ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
--------------------------------------
HÀ HUY TUẤN
Quan niệm của I. Cantơ về bản chất của
nhận thức trong tác phẩm phê phán lý tính
thuần tuý
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Hà Nội - 2005
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
--------------------------------------
HÀ HUY TUẤN
Quan niệm của I. Cantơ về bản chất của nhận
thức trong tác phẩm phê phán lý tính thuần tuý
Chuyên ngành: TRIẾT HỌC
Mã số: 60.22.80
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS: VŨ VĂN VIÊN
lập ra một "toà án lý tính" xem xét những điều kiện khả thể, giới hạn và khả
năng nhận thức của con người. Lấy sự phê phán nhận thức luận của hai trào
lưu siêu hình học nổi danh đương thời là chủ nghĩa duy lý và chủ nghĩa kinh
nghiệm làm tiền đề, I.Cantơ dự định xây dựng một khoa học triết học bắt đầu
từ nền tảng của nhận thức, với mong muốn tìm ra nguyên tắc bản nhiên của lý
tính; và quả thực ông đã có đóng góp vĩ đại cho lịch sử triết học với tư cách là
người tổng hợp tri thức nhân loại và làm cầu nối tư tưởng phương Tây từ cận
đại đến hiện đại.
Triết học I.Cantơ đậm tính nhân văn với mục đích đem lại cho con
người một cách nhìn mới về thế giới và về bản thân mình. Theo I.Cantơ, triết
học phải tạo lập cho con người một nền tảng thế giới quan mới, vạch ra những
nguyên tắc cơ bản của cuộc sống và những lý tưởng nhân đạo. Các vấn đề
trên đều xoay quanh năng lực của lý tính, phản ánh ba khía cạnh cơ bản nhất
trong mối quan hệ ''con người - thế giới'' là nhận thức, thực tiễn và giá trị. Vấn
đề thứ nhất: con người với tư cách chủ thể nhận thức có thể biết được những
gì về thế giới. Đây là vấn đề nhận thức luận thuần túy, được triển khai trong
triết học lý luận của I.Cantơ; trong đó, bản chất của nhận thức là một nội dung
quan trọng cần được quan tâm nghiên cứu.
Triết học I.Cantơ là nền tảng, điểm xuất phát của triết học Đức hiện
đại; chứa đựng cả những hạn chế và công lao. Ph.Ăngghen nhận xét "chính
I.Cantơ là người đầu tiên đã phá vỡ cái quan niệm hoàn toàn thích hợp với
phương pháp tư duy siêu hình và ông đã phá vỡ một cách hết sức khoa học
3
đến mức mà hiện nay phần lớn những lý lẽ của ông đã dùng để chứng minh
vẫn còn giá trị" [23, tr.86]*. Nhận xét này trước hết nhằm đề cao những tư
tưởng biện chứng của I.Cantơ giữa lúc khoa học hiện đại đang cần có một tư
duy mới vạch đường. Những tư tưởng ấy cho đến nay vẫn còn có ý nghĩa. Vì
vậy, tiếp tục nghiên cứu triết học I.Cantơ nói chung, quan niệm về bản chất
I.Cantơ nói chung và tác phẩm Phê phán lý tính thuần tuý nói riêng theo
nhiều phương diện khác nhau. Thứ nhất là loại công trình viết về triết học
I.Cantơ, trong đó có bàn đến nhận thức luận của ông. Ngoài bản triết học
thường thức chủ yếu trình bày giản lược tư tưởng I.Cantơ của Nguyễn Đình
Thi, trước hết, các tác giả chỉ ra việc I.Cantơ đã phân biệt tri thức khoa học
với tri thức thông thường, thực ra là phân biệt nhận thức tiên nghiệm và nhận
thức kinh nghiệm. Trần Thái Đỉnh trình bày nhận thức luận của I.Cantơ theo
trình tự lôgíc của cuốn Phê phán lý tính thuần tuý, khẳng định "tri thức đích
thực, tức tri thức khoa học bao giờ cũng chắc chắn vì tất yếu và phổ quát và
được áp dụng một cách tiên thiên tuyệt đối"; điều này được I.Cantơ chứng
minh bằng các tri thức luận lý, toán học, vật lý, và cố gắng xây dựng nó trong
môn siêu hình học [Xem: 8, tr.24]. Cách trình bày này có ưu điểm là bám sát
tác phẩm gốc của I.Cantơ nhưng chưa đánh giá mặt tích cực và hạn chế của
ông. Tác giả Nguyễn Văn Huyên khẳng định "I.Cantơ đối lập hai loại tri thức:
tri thức hạn chế và tri thức khoa học" [Xem: 14, tr.71]; đồng thời phân tích
hai cấp độ của nhận thức kinh nghiệm là kinh nghiệm thông thường và kinh
nghiệm nhận thức khoa học; hai cấp độ của nhận thức tiên nghiệm là cái có
trước kinh nghiệm và cái siêu nghiệm [Xem: 14, tr.59]. Các tác giả cũng phân
tích khá rõ khả năng nhận thức của cảm tính, giác tính và lý tính được I.Cantơ
trình bày tương ứng với khả năng nhận thức của toán học, khoa học tự nhiên
lý thuyết và siêu hình học.
Những đóng góp của các công trình khảo cứu này là chỉ ra các tư tưởng
triết học cơ bản của I.Cantơ cũng như đánh giá chung về giá trị hiện thời của
các tư tưởng ấy. Nhưng với di sản khổng lồ của triết gia này thì việc nghiên
cứu đòi hỏi phải tiếp tục đi sâu hơn nữa vào từng mảng đề tài, từng chủ đề,
- Số cuối là số trang của tài liệu tham khảo.
5
hay từng tác phẩm riêng của ông. Một số bài viết về siêu hình học, nhận thức
3) Đánh giá một cách khái quát quan niệm của I.Cantơ về bản chất của
nhận thức.
4. Cơ sở lý luận, phương pháp và phạm vi nghiên cứu
- Cơ sở lý luận
Luận văn được thực hiện trên cơ sở những nguyên lý, quan điểm cơ
bản của chủ nghĩa Mác - Lênin về lịch sử triết học.
- Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp so sánh, lôgíc - lịch sử, phân tích - tổng
hợp nhằm tái hiện và đánh giá quan niệm của I.Cantơ về bản chất nhận thức.
- Phạm vi nghiên cứu
Luận văn chủ yếu tập trung làm rõ quan niệm của I.Cantơ về bản chất
của nhận thức trong Phê phán lý tính thuần tuý.
5. Đóng góp mới của luận văn
Một là, luận văn góp phần làm rõ nguồn gốc lý luận quan niệm của
I.Cantơ về bản chất của nhận thức trong Phê phán lý tính thuần tuý.
Hai là, bước đầu đánh giá những tích cực cũng như hạn chế trong nhận
thức luận của I.Cantơ.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Mặc dù đã có nhiều nhà nghiên cứu viết về I.Cantơ ở các góc độ khác
nhau song để nghiên cứu ngày càng đầy đủ, sâu sắc những quan điểm triết
học của ông thì còn cần rất nhiều công trình khác. Về mặt lý luận, luận văn
hoàn thành sẽ góp một phần nhỏ cho việc nghiên cứu về lý luận nhận thức của
I.Cantơ; về mặt thực tiễn, luận văn có thể dùng làm tài liệu phục vụ tham
khảo cho công tác giảng dạy lịch sử triết học hiện nay ở Việt Nam.
7. Kết cấu của luận văn
9
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
chia làm 2 chương, 4 tiết.
11
liên kết tiến hành, nhằm "biến đồng lúa thành đồng cỏ" dành cho việc chăn
nuôi cừu phục vụ ngành dệt len. Trong Tư bản, C.Mác [Karl Marx] (18181883) đã viết: "Cơ sở của toàn bộ quá trình tiến triển này chính là sự tước
đoạt ruộng đất của nông dân chỉ được tiến hành triệt để ở nước Anh thôi; vì
vậy trong sự phác hoạ sau đây của chúng ta, tất nhiên là nước Anh sẽ giữ một
địa vị bậc nhất"; và "biến đồng ruộng thành đồng cỏ, đó là khẩu hiệu chiến
đấu của lớp quý tộc mới".
Ngành thương nghiệp ở Tây Âu cũng không ngừng mở rộng, nhất là
ngoại thương, cùng với chế độ thực dân xâm chiếm thuộc địa. Một loạt các
công ty thương mại lớn ra đời như: công ty châu Phi (1553) chuyên buôn
vàng, ngà voi, nô lệ da đen; công ty Mátxcơva buôn bán dọc sông Vônga vào
Ba Tư và Ấn Độ; công ty Tây Ban Nha (1577); công ty phương Đông (1579)
buôn bán ven biển Ban Tích; công ty Thổ Nhĩ Kỳ (1581), công ty Đông Ấn
(1600) cạnh tranh với thương nhân Hà Lan và Pháp. Sở giao dịch của Trung
tâm mậu dịch và tài chính khu Xity (Luân Đôn - Anh) cũng được thành lập từ
khá sớm vào năm 1568 để đáp ứng nhu cầu phát triển trao đổi hàng hoá.
Thương nghiệp đã góp phần quan trọng vào quá trình tích luỹ nguyên thuỷ tư
bản và hình thành chủ nghĩa thực dân.
Sự bành trướng hệ thống thuộc địa đạt tới mức độ cao chưa từng có
trong thế kỷ XVII-XVIII, mở rộng thị trường trong và ngoài nước, cùng với
cách mạng ruộng đất ở Anh; điều đó đòi hỏi một khối lượng sản phẩm công
nghiệp lớn mà nền sản xuất công trường thủ công không đáp ứng nổi. Xuất
phát từ yêu cầu khách quan của xã hội và những điều kiện sẵn có, nước Anh
bước vào giai đoạn cách mạng công nghiệp. Khởi điểm của cuộc cách mạng
này là sự xuất hiện máy móc cơ khí, là sự nhảy vọt từ lao động thủ công sang
lao động bằng máy móc dựa trên những thành tựu số học, cơ học, vật lý học,
hoá học và động lực học... kết hợp với trình độ phân công lao động, chuyên
môn hoá khá hoàn thiện của nền sản xuất. Mở đầu là các phát minh trong
Khuynh hướng thoả hiệp này biểu hiện rõ nét nhất ở nước Đức, nơi mà sự
phát triển của chủ nghĩa tư bản bị cản trở bởi chính những điều kiện kinh tế,
chính trị của nó. Nước Đức hãy còn là một nước nửa phong kiến bị phân hoá
13
cả về kinh tế lẫn chính trị, như tàn tích của chế độ nông nô, chế độ phường
hội, tình trạng cát cứ của các lãnh chúa, sự tồn tại của nhiều quốc gia nhỏ phụ
thuộc lẫn nhau trong nhà nước quân chủ Phổ,... đã kìm hãm sự phát triển tư
bản chủ nghĩa ở Đức. Ph.Ăngghen [Friedrich Engel] (1820-1895) thốt lên:
"Mọi thứ đều nát bét, lung lay, xem chừng sắp sụp đổ, thậm chí chẳng còn lấy
một tia hy vọng chuyển biến tốt lên, vì dân tộc thậm chí không còn đủ sức vứt
bỏ cái thây ma rữa nát của chế độ đã chết rồi" [22, tr.754]. Trong bối cảnh xã
hội Đức có trình độ lạc hậu hơn rất nhiều so với một số nước phát triển tư bản
chủ nghĩa đi đầu ở Tây Âu, triết học I.Cantơ là sự khai phá tiến bộ trên lĩnh
vực tư tưởng, được coi là "lý luận Đức của cuộc cách mạng tư sản Pháp".
Triết học I.Cantơ là một hiện tượng nằm trong bối cảnh phát triển văn
hóa và triết học cận đại, biểu thị những đặc điểm của một chặng đường phát
triển tinh thần và văn hóa của Tây Âu. Triết học I.Cantơ có liên hệ nội tại với
toàn bộ văn hóa châu Âu thời cận đại. Về ranh giới lịch đại, quan điểm chính
thống của các nhà sử học Liên Xô trước đây cho rằng thời cận đại được khởi
đầu từ cách mạng tư sản Anh giữa thế kỷ XVII. Khác với quan điểm đó, các
nhà sử học phương Tây cho rằng thời Trung cổ kết thúc vào thế kỷ XV và
bước chuyển sang thời cận đại cũng bắt nguồn từ đó với phong trào Phục
hưng và Cải cách tôn giáo. Tuy nhiên, các đặc trưng văn hóa phương Tây trở
thành bản sắc cho đến tận ngày nay chỉ được hình thành từ thế kỷ XVI trở đi.
Đặc biệt, văn hóa châu Âu cận đại có liên hệ mật thiết với phong trào Khai
sáng, - là một trào lưu tư tưởng và văn hóa đặc biệt, hình thành ở Tây Âu vào
cuối thế kỷ XVII - XVIII. Có thể coi các đại diện lớn nhất của nó là Giôn
Lốccơ [John Locke] (1632-1704), Sáclơ đờ Sơcôngđa Môngteskiơ [Charles de
tập trung trong chủ nghĩa duy lý theo nghĩa rộng nhất của từ này. Văn hóa
Tây Âu cận đại rất đề cao lý tính; thực chất là sự sùng bái lý tính. Trong đó, lý
tính khoa học hay niềm tin vào những khả năng vô hạn của khoa học trở
thành yếu tố hàng đầu. Người ta tin rằng những nguyên tắc bất biến của thế
giới nằm trong chính bản chất của lý tính, vì một lẽ hiển nhiên là lý tính
không có những nguyên tắc thì không còn là lý tính nữa. Từ đó, các nhà khoa
học tự nhiên và triết học không ngừng theo đuổi mục đích tìm ra các quy luật
khoa học, các tri thức chân lý tất yếu và phổ quát. Như vậy, sự tin tưởng vào
tính hợp lý của thế giới mở ra con đường dẫn tới sự luận chứng cho khoa học
15
về mặt phương pháp luận. Khoa học châu Âu cận đại đặt nền móng cho khoa
học tự nhiên hiện đại phát triển. Chủ nghĩa duy lý quy định trong lịch sử và
văn hóa châu Âu cận đại rằng, phương diện tư tưởng bắt đầu đóng một vai trò
đặc biệt, xã hội vận động tiến lên dưới tác động của tư tưởng.
Bên cạnh đó, thời cận đại quan niệm về bản thân văn hóa như là giới tự
nhiên thứ hai - là giới tự nhiên mới do con người sáng tạo ra, nhưng cũng
quan trọng như giới tự nhiên thứ nhất. Nếu như văn hoá cổ đại và trung cổ
hình thành theo nguyên tắc thích nghi với tự nhiên thì văn hoá cận đại hình
thành trên nguyên tắc sáng tạo tự nhiên. Nguyên tắc này định hướng thường
xuyên hoạt động của con người vào cái mới, vào việc tích lũy những sản
phẩm vật chất và tinh thần ngày càng nhiều hơn. Do đó, văn hóa châu Âu cận
đại đã tiên phong thực hiện sự đề cao tính tích cực của con người, sức mạnh
sáng tạo của chủ thể văn hoá. Sự phát triển nội tại của văn hóa châu Âu cận
đại quy định thái độ phê phán của nó đối với các thời đại trước. Thời cận đại
đã tiến hành phê phán thời trung cổ bằng bầu nhiệt huyết của lý tính; thể hiện
ở hai mặt: một mặt, coi thời trung cổ là thời đại đen tối và cuồng tín tôn giáo
nên đã loại bỏ không ít thành tựu của văn hóa trung cổ; mặt khác, xu hướng tự
phê phán dựa trên việc giữ lại những mối liên hệ với quá khứ vẫn tiếp tục có
lâm khoa học Siena (1798). I.Cantơ là triết gia đầu tiên đồng thời là viện sĩ
hàn lâm; sau ông, cho đến thế kỷ này, không lấy làm lạ khi một triết gia luôn
có tầm cỡ của một giáo sư đại học và gần như tất cả những người xuất sắc
trong lĩnh vực này đều là nhà hàn lâm. Khuynh hướng chuyên nghiệp hoá triết
học bị phê phán gay gắt từ Áctuya Sôpenhauơ [ Arthur Schopenhauer] (17881860), nhưng dường như hiện nay khuynh hướng đó đã được thiết định không
thể nào đảo ngược.
Sự nghiệp đồ sộ của I.Cantơ được ông nung nấu từ ý tưởng tổng kết
toàn bộ tri thức triết học trong lịch sử loài người từ thời cổ đại Hy Lạp cho
đến thời đại ông trên tinh thần phê phán, gạn lọc, kế thừa những yếu tố mà
ông cho là đúng, là có giá trị; từ đó xây dựng một hệ thống siêu hình học mới
17
theo nghĩa là khoa học triết học vạn năng. Tốt nghiệp đại học năm 1746 đến
trước khi được bổ nhiệm làm giáo sư siêu hình học và lôgíc học năm 1770,
I.Cantơ khởi nghiệp bằng những lý thuyết khoa học tự nhiên, hình thành các
quan niệm về triết học tự nhiên mang tính chất duy vật tự phát - thời kỳ này
những tư tưởng phê phán ở I.Cantơ chưa rõ ràng, vì vậy gọi là thời kỳ tiền
phê phán. Từ năm 1770 cho đến cuối đời, I.Cantơ đặt ra nhiệm vụ phê phán lý
tính, phê phán các hệ thống siêu hình học trước đó, đặc biệt là siêu hình học
duy lý và siêu hình học duy nghiệm - vì vậy, thời kỳ này được gọi là thời kỳ
phê phán.
Thời kỳ tiền phê phán (trước 1770)
Đây là thời kỳ I.Cantơ tham dự sâu sắc vào các vấn đề triết học và khoa
học tự nhiên của trào lưu Khai sáng. Trong lĩnh vực siêu hình học, mặc dù
I.Cantơ đã bắt đầu tiếp cận với một khuynh hướng khác của trào lưu Khai
sáng - khuynh hướng triết học phản duy lý khởi từ J.J.Rútxô; song tựu trung
ông vẫn chấp nhận khuynh hướng duy lý thống trị mà phong trào này đã mở
ra ở Tây Âu với đỉnh cao là siêu hình học trường ốc G.V.Lépnít - C.Vônphơ.
Thậm chí trong một số luận văn, ông còn đưa ra các luận cứ chứng minh sự
trời. Giả thuyết này cũng cho phép mở rộng ra nhiều hệ mặt trời khác tương
tự trong vũ trụ vô cùng vô tận. Sau đó không lâu, nhà thiên văn học và toán
học người Pháp Pie Ximông Laplaxơ [Pierre Simon Laplace] (1749-1827), tiến
hành nghiên cứu độc lập với I.Cantơ, cũng có giả thuyết tương tự từ những
kết luận toán học của mình. Từ đó, học thuyết tinh vân nguyên thuỷ đi vào
lịch sử với tính cách là lý thuyết vũ trụ I.Cantơ - P.S.Laplaxơ. Như vậy là
I.Cantơ đã đi xa hơn I.Niutơn bằng việc ứng dụng các nguyên tắc khoa học tự
nhiên để không chỉ giải thích kết cấu mà còn giải thích cả nguồn gốc của hệ
thống mặt trời, trong khi I.Niutơn thừa nhận không thể rút ra nguyên nhân của
bản thân sức hút cũng như các thuộc tính của chúng. Đồng thời giả thuyết của
I.Cantơ cũng là minh chứng rõ nét cho việc triết học đã làm tốt nhiệm vụ dẫn
đường cho khoa học tự nhiên như thế nào, giúp các nhà khoa học tự nhiên
"tránh khỏi lầm lạc liên miên, khỏi phải mất vô số thì giờ và công sức vào
19
những hướng sai lầm, vì trong điều phát hiện của I.Cantơ đã có cái khởi điểm
của mọi sự tiến bộ sau này" [23, tr.466].
Đương nhiên, việc truy tìm đến tận cùng nguồn gốc và bản chất của thế
giới trên cơ sở tư duy máy móc siêu hình thế kỷ XVIII rốt cuộc sẽ gặp mâu
thuẫn trong nhận thức mà tư duy ấy không thể vượt qua, - mặc dù các giả
thuyết thiên tài của I.Cantơ đã manh nha tiềm ẩn tư duy biện chứng như các
nhà kinh điển của triết học Mác nhận xét: "Vấn đề cái hích đầu tiên đã bị loại
bỏ; trái đất và tất cả hệ thống mặt trời hiện ra như là một cái gì đã hình thành
trong thời gian" [23, tr.466]; "lần đầu tiên, cái quan niệm cho rằng giới tự
nhiên không có lịch sử trong thời gian, đã bị lung lay" [23, tr.85]. Vì vậy, ông
tập trung nghiên cứu triết học tự nhiên với niềm tin rằng, triết học với tư cách
là một khoa học lý thuyết thuần tuý có khả năng lý giải mọi vấn đề của giới tự
nhiên mà không cần đến các tài liệu kinh nghiệm. Lúc đầu, I.Cantơ chịu ảnh
hưởng lớn của siêu hình học kinh viện G.V.Lépnít - C.Vônphơ và các quan
I.Cantơ là quan niệm về sự thống nhất giữa hai lực hút và đẩy mới là hạt nhân
được Ph.Ăngghen đánh giá cao, và đã được các nhà triết học duy tâm Đức
tiếp thu làm nên phép biện chứng duy tâm cổ điển Đức với đỉnh cao là phép
biện chứng G.V.Ph.Hêghen. Có thể nói, nếu không có sự tiên phong của
I.Cantơ trong việc phá vỡ các quan niệm siêu hình thế kỷ XVII-XVIII thì
không thể có quan niệm biện chứng được hình thành một cách tự giác và có
hệ thống từ thế kỷ XIX trở đi.
Kế thừa thuyết hoài nghi có phương pháp của R.Đềcáctơ, I.Cantơ
không những nghi ngờ tính đúng đắn của chủ nghĩa duy lý mà còn nghi ngờ
cả tính xác đáng của chủ nghĩa kinh nghiệm. Theo I.Cantơ, chủ nghĩa duy lý
đã đi quá xa trong việc tư biện để kiến thiết nên một ngôi nhà siêu hình học
không có cơ sở vững chắc từ nền móng; trong khi chủ nghĩa kinh nghiệm đã
bắt đầu đúng hướng nhưng Giôn Lốccơ trứ danh đã vội vàng khái quát mọi
nhận thức của con người chỉ vào trong một viên gạch duy nhất là kinh
nghiệm. Cả hai trào lưu này đều chỉ khư khư giữ lấy lập trường quan phương
21
của mình mà bác bỏ đối phương, tạo ra một đấu trường siêu hình học khốc
liệt. Từ sự hoài nghi về mặt nhận thức luận này mà I.Cantơ tiến hành kiểm tra
toàn bộ vật liệu của nhận thức từ cảm năng đến giác tính và lý tính để rút ra
một nhận xét làm chấn động giới triết học đương thời, đó là siêu hình học
giáo điều từ trước đến nay cần phải bị phê phán triệt để nhằm tìm ra cơ sở cho
một môn siêu hình học mới muốn trở thành một khoa học thực sự. Và I.Cantơ
đã từng bước tiến hành "cuộc cách mạng Côpécníc" trong lề lối tư duy của
mình thông qua việc phê phán các vấn đề của siêu hình học, tức của lý tính,
bằng bộ ba Phê phán nổi tiếng.
Nói gọn lại, thời kỳ tiền phê phán giúp I.Cantơ rà soát hầu hết các tiến
bộ của khoa học tự nhiên đến thời của ông để làm cơ sở cho sự phê phán
chính các lý thuyết khoa học tự nhiên đó với tính cách là những bộ phận của
trị, thì tiền đề lý luận tạo ra bước ngoặt về tư tưởng trong trường hợp này
đóng vai trò quan trọng hàng đầu.
Những bậc tiền bối trực tiếp của triết học I.Cantơ là chủ nghĩa hoài
nghi có phương pháp của R.Đềcáctơ, tư duy cơ học của I.Niutơn, chủ nghĩa
kinh nghiệm Anh của J.Lốccơ và Đavít Hium [David Hume] (1711-1766), chủ
nghĩa duy lý Đức của G.V.Lépnít - C.Vônphơ và tư tưởng của J.J.Rútxô thuộc
trào lưu Khai sáng Pháp. Tuy nhiên, triết học I.Cantơ không phải là tập đại
thành của các tư tưởng ấy, mà sự thật là đã có những bước vượt qua để mở
đường cho sự phát triển của triết học cận - hiện đại ở Đức nói riêng và
phương Tây nói chung. Rút gọn lại, tiền đề lý luận của triết học I.Cantơ là chủ
nghĩa duy lý và chủ nghĩa kinh nghiệm, trong đó có tính đến yếu tố biện
chứng của truyền thống tư tưởng Đức kế thừa từ thời cổ Hy Lạp.
Tiền đề lý luận thứ nhất là chủ nghĩa duy lý bao gồm những học thuyết
siêu hình xuất phát từ luận điểm về sự thống nhất giữa tư duy và tồn tại trên
cơ sở các quy luật lôgíc hình thức của tư duy. I.Cantơ tổng kết trào lưu duy lý
kể từ học thuyết ý niệm của Platôn đến học thuyết đơn tử của G.V.Lépnít và
rút ra điểm chung về nhận thức luận của trào lưu này là biến tư duy thành bản
23
thể của thế giới mà không đếm xỉa đến kinh nghiệm, cảm giác của con người,
biến những quy luật lôgíc hình thức của tư duy thành quy luật chung của mọi
tồn tại mà không quan tâm đến nội dung của nó. Vì vậy những ý niệm về
Thượng đế, Vũ trụ, và Sự bất tử của linh hồn chỉ là những khái niệm suông,
không có nội dung, mà các nhà duy lý tưởng tượng ra rồi không chứng minh
được sự tồn tại vững chắc của những ý niệm ấy. Như vậy, chủ nghĩa duy lý
chỉ sử dụng lý tính mà không quan tâm đến trực quan, trong khi lý tính của họ
không được kiểm tra về khả năng và phạm vi hoạt động khả hữu. Có nghĩa là
họ buông thả cho lý tính suy tưởng về mọi vấn đề xa rời khỏi lĩnh vực kinh
nghiệm, tạo ra những tri thức siêu hình, rồi đem những tri thức siêu hình ấy áp