Đạo hiếu trong phật giáo và ảnh hưởng của nó đến đạo đức ở VN hiện nay - Pdf 34

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
----------------------------------------

NGUYỄN THỊ THU

“ĐẠO HIẾU” TRONG PHẬT GIÁO VÀ ẢNH HƢỞNG
CỦA NÓ ĐẾN ĐẠO ĐỨC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Triết học

Hà Nội - 2015


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------------------------------------

NGUYỄN THỊ THU

“ĐẠO HIẾU” TRONG PHẬT GIÁO VÀ ẢNH HƢỞNG
CỦA NÓ ĐẾN ĐẠO ĐỨC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Triết học
Mã số: 60.22.03.01
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Mai Thị Thanh

Hà Nội - 2015



3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu luận văn ............................................. 6
4. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu luận văn .................................................. 7
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu của luận văn ........................ 7
6. Đóng góp của luận văn................................................................................ 7
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn ................................................ 8
8. Kết cấu của lận văn: ................................................................................... 8
Chƣơng 1: “ĐẠO HIẾU” TRONG PHẬT GIÁO VIỆT NAM .................. 9
NỘI DUNG VÀ NHỮNG BIỂU HIỆN CƠ BẢN ......................................... 9
1.1. Khái quát chung về Phật giáo Việt Nam ................................................ 9
1.1.1. Sự ra đời và quá trình phát triển của Phật giáo ................................... 9
1.1.2. Quá trình du nhập, phát triển Phật giáo ở Việt Nam ......................... 16
1.2. Nội dung cơ bản về “Đạo Hiếu” trong Phật giáo Việt Nam............... 20
1.2.1. Tư tưởng về “Đạo Hiếu” trong Phật giáo .......................................... 20
1.2.2. Tư tưởng “Đạo Hiếu” trong Phật giáo Việt Nam .............................. 26
Chƣơng 2: ẢNH HƢỞNG “ĐẠO HIẾU” TRONG PHẬT GIÁO ĐẾN ĐẠO
ĐỨC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY – THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP ...........32
2.1. Thực trạng ảnh hƣởng “Đạo Hiếu” trong Phật giáo đến đạo đức ở
Việt Nam hiện nay ......................................................................................... 32
2.1.1. Những tư tưởng về “Đạo Hiếu” trong đạo đức Việt Nam ................. 32
2.1.2. Những ảnh hưởng tích cực từ “Đạo Hiếu” Phật giáo đến đạo đức ở
Việt Nam ......................................................................................................... 40


2.1.3. Những ảnh hưởng tiêu cực từ “Đạo Hiếu” Phật giáo đến đạo đức ở
Việt Nam ......................................................................................................... 51
2.2. Một số giải pháp chủ yếu nhằm phát huy những ảnh hƣởng tích cực
và hạn chế mặt tiêu cực của “Đạo Hiếu” trong Phật giáo đến đạo đức ở
Việt Nam hiện nay ......................................................................................... 55
2.2.1. Phát triển kinh tế cần gắn với việc giáo dục các giá trị “Đạo Hiếu”
của Phật giáo vào đời sống xã hội................................................................. 55

quan hệ khác. Trong quan hệ gia đình chữ Hiếu đóng vai trò vô cùng quan
trọng, Hiếu không đơn thuần chỉ là hành vi ứng xử đạo đức của con cái đối
với cha mẹ mà hơn thế nữa, suy rộng ra chữ Hiếu còn bao gồm các mối quan
hệ giữa các thế hệ trong gia đình dòng tộc, là sự ghi nhận, tƣởng nhớ của con
của thế hệ sau đối với thế hệ trƣớc. Đạo Hiếu không chỉ là Hiếu với cha mẹ
1


mình nhƣ ngƣời xƣa vẫn nói, trong thời đa ̣i ngày nay, Hiếu còn là Hiế u v ới
nhân dân, với toàn dân tộc. Đây là điều mà các nhà tƣ tƣởng đạo đức hƣớng
đến, chính cái nhìn từ bi của Phật giáo đã tiếp thêm sức sống cho dân tộc và
khơi nguồn thêm cho dòng thác nhân đạo của dân tộc Việt Nam chảy mạnh
vào nghĩa sống vô cùng, đó là lòng hiếu thảo.
Nền kinh tế nƣớc ta hiện nay đang trong giai đoạn quá độ, chuyển tiếp
từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trƣờng có sự quản lý của
nhà nƣớc theo định hƣớng xã hội chủ nghĩa. Bên cạnh những mặt tích cực,
kinh tế thị trƣờng cũng gây ra những tác động tiêu cực đến đời sống đạo đức,
tinh thần của thế hệ trẻ - chủ nhân tƣơng lai đất nƣớc. Thực trạng đó đã gióng
lên hồi chuông cảnh báo cho toàn xã hội, đòi hỏi cộng đồng phải dành sự
quan tâm, nghiên cứu nhiều hơn đến đạo đức - vấn đề cần đƣợc quan tâm
trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay.
Tình hình đạo đức ở Việt Nam hiện nay đặt ra vần đề muốn giữ gìn,
phát huy các giá trị đạo đức của dân tộc cần nghiên cứu tƣ tƣởng đạo Hiếu
trong Phật giáo, bởi đạo Hiếu trong Phật giáo có tầm ảnh hƣởng rộng lớn tới
nếp sống, phong tục, tập quán ngƣời Việt, là tƣ tƣởng mang giá trị nhân văn
sâu sắc. Với những lý do trên , tôi lựa chọn đề tài: “Đạo Hiếu trong Phật giáo
và ảnh hƣởng của nó đến đạo đức ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài luận văn
thạc sĩ Triết học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Vấn đề “Đạo Hiếu” trong Phật giáo giống nhƣ thỏi nam châm thu hút

- Luận án tiến sĩ Triết học “Ảnh hưởng của những tư tưởng Triết học Phật
giáo trong đời sống văn hóa tinh thần dân tộc Việt Nam”, Lê Hữu Tuấn, 1999.
- Luận án tiến sĩ Triết học “Vai trò của Phật giáo ở Việt Nam”, Phạm
Văn Sinh, Trƣờng đại học tổng hợp, 1995.

3


- Luận án tiến sĩ Triết học “Ảnh hưởng của “Tâm” trong Phật giáo đối
với đời sống đạo đức ở nước ta hiện nay”, Ngô Thị Lan Anh.
- Luận án tiến sĩ Triết học “Ảnh hưởng của đạo đức Phật giáo trong
đời sống đạo đức của xã hội Việt Nam hiện nay”, Tạ Chí Hồng, 2004.
- Luận văn thạc sĩ “Nhân sinh quan Phật giáo và ảnh hưởng của nó
đến lối sống con người Việt Nam”, Nguyễn Minh Nhựt, Trƣờng khoa học xã
hội nhân văn thành phố Hồ Chí Minh, (tháng 9, 2011)
- Luận văn thạc sĩ “Thế giới quan, nhân sinh quan đạo Phật và sự ảnh
hưởng của nó tới xã hội Việt Nam”, Mai Xuân Hội, Trƣờng đại học khoa học
xã hội nhân văn, 1996.
- Luận văn thạc sĩ “Đạo Hiếu trong lễ Vu Lan Phật giáo”, Nguyễn Thị
Phƣơng Hà, Trƣờng đại học khoa học xã hội nhân văn, Hà Nội, 2014.
- Luận văn thạc sĩ “ Đạo Hiếu trong giáo dục đạo đức ở Việt Nam hiện
nay”, Lý Thị Cẩm Vân, Trƣờng đại học khoa học xã hội nhân văn, Hà Nội, 2014.
Các luận văn, luận án trên đã phân tích rõ ảnh hƣởng của Phật giáo đến
đạo đức, đời sống con ngƣời Việt Nam, vai trò của Phật giáo ở Việt Nam.
Ảnh hƣởng của “Tâm” trong Phật giáo đối với đời sống đạo đức ở nƣớc ta
hiện nay, ảnh hƣởng của đạo đức Phật giáo trong đời sống đạo đức của xã hội
hiện nay, nhân sinh quan Phật giáo và ảnh hƣởng của nó đến lối sống con
ngƣời Việt Nam… Tuy nhiên các tác giả chƣa đi sâu vào nghiên cứu “đạo
Hiếu” mà mới chỉ dừng lại ở mức độ khái quát ảnh hƣởng của Phật giáo đến
đạo đức nói chung.

GS.TS Đỗ Quang Hƣng. “Vài suy nghĩ về Phật giáo dân gian Việt Nam” (Tạp
chí Nghiên cứu Phật học số 2/1997) của Hoàng Thị Lan. “Phật giáo và tâm
hồn người Việt” (Tạp chí Nghiên cứu Phật học số 6/1998) của Vũ Minh
Tuyên. “Một vài đóng góp của Phật giáo đối với văn hoá Việt Nam” (Tạp chí
Nghiên cứu Tôn giáo, số 5/2005) của Lê Đức Hạnh. Công trình nghiên cứu

5


“Phật giáo và văn hóa dân gian Việt Nam, mấy vấn đề Phật giáo và lịch sử tư
tưởng Việt Nam”, Vũ Ngọc Khánh, Viện Triết học Hà Nội, 1986.
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu của các tác giả nêu trên, từ
nhiều góc độ khác nhau phần nào giúp chúng ta hiểu về đạo Phật, lịch sử Phật
giáo nƣớc ta. Tuy nhiên các tác giả chƣa đi sâu vào tìm hiểu về đạo Hiếu và
định hƣớng, giải pháp, ảnh hƣởng của đạo Hiếu trong Phật giáo đến đạo đức ở
Việt Nam hiện nay. Những đề tài trên đã cung cấp cơ sở khoa học lý luận và
thực tiễn quan trọng để tác giả đi sâu nghiên cứu những vấn đề mà đề tài của
tác giả đặt ra.
Với tình hình nghiên cứu nhƣ vậy, theo chúng tôi cần có một cái nhìn
hệ thống hơn, toàn diện hơn về quan niệm đạo Hiếu trong Phật giáo, đồng
thời từ đó áp dụng vào nhận thức và thực tiễn xã hội nƣớc ta hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu luận văn
3.1. Mục đích của luận văn
Nghiên cứu nội dung tƣ tƣởng “đạo Hiếu” trong Phật giáo Việt Nam,
chỉ ra ảnh hƣởng của tƣ tƣởng này ở Việt Nam hiện nay. Từ đó đƣa ra giải
pháp chủ yếu nhằm phát huy những ảnh hƣởng tích cực và hạn chế mặt tiêu
cực của “đạo Hiếu” trong Phật giáo đến đạo đức ở Việt Nam hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ của luận văn
Để đạt mục tiêu trên, luận văn đề ra và tập trung giải quyết những vấn đề chủ
yếu sau:

những vấn đề đặt ra.
6. Đóng góp của luận văn
Luận văn nghiên cứu một cách có hệ thống nội dung cơ bản tƣ tƣởng
“đạo Hiếu” trong Phật giáo, quá trình du nhập, biến đổi cũng nhƣ những ảnh
hƣởng của nó đến đạo đức ở Việt Nam hiện nay. Luận văn cố gắng đem lại
những tri thức, quan niệm về “đạo Hiếu” dƣới góc nhìn của đạo Phật, từ đó

7


giúp ngƣời đọc hiểu đƣợc tầm quan trong “đạo Hiếu”, đền đáp công ơn sinh
thành dƣỡng dục của ông bà, cha mẹ, nhận thức rõ nghĩa vụ, trách nhiệm của
bản thân đối với gia đình, xã hội.
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
7.1. Ý nghĩa lý luận
Luận văn cung cấp một cách hệ thống, bao quát khái quát về sự ra đời
và phát triển Phật giáo nói chung và Phật giáo Việt Nam nói riêng.
Làm rõ nội dung quan niệm “đạo Hiếu” trong Phật giáo, từ đó thấy
đƣợc nét đặc sắc riêng của “đạo Hiếu” trong đạo Phật ở nƣớc ta có tầm ảnh
hƣởng nhƣ thế nào đến đạo đức ngƣời Việt hiện nay. Đề tài sẽ là cơ sở lý luận
cho việc nghiên cứu về “đạo Hiếu” ở Phƣơng Đông, đặc biệt là ở Việt Nam.
7.2. Ý nghĩa thực tiễn
Công trình này có thể dùng làm tài liệu tham khảo nghiên cứu, giảng
dạy môn tôn giáo, đạo đức học, lịch sử triết học phƣơng Đông...Đặc biệt đề
tài là cơ sở để giáo dục đạo đức, đạo Hiếu, góp phần vào sự phát triển hoàn
thiện cho mỗi cá nhân.
8. Kết cấu của lận văn:
Ngoài phần mở đầu và kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo,
luận văn đƣợc trình bày gồm hai chƣơng, bốn tiết.



9


đời là “sinh, lão, bệnh, tử” và đời ngƣời chỉ là biển khổ nên thái tử quyết định
từ giã gia đình vợ con, tiền tài và danh vọng để đi tìm ánh sáng cho cuộc đời.
Trong nỗ lực tu luyện, thái tử Tất Đạt Đa tiếp xúc với các ẩn sĩ để tìm
hiểu Ấn Độ giáo nhƣng không thỏa lòng về cách khổ tu của tôn giáo này. Sau
đó, thái tử đi lên núi Tuyết Sơn với hy vọng áp dụng phƣơng pháp khổ tu sẽ
đem lại cho chính mình sự giác ngộ. Một hôm, thái tử quyết định lìa bỏ nơi
khổ tu để đi đến bờ sông Ni Liên, ở vùng Buddh Gaya, thuộc tỉnh Bihar. Sau
khi tắm rửa xong và uống một bát sữa do một cô gái chăn dê mang đến cho,
thái tử quyết định ngồi thiền dƣới bóng cây bồ đề cho đến khi nào tìm ra đƣợc
chân lý và sự siêu thoát. Đến ngày thứ 43, thái tử Tất Đạt Đa nhận thấy mình
giác ngộ, tức là hiểu biết hết mọi bí mật của cuộc đời và vũ trụ. Sau đó thái tử
Tất Đạt Đa tuyên bố đắc đạo và thành Phật. Nhƣ vậy, thái tử Tất Đạt Đa thành
Phật năm 35 tuổi, lấy danh hiệu là Thích Ca Mâu Ni. Sau khi đắc đạo, thái tử đi về
miền sông Hằng thu thập thêm môn đệ và rao giảng phƣơng cách tu hành. Thái tử
cho rằng nếu ai làm đúng theo lời giảng dạy của ngài đều có thể thành Phật.
Phật giáo phát triển thịnh vƣợng ở Ấn Độ vào thế kỷ III trƣớc công
nguyên. Ngay sau khi Phật tịch diệt, các học trò của ông tập hợp nhau lại tại
thành Vƣơng Xá, để biên soạn Kinh điển Phật giáo. Đây đƣợc coi là lần tập
kết lần I. Khoảng 100 năm sau, kết tập lần II họp ở Vaisali. Trong nội bộ Phật
giáo có mâu thuẫn, số đông đòi chữa lại, biên soạn luật tạng, những ngƣời này
bị trục xuất và tập hợp nhau lại thành phái Đại Chúng Bộ. Năm 245 trƣớc
công nguyên, kết tập lần III ở Pataliputra, có mƣời một phái ly khai, chia ra
làm nhiều trƣờng phái Phật giáo khác nhau, trong đó có hai trƣờng phái lớn
“Đại thừa”, “Tiểu thừa”.
“Đa ̣i thƣ̀a” hoàn toàn không xa rời Phật pháp , nhƣng về chủ trƣơng, nó
khác với “Tiể u thƣ̀a” vố n xuấ t phát tƣ̀ Phâ ̣t giáo Nguyên thủy. Đại thừa (cỗ xe

Hiện tại Phật giáo có hau hệ Kinh tạng: Kinh Nam truyền đƣợc phiên dịch
từ tiếng Pali và đƣợc xem là gần gũi với lời Phật dạy nhất; gồm năm bộ:
Trƣờng bộ kinh, trung bộ kinh, tƣơng ƣng bộ kinh, tăng chi bộ kinh và tiểu
bộ kinh. Ngoài ra còn có bốn bộ A-hàm: Trƣờng A-hàm, Trung A-hàm, Tăng
Nhất A-hàm và Tạp A-hàm Kinh Bắc truyền: điển hình nhƣ các bộ Pháp Hoa,
Hoa Nghiêm, Bảo Tích, Đại Tập, Kim Cang, Bát Nhã.

11


Luật tạng chứa đựng lịch sử phát triển của các giới luật của ngƣời xuất
gia, đƣợc xem là tạng sách cổ nhất, ra đời chỉ vài mƣơi năm sau khi Phật
nhập Niết-bàn.
Luận tạng chứa đựng các quan niệm đạo Phật về triết học và tâm lí học.
Luận tạng đƣợc hình thành tƣơng đối trễ, có lẽ là sau khi các trƣờng phái đạo
Phật tách nhau mà vì vậy nó không còn giữ tính chất thống nhất, mặc dù sự
khác biệt giữa các trƣờng phái không đáng kể
Thứ nhất: Thế giới quan Phật giáo có tính chất duy vật và vô thần.
Theo Phật giáo vũ trụ là tự nó, không do ai sinh ra, không có một thế lực nào
có thể dùng ý muốn của mình chi phối sự vận hành của nó, vũ trụ không sinh,
không diệt. Thế giới quan Phật giáo thể hiện qua bốn luận thuyết cơ bản:
Thuyết vô thƣờng, thuyết vô ngã, thuyết nhân quả, thuyết lý nhân duyên sinh.
“Thuyết vô thường” là không ở mãi một trạng thái nhất định mà thay
hình đổi dạng, đi từ trạng thái hình thành để rồi biến hình đổi dạng và sau
cùng đi đến sự tan rã. Thật vậy, mọi vật đều phải đƣợc tạo ra, tức là còn ở
điều kiện tốt, sau đó phải chuyển từ từ sang xấu và sau cùng đi đến sự tan rã.
Tất cả sự vật trong vũ trụ, từ nhỏ nhƣ hạt cát, đến lớn nhƣ trăng sao, đều phải
tuân theo luật vô thƣờng. Luật vô thƣờng chi phối vũ trụ, vạn vật, thân và tâm
ta. Sự vật luôn luôn biến đổi không có gì là thƣờng trụ, bất biến, ta lầm tƣởng
sự vật là yên tĩnh, là bất động nhƣng thật ra nó luôn luôn ở thể động, nó

sinh ra là có nguyên nhân. Cái nguyên nhân một mình cũng không tạo ra đƣợc
sự vật mà phải có đủ duyên thì mới tạo ra quả đƣợc. Sự vật là một tràng nhân
quả nối tiếp nhau không bao giờ đứt quãng.
Thuyết vô thƣờng, thuyết vô ngã, thuyết nhân quả, thuyết nhân duyên
sinh là điểm cốt lõi trong thế giới quan Phật giáo. Nó đóng vai trò quyết định
đối với việc hình thành quan điểm về con ngƣời và quan điểm nhân sinh quan
trong thế giới này.

13


Thứ hai: Nhân sinh quan Phâ ̣t g iáo: Triết học phƣơng Đông, trong đó
có Phật giáo nghiêng về nghiên cứu những vấn đề chính trị - xã hội, đạo đức,
tôn giáo với mục đích làm sáng tỏ, vạch ra những nguyên tắc ứng xử, giải
quyết mối quan hệ giữa con ngƣời với con ngƣời.
Giáo lý Phật giáo bao gồm hệ thống quan niệm về nhận thức luận, thế
giới quan, nhân sinh quan có kết cấu chặt chẽ với nhau. Triết lý nhân sinh
quan Phật giáo bắt nguồn từ thế giới quan, do thế giới quan Phật giáo chi
phối. Mục đích chủ yếu của Phật giáo là thoát khổ, giải phóng con ngƣời nên
mang giá trị nhân sinh sâu sắc. Theo Phật giáo, sự mất đi ở chỗ này là để sinh
ra ở chỗ khác, quá trình thác sinh luân hồi do nghiệp chi phối theo nhân quả.
Dƣới cái nhìn đạo Phật, để đến đƣợc sự giải thoát mọi ngƣời phải nhận thức
đƣợc bốn chân lý thiêng liêng tuyệt diệu (Tứ Diệu Đế), đây là giáo lý nền
tảng, là quan điểm cốt lõi về nhân sinh quan, định hƣớng cơ bản nhất của những
tƣ tƣởng Phật giáo. Tứ Diệu Đế bao gồm: Khổ đế - Tâ ̣p đế - Diê ̣t đế - Đa ̣o đế.
Khổ đế, nói về sự khổ ở đời. Khổ không chỉ có nghĩa là cảm giác đau
đớn, khổ nhọc thân mà còn chỉ trạng thái cảm thấy không yên ổn, không thỏa
mãn những mong muốn trong lòng. Tƣ tƣởng Phật giáo cho rằng, con ngƣời
sinh ra ở đời là khổ. Từ khi sinh ra đến lúc nhắm mắt xuôi tay không có lúc
nào hết khổ. Vũ trụ tự nhiên thì luôn trong quá trình biến đổi Thành - Trụ Hoại - Không. Về thân xác con ngƣời thì trải qua Sinh - Lão – Bệnh - Tử mà

Khổ là mầm gốc của phiền não mà phiền não đƣợc diệt nên những nghiệp quả
trong tam giới cũng diệt. Nếu các nghiệp phiền não trong tam giới đã diệt thì
liền chứng đắc đƣợc cảnh giới Niết bàn. Cảnh giới Niết bàn là nơi an lạc,
đoạn diệt hết thảy hoặc nghiệp luân hồi nên gọi là Diệt đế.
Đạo đế, nói về phƣơng pháp diệt trừ nguyên nhân sự khổ. Đạo là luân
lý, là con đƣờng đúng đắn, đạo còn có nghĩa là năng thông năng đạt, nó chính
là những phƣơng pháp, là con đƣờng tu tập để mong cầu vƣợt thoát khỏi trầm
luân, khổ ải trong tam giới. Đức Phật chỉ ra tám con đƣờng chính, bao gồm:

15


thấy biết chân chính (chính kiến); suy nghĩ chân chính (chính tƣ duy); lời nói
chân chính (chính ngữ); nghề nghiệp chân chính (chính nghiệp); đời sống
chân chính (chính mệnh); siêng năng chân chính (chính tịnh tiến); tƣởng nhớ
chân chính (chính niệm); định tâm chân chính (chính định). Tám con đƣờng
chân chính ấy Phật giáo gọi là Bát chính đạo.
Phật giáo luôn đề cao vai trò con ngƣời trong cuộc sống hiện thực, đây
là nét độc đáo trong thế giới quan, nhân sinh quan Phật giáo. Triết lý Phật
giáo đã biến đổi, phát triển ngày càng đa dạng để thích nghi với truyền thống
mỗi quốc gia, dân tộc trong thời kỳ lịch sử nhất định.
1.1.2. Quá trình du nhập, phát triển Phật giáo ở Việt Nam
Phật giáo du nhập vào nƣớc ta ở cả hai hệ phái: Phật giáo Nam Tông
(từ phía nam truyền xuống). Phật giáo Bắc Tông (từ phía bắc truyền sang).
Tất cả đều qua hai con đƣờng: Đƣờng bộ và đƣờng thủy. Đƣờng bộ: Năm 198
Phật giáo chính thức đƣợc truyền vào Việt Nam qua đƣờng bộ từ Trung Quốc
xuống với tên tuổi các danh tăng nhƣ: Ma Ha Kỳ Vực, Khâu Đà La…Đƣờng
Thủy: Đạo Phật đƣợc truyền vào nƣớc ta theo hai hƣớng: Thế kỷ XIII: Đạo
Phật truyền từ Srilanca vào “Thủy chân lạp” nay là khu vực Đồng Bằng Sông
Cửu Long. Khoảng giữa thế kỷ XVI vào thời nhà Thanh Trung Quốc xảy ra

không chỉ lan toả trên đất Giao Châu mà còn rộng sang cả Á Châu, thậm chí
sang cả vùng sâu nhƣ Thông Châu, Vĩnh Phú, Trƣờng Châu, trung tâm Phật
giáo lúc bấy giờ nhƣ chùa Kiến Sơ, Phổ quang, Sùng Nghiệp, Kiến Dƣơng,
Lâm Tuyền, Song Lâm, Khai Quốc…Các cơ sở này phần lớn nằm trong khu
vực Luy Lâu, Đại La là trung tâm chính trị văn hoá của cả nƣớc, đặc biệt tháp
thờ xá lợi Phật đã đƣợc xây dựng khắp nơi. Trong giai đoạn này các Tăng sĩ
không chỉ giỏi chuyên môn về Phật học mà còn rất am hiểu các nền triết học
nhƣ Nho - Lão. Phật giáo chiếm đƣợc ƣu thế ngay từ buổi sơ khai và ảnh
hƣởng đến văn hoá Đại Việt sau này.

17


Ở thời kỳ độc lập tự chủ, trải qua các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần đến
triều Nguyễn: Nhà Đinh và Tiền Lê đã đƣa Phật giáo lên thành quốc giáo với
chức tăng thống và thiền sƣ có vai trò cố vấn cho các nhà vua; thời nhà Lý,
Phật giáo phát triển cực thịnh, xuất hiện dòng thiền thứ ba là Thảo Đƣờng (do
ngài Thảo Đƣờng ngƣời Trung Quốc sáng lập). Giai đoạn này có sự hiện diện
của cả ba dòng thiền và Phật giáo có xu hƣớng nhập thế mạnh mẽ. Nhà Trần
với vai trò nổi bật của Trần Nhân Tông - Ngƣời sáng lập ra dòng thiền Trúc
Lâm Yên Tử; Thời Hậu Lê Phật giáo chính thức bƣớc vào thời kỳ suy thoái
với nhiều nguyên nhân.
Lý Công Uẩn lên ngôi lập ra nhà Lý. Sự xác lập của vƣơng triều Lý đã
mở ra một bƣớc phát triển mới cho Phật giáo. Nhà Lý đã có công làm cho Đại
Việt trở thành một quốc gia hùng mạnh suốt hơn hai thế kỷ. Dƣới triều đại
nhà Trần, nhà nƣớc phong kiến đƣợc khôi phục và củng cố. Nền văn hoá thời
kì này kết hợp với thời nhà Lý phát triển rực rỡ. Từ thế kỷ X nƣớc ta bƣớc
vào kỷ nguyên độc lập tự chủ tạo điều kiện cho Phật giáo phát triển thêm một
bƣớc mới. Hai triều đại Đinh - Lê Phật giáo đƣợc công nhận là tôn giáo chính
thức và có chính sách nâng đỡ Phật giáo, trọng dụng, phong thƣởng cho

Lão giáo, trong đó mỗi tôn giáo đáp ứng một phƣơng diện của cuộc sống.
Dƣới thời nhà Nguyễn, Phật giáo tiếp tục suy tàn. Những năm 30 của
thế kỷ XX, một số nhà tu hành và một số trí thức đã đứng ra vận động phong
trào “Chấn hƣng Phật giáo” vì thế Phật giáo có bƣớc khởi sắc. Thực dân Pháp
tìm cách lôi kéo một số nhân vật và tổ chức Phật giáo nhƣng không đƣợc. Đại
bộ phận tăng ni phật tử vẫn giữ đƣợc truyền thống yêu nƣớc, gắn bó với dân
tộc và đi theo cách mạng, ủng hộ phong trào kháng chiến.
Thời hiện đại, nhân dân hăng hái tham gia kháng chiến chống thực dân
Pháp và đế quốc Mỹ. Sau đại thắng mùa Xuân 1975, đất nƣớc thống nhất tạo
điều kiện cho Phật giáo thống nhất. Tháng 11-1981 Đại hội Đảng bộ thống
nhất Phật giáo đƣợc tổ chức, lập ra Giáo hội Phật giáo Việt Nam đáp ứng nhu

19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status