỡng của con riêng với bố dượng, mẹ kế là mối quan hệ nuôi dưỡng như cha
con hoặc mẹ con thì họ mới được hưởng thừa kế của nhau và còn được hưởng
thừa kế ở hàng thứ nhất hoặc thừa kế thế vị.
b) Hàng thừa kế thứ hai:
14
Ở hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh
ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết
là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại.
- Mối quan hệ thừa kế giữa ông bà nội, ngoại và cháu:
Ông bà nội là người sinh ra cha của cháu, ông bà ngoại là người đã sinh
ra mẹ của cháu. Nếu cháu ruột chết thì ông bà nội, ông bà ngoại sẽ ở hàng
thừa kế thứ hai của cháu và ngược lại, nếu ông bà nội, ngoại chết thì cháu sẽ
là người thuộc hàng thừa kế thứ hai của ông bà nội, ông bà ngoại. Trước đây,
Bộ luật dân sự 1995 chỉ quy định ông bà nội, ông bà ngoại ở hàng thừa kế thứ
hai của cháu ruột chứ không quy định cháu ruột ở hành thừa kế thứ hai của
ông bà. Sở dĩ Bộ luật dân sự năm 1995 quy định như vậy vì cho rằng nếu cha
mẹ của cháu còn sống khi ông bà chết thì cha mẹ cháu sẽ được hưởng thừa
kế. Tuy nhiên, trên thực tế có trường hợp ông bà chết nhưng cha mẹ của cháu
không được hưởng thừa kế mặc dù vẫn còn sống (bị truất quyền thừa kế,
không có quyền hưởng di sản), trong trường hợp này cháu ruột của ông bà
cũng không được hưởng di sản vì không thuộc hàng thừa kế của ông bà. Xuất
cụ ngoại với chắt là mối quan hệ huyết thống. Trường hợp cụ nội, cụ ngoại
chết mà không có người thừa kế là con hoặc cháu hoặc có người thừa kế
nhưng họ từ chối nhận di sản hoặc không có quyền hưởng di sản thì chắt sẽ
được hưởng di sản của cụ. Tương tự như qua hệ thừa kế giữa ông, bà (nội,
ngoại) với cháu ruột, cụ nội ngoại sẽ thuộc hàng thừa kế thứ ba của chắt ruột
và ngược lại.
- Mối quan hệ thừa kế giữa bác ruột, chú ruột, cô ruột,cậu ruột với cháu
ruột và ngược lại:
Quan hệ thừa kế giữa những người này với nhau cùng là dựa trên mối
quan hệ huyết thống. Bác ruột là anh hoặc chị của cha hoặc mẹ người chết,
chú ruột là em trai của cha người chết, cô ruột là em gái của cha người chết,
cậu ruột là em trai của mẹ người chết, dì ruột là em gái của mẹ người chết.
Nhưng ở mỗi nơi có một cách dùng từ khác nhau ví dụ ở miền trung thì bác
chỉ có nghĩa là anh trai của bố nên ta có thể hiểu tóm gọn lại bác ruột, cô ruột,
dì ruột, cậu ruột, chú ruột là những anh chị em ruột của bố hoặc mẹ và từ đó
16
xác định ngược lại được cháu ruột phải là con đẻ của những anh chị em ruột
của người chết. Những người này theo pháp luật được xếp hưởng thừa kế vào
hàng thứ ba của nhau.
III. Một số điểm hạn chế về diện và hàng thừa kế:
Trong những năm qua, do tác động của mặt trái nền kinh tế thị trường
các tranh chấp dân sự ngày càng có chiều hướng gia tăng. Trong số đó, các
tranh chấp về thừa kế chiếm một tỷ lệ đáng kể và chủ yếu xoay quanh việc
chia di sản thừa kế. Đây là những tranh chấp chủ yếu đòi hỏi công bằng về
quyền lợi nên cần phải xác định một cách thấu tình đạt lý, vì thế, đòi hỏi các
cấp Tòa án có thẩm quyền phải xác định đúng những người được quyền
hưởng thừa kế và theo thứ tự ưu tiên nhất định, tránh trường hợp nhầm lẫn để
đảm bảo quyền lợi của đương sự.
Thứ hai, theo quy định tại Khoản 1 Điều 676 Bộ luật dân sự 2005 thì
cháu ở hàng thứ hai chỉ được nhận di sản của ông nội, bà nội, ông ngoại, bà
ngoại khi hàng thứ nhất có một người thừa kế duy nhất còn. Trường hợp này
nếu cha đẻ, mẹ đẻ của cháu không nhận hoặc không có quyền nhận di sản của
ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại thì di sản chia cho người thừa kế hàng
thứ hai là cháu. Ngược lại, nếu hàng thứ nhất nhiều người thừa kế trong đó có
một người là cha hoặc mẹ cháu không nhận di sản, không có quyền nhận di
sản…thì phần di sản lẽ ra cha mẹ cháu được hưởng sẽ chia cho những người
thừa kế cùng hàng là cô, dì, chú, bác ruột của cháu. Trường hợp này vô hình
chung những người thừa kế hàng thứ nhất được hưởng nhiều hơn một suất
theo quy định của pháp luật. Để đảm bảo quyền lợi của các cháu, pháp luật
nên cho phép cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ cháu không được
hưởng.
Thứ ba, khoản 3 Điều 676 Bộ luật dân sự quy định những người thừa
kế hàng sau chỉ được hưởng di sản nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do
đã chết…Quy định này mâu thuẫn với Điều 677 là cháu thừa kế thế vị khi bố
hoặc mẹ chết trước hoặc chết cùng ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, vì
vậy nếu cháu thế vị thì hàng thứ hai hoặc thứ ba không được hưởng di sản.
18
Pháp luật dân sự Việt Nam về thừa kế tuy đã chặt chẽ những vẫn còn
một số điểm chưa thực sự hợp lí như trên. Hi vọng những điểm này sẽ được
khắc phục trong thời gian sớm nhất.
C. Kết thúc vấn đề:
Như vậy, có thể thấy trong việc thừa kế theo pháp luật thì diện và hàng
thừa kế là hai vấn đề vô cùng quan trọng vì nó xác định phạm vi và thứ tự
được hưởng thừa kế của những người được hưởng thừa kế. Nếu không có
những quy định về diện và hàng thừa kế sẽ dẫn đến nhiều tranh chấp liên