Bước đầu tìm hiểu phần thơ việt nam hiện đại trong sách giáo khoa văn cải cách giáo dục bậc trung học phổ thông hiện nay - Pdf 34

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

LẼ MAI ANH

BƯÓC ĐẦU TÌM HIỂU PHẨN THO VIỆT NAM HIỆN ĐẠI
TRONG SÁCH GIÁO KHOA VĂN CẢI CÁCH GIÁO DỤC
BẬC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HIỆN NAY


m

m





»



(Giới hạn trong bộ sách do trường Đại học sư phạm Hà nội I biên soạn
và bộ sách chỉnh lý hợp nhất nam 2000)

LUẬN VĂN THẠC sĩ KHOA HỌC NGỮ VĂN







3. Phương pháp nghiên cứu

.............................................................. 10

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5. Đóng góp mới của luận án
6. BỐ cục của luận án

.....................................................11

................................................................... 12

........................................................................... 12

CHƯƠNG 1 :

Diệìt mạo của thơ Việt Nam hiện đại trong sách giáo khoa
văn trung học p h ổ thông hiện nay ...................... 14
1.1. Nhận xét chung về chương trình thơ trong sách giáo khoa
trung học phổ thông

...................................................................... 14

1.2. Thơ Việt nam hiện đại trong bộ sách giáo khoa trung học
phổ thông đầu tiên sau hoà bình (ban hành năm học
1955 - 1956 và sử dụng đến hết những năm 70) .............................15
1.3. Thơ Việt nam hiện đại trong bộ sách giáo khoa trung học
phổ thông những năm 80


PHẦN KẾT LUẬN

.................................................................................... 70
...................................................................................................... 83

CÁC CHỮ VIẾT TẮT DÙNG TRONG LUẬN V Ă N ...................................................... 85
CÁC CHÚ THÍCH DÙNG TRONG LUẬN VĂN

......................................................... 85

PHỤ LỤC : CÁC BẢNG KHẢO SÁT VỀ TÁC GIẢ TÁC P H A M .......................... 86
TÀI LỈỆU THAM KHẢO ................................................................................................ 92


PHẦN Mỏ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỂ TÀI:

1.1. Nếu thơ là nhu cầu trong đời sống tâm linh con người - như bây
giờ người ta thường nói, thì với người giáo viên văn, nó còn phải thường
xuyên đi cùng những đòi hỏi nghiệt ngã của nghể nghiệp. Dù muốn hay
không, nghề nghiệp buộc người giáo viên văn phải giảng dạy những tác
phẩm thơ, tác giả thơ, hiện tượng thơ theo quy đinh của chương trình, phải
làm chủ được chương trình và những đom vị kiến thức cần có cho học sinh.
Bản thân những kinh nghiệm của người viết trong quá trình giảng dạy phần
thơ Việt nam hiện đại (VNHĐ) trong Sách giáo khoa (SGK) Cải cách giáo
dục (CCGD) đòi hỏi phải được tổng kết lại, nhìn sâu hơn. Luận văn này có ý
nghĩa như là một dịp nhìn lại một cách bao quát, tổng kết lại, nhìn sâu hơn
những kinh nghiệm ấy - với sự giúp đỡ của thầy hướng dẫn. Nó xuất phát từ
nhu cầu thiết thực của nghề nghiệp.
1.2. Mặt khác, thơ VNHĐ là một thời kỳ rực rỡ của lịch sử thơ ca dân

những ý kiến trái chiểu nhau, có những ý kiến giúp hiểu sâu hơn cách hiểu
của SGK ( thể hiện ở câu hỏi hướng dẫn học bài và SGV), có những ý kiến
phê phán SGK là viết sai, hiểu sai vấn đề. Ngay trong Tài liệu chuẩn kiến
thức, khi để cập đến cách hiểu một bài thơ, đoạn thơ cụ thể trong chương
trình, ý kiến chuẩn kiến thức của các tác giả cũng phủ định lẫn nhau. Có thể
nói, không một tác giả thơ, một tác phẩm thơ nào thuộc phần thơ VNHĐ
không được các tài liệu tham khảo bàn luận đến từ góc độ này hay góc độ
khác. Có những hiện tượng thơ đã được nhìn nhận từ nhiểu phía, nhiều góc
độ. Tình hình đó, một mặt biểu hiện sự phát triển của ý thức dân chủ trổng
thời đại ngày nay, mặt khác đòi hỏi người giáo viên phải có trình độ và bản
lĩnh cao hơn, phải biết lựa chọn và thẩm đinh các ý kiến cho công việc của
mình. Hơn nữa, đã đến lúc cần hệ thống hoá lại toàn bộ các ý kiến đó.
1.2.2. Vượt ra khỏi phạm vi nhà trường, SGK văn CCGD và SGK văn
chỉnh lý hợp nhất năm 2000 đã trở thành vấn đề của công luận xã hội. Người
ta đã phát biểu nhiểu ý kiến về SGK trên các báo chí và các diễn đàn khác
( Hội nghị, hội thảo, nói chyện văn học... ). SGK văn, nhất ỉà SGK Văn 12
đã trở thành sách giáo khoa trong dư luận. Gần đây, Bộ Giáo dục và Đào tạo
tổ chức hội thảo lớn về chuyên đề SGK và chương trình truyền hình trung
ương có một buổi gặp phỏng vấn các giáo sư, nhà văn về chương trình môn

2


văn w ... Bộ trưởng văn hoá thông tin kiêm Tổng thư ký Hội nhà văn Việt
nam Nguyễn Khoa Điềm nhận đinh:" Chính các đồng chí làm sách biết rõ là
trước đây chúng ta biên soạn vội, sau đó in đi in lại mấy lần, rồi cũng có bổ
sung vội. Trước đây chưa có điều kiện thì chúng ta đành phải chấp nhận như
thế. Chẳng hạn, sách giáo khoa văn viết về thơ văn Bác Hồ, tôi thấy như thế
là chưa được. Chúng ta phải dũng cảm sửa chữa. Hay có tác giả ta lại đẻ cao
hơi quá, có tác giả đánh giá chưa thật đúng, có tác giả đáng đưa vào chương

trong bất kỳ hoàn cảnh nào cũng phải có chất lượng tốt hơn những bộ đã có.
Đặc biệt, một số sai sót đã được dư luận phát hiện trong những năm qua nhất
thiết phải được khắc phục triệt để. Có lẽ vì vậy chưa bao giờ SGK môn vãn
được nói đến nhiều trên các phương tiện thông tin đại chúng như hiện nay.
Đặc biệt, sau khi có nghị quyết của Đảng vể giáo dục và sau khi Luật Giáo
dục được ban hành, vấn đề SGK văn đang là một vấn để nhạy cảm của dư
luận xã hội. Liên quan đến phần thơ VNHĐ, có những ý kiến nóng hổi bàn
vể cách đánh giá thơ VNHĐ ( về thơ mới, vể thơ cách mạng ) của SGK, vể
chương trình, về cách hiểu tác giả, tác phẩm, câu chữ cụ thể trong một bài
thơ. Đánh giá SGK văn THPT CCGD nói chung và phần thơ VNHĐ nói
riêng một cách toàn diện, khách quan và khoa học cần đến một tập thể các
nhà khoa học có trình độ chuyên môn cao. ở đây, chúng tôi muốn lưu ý một
điều: Bản thân lịch sử sôi động của các ý kiến liên quan đến phần thơ VNHĐ
trong SGK Văn CCGD đặt ra vấn đề phải nhanh chóng nhìn nhận lại một
cách khách quan, trong khả năng và điều kiện có thể toàn bộ đối tượng này
( từ chương trình cho đến việc hướng dẫn dạy và học). Luận văn là một đáp
ứng nhỏ bé kịp thời cho nhu cầu khách quan đó.
2. LỊCH SỬ VẤN ĐỂ:

Thực hiện nghị quyết của Bộ Chính trị trung ương Đảng vê cải cách
giáo dục và thi hành chủ trương của Bộ giáo dục về công tác biên soạn sách
giáo khoa cải cách giáo dục, Ban vận động tuyển chọn và sáng tác văn thơ
cho SGK ngữ văn phổ thông cải cách giáo dục đã ra thông báo chính thức
trên Báo văn nghệ số 1 ( 5 - 1 - 1980) về cuộc vận động này. Từ đó cho đến
nay vấn để tuyển chọn và chất lượng các tác giả, tác phẩm, nội dung chương
trình luôn được dư luận quan tâm. Sự quan tâm ấy được thể hiện trên các tờ
báo Văn Nghệ, Giáo dục và thời đại, Người Hà Nội, Vãn - TPHCM, Quân
đội nhân dân, Văn hoá w ... Ngoài ra trong một sô tập tiểu luận của các nhà
nghiên cứu văn học cũng đã để cập tới.


mà chúng còn được biểu hiện ở việc công phu tuyển chọn vào đây rất nhiều
tác phẩm viết về những tình cảm, những rung động bình thường trong sáng
mà thấm đượm giá trị nhân văn" [ 85, 6 ].
Có ý kiến thắc mắc vể việc lựa chọn tác giả tác phẩm tiêu biểu với so
sánh: " Hai nhà thơ được mệnh danh là chúa thơ tình: Đó là Xuân Diệu và
Nguyễn Bính. Một người tiêu biểu cho dòng thơ ảnh hưởng rất nhiều của
phương tây, đặc biệt là Pháp - còn một người tiêu biểu cho hồn thơ chân quê,
dân giã gần gũi với ca dao, dân ca. Cả hai người đều có những thành tựu
đáng trân trọng và đáng được học tập. Trong chương trình Văn học 11; ...
chúng cháu được học ba tác phẩm của Xuân Diệu ... và đọc thêm hai tác
phẩm ... Trong khi đó, chúng cháu Không được học một bài nào của Nguyễn
Bính chỉ được đọc thêm một tác phẩm Tươỉig t ư ...

[ 182,1]

Tựu trung các ý kiến đểu bộc lộ một tinh thần xây dựng và mong
muốn góp tiếng nói cho công cuộc cải cách giáo dục đáp ứng nhu cầu nâng
cao chất lượng giáo dục phổ thông trong thời đại mới.

7


Hai là: Các ỷ kiến vê những nhận định của SGK trong việc đánh giá
phần thơVNHĐ, các tác giả cũng như tác phẩm.
Một SỐ bài báo đã đề cập đến các luận điểm đánh giá của SGK về
phần thơ VNHĐ và một số tác giả như Hồ Chí Minh, Xuân Diệu ... Các bài
báo này tỏ ra không đồng tình với tác giả SGK ở một số vấn để như:
- Vị trí và tầm cỡ của nền Văn học Cách mạng Việt nam cũng như
thành tựu thơ ca.
- Cách đánh giá thơ văn Hồ Chí Minh.

trình giáo dục Pháp thuộc chủ yếu truyển bá văn minh Âu tây và văn hoá
Pháp). Tự thuở ban đầu, nó đã thâu góp được khá nhiểu tinh hoa của văn học
Việt Nam và một phần nhỏ của văn học thế giới ; nhiểu thành tựu của khoa
nghiên cứu văn học hiện đại cũng đã được thể hiện một cách nghiêm túc và
thống nhất, bộ sách giáo khoa văn học cùng với một hệ thống sách hướng
dẫn giảng dạy và sách tham khảo được lần lượt biên soạn và phát hành rộng
rãi. Song điểm ưu việt nhất của nền giáo dục cách mạng là việc đưa văn học
hiện đại nói chung và thơ ca cách mạng nói riêng vào chương trình đào tạo.
Đó là những kiến thức mang tính chất lịch sử cập nhật có nội dung giáo dục
chủ nghĩa anh hùng cách mạng, xây dựng con người mới, cuộc sống mới.
Tuy nhiên không phải không có một vài hạn chế trong quá trình lựa chọn tác
phẩm trích giảng.
Với một mốc thời gian hẹp, lại gắn với hoàn cảnh lịch sử đặc biệt vừa
chống giặc ngoại xâm vừa xây dựng đất nước nên trong bộ sách giáo khoa
1956 - 1957 chỉ có 16 bài thơ và một tác giả thơ (Tố Hữu) được chọn trích
giảng, hầu hết các tác phẩm thơ được chọn giảng đều thể hiện tập trung chủ
để yêu nước và cách mạng.
Nhìn bao quát, chương trình của cả cấp học được cấu tạo theo trình tự
thời gian tò cổ điển đến hiện đại, song mỗi một khối lớp lại đan xen các tác
phẩm hiện đại khiến tiến trình lịch sử văn học sắp xếp theo trật tự thời gian
dường như bị phá vỡ. Cụ thể :
- Khôi lớp 8 (tức lớp 10 hiện nay), xen vào học hai bài thuộc phần thơ
Việt Nam hiện đại với tiêu mục "Văn thơ hoà bình" : bài thơ Người con gái
Việt Nam của Tô Hữu và bài thơ Đoàn thuyền đánh cá của Huy Cận.
- Khôi lớp 9 (tức lớp 11 hiện nay), học kỳ II, theo đúng tiến trình lịch
sử văn học giai đoạn từ giữa thế kỷ XEX đến năm 1930 thuộc phân kỳ "Thời
cận đại" phần thơ được chọn lọc là bốn tác phẩm. Tác giả Phan Bội Châw
bài Vì sao mất nước, và tiêu mục Văn chươììg yêu nước hai tác phẩm Bài ca
ỉitu biệt của Huỳnh Thúc Kháng, Chiêu hồn nước của Đông kinh nghĩa thục.
Tiêu mục Nền quốc văn mới chọn học tác phẩm Thê non nước của Tản Đà.

học ỈIỢỊ) pháp). Văn học hợp pháp được chia thành Văn học nô dịch, Văn học
Ỉãỉig mạn, hiện thực và vân nghiên cíãi.
Khi đánh giá hình thức của Văn học, Thơ được giành m ột phần
in đậm và được đánh giá trên hai khía cạnh : Sự phát triển của Thơ

17


mới và đặc điểm của Thơ mới với nhận định sự thắng lợi của thơ
mới xuất phát từ hai lý do cơ bản:
"a. Nó hợp với nhu cầu của lớp độc giả mới (tư sản, tiểu tư sản, trí
thức), lớp người này có nếp sống, tâm hồn, nhu cẩu về tình cảm, nghệ thuật
khác hẳn lớp trí thức phong kiến, họ không chịu nổi những khuôn khổ gò bố,
cứng nhắc của thơ Đường. Thơ mới có khả năng diễn đạt được đầy đủ ỷ nghĩ
tình cảm của họ hơn.
b. Thành trĩ của văn thơ phong kiến cũng suy yếu lắm rồi, ngay
cả những nhà thơ của lớp trước có nhiều hán học như Tản Đà cũng đã
"phá cách, vứt điệu luật và làm những bài thơ theo điệu riêng, hoàn
toàn tự do của mình" [54, 21].
Đổng thời chương Khái luận cũng đưa ra những nhận định về đặc
điểm thơ mới ở phương diện hình thức. Đó là, thơ mới không bắt buộc
phải có số câu, vần, luật như thơ Đường. Thơ mới sử dụng mạnh bạo
lối ngắt câu mới và chú trọng vận dụng khả năng âm thanh và nhịp
điệu của ngồn ngữ dân tộc để diễn đạt trung thành cảm xúc tác giả.
Âm điệu thường linh hoạt uyển chuyển hơn thơ cũ. Ngôn ngữ trong thơ
mới không quá trang trọng với nhiều tiếng Hán Việt, điển cố, điển tích
mà chủ yếu là ngôn ngữ rút ra từ tiếng nói phổ thông thường ngày nên
nhẹ nhàng trong sáng, dễ hiểu. "Với những đặc điểm trên thơ mới phát
triển rất nhanh chóng. Chỉ trong khoảng năm bảy năm, thơ mới đã có
đủ loại: Thơ trữ tình (Lưu Trọng Lư, Thế Lữ, Xuân Diệu...), Thơ trào









Chương IV - Văn học cách mọng ỉ 930 - 1945 được giới thiệu trong 66
trang. Ngoài bài khái quát hai tiết với những đánh giá "Văn học cách mạng
về số lượng ít hơn văn học hiện thực phê phán và văn học lãng mạn, nhưng
về tư tưởng, giá trị của nó rất cao ... thế giới quan của chủ nghĩa Mác - Lê
nin - nhân sinh quan cộng sản chủ nghĩa ... đã đưa vào văn học một nội dung
và một nghệ thuật mới không thể tìm thấy ở các dòng văn học khác của giai
đoạn" [154, 130] phần giới thiệu tác phẩm được chia làm ba mảng lớn :
M ảng th ứ nhất - Tập thơ Từ ấy của Tố Hữu được học khái quát
trong hai tiết, tiếp đó trích giảng hai bài thơ : Con cá chột nưa (1 tiết)
và Bà má Hậu Giang (2 tiết), đọc và bình chú năm tác phẩm : Từ ấy,
Tiếng hát sông Hương, Trăng trối, Đi, Xiiân đến (1 tiết).

24



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status