Chuyên đề Sản Phụ Khoa – Nhi Sơ Sinh HỘI NGHỊ VIỆT PHÁP CHÂU Á THÁI BÌNH DƯƠNG - Pdf 34

Chuyên đề Sản Phụ Khoa – Nhi Sơ Sinh
HỘI NGHỊ VIỆT PHÁP CHÂU Á THÁI BÌNH DƢƠNG
LẦN X . Ngày 12 – 14 Tháng 5 năm 2010

0


CÁC PHƢƠNG PHÁP NGOẠI KHOA THƢỜNG ĐƢỢC SỬ DỤNG ĐỂ XỬ TRÍ
TIỂU KHÔNG KIỂM SOÁT DO GẮNG SỨC Ở NỮ
Phạm Văn Bùi*
*: Bệnh viện Nguyễn Tri Phƣơng
Tác giả liên lạc: Ts. Bs Phạm Văn Bùi – 0913670965 –
THE MOST COMMON SURGICAL PROCEDURES USED
MANAGEMENT OF FEMALE STRESS URINARY INCONTINENCE

IN

THE

PHẪU THUẬT Ở ÂM ĐẠO ĐỂ ĐIỀU TRỊ TKKSDGS
Các phương pháp sử dụng võng treo(sling). Các võng treo đƣợc thiết kế chuyên biệt để
đáp ứng yêu cầu di động quá mức và sự khiếm khuyết nội tại của cơ thắt trong
TKKSDGS. Tỷ lệ thành công lâu dài 83% với các biến chứng nội ngoại khoa của kỹ
thuật sử dụng võng treo tƣơng đƣơng với các kỹ thuật treo cổ bàng quang qua đƣờng sau
xƣơng mu hay xuyên âm đạo. Các kỹ thuật sử dụng võng treo kinh điển đƣợc thực hiện
qua ngả bụng-tầng sinh môn và gần đây hơn qua các phƣơng pháp nội soi. Sự sử dụng
các mỏ neo bằng xƣơng ở mặt dƣới cành xƣơng mu hay khớp mu để may các mối chỉ cố
định võng treo có thể thực hiện xuyên qua âm đạo[12].
Võng treo mu-âm đạo bằng cân cơ thẳng. Kỹ thuật này đƣợc McGuire và cộng sự[7] giới
thiệu vào năm 1978. Cân cơ tự thân có ƣu điểm là sử dụng đƣợc lâu dài và giảm tỷ lệ
phải lấy bỏ vì nhiễm trùng và gây loét niệu đạo.


% Thành công

Thời gian theo dõi (tháng)

Ulmsten và cs[11]

86

36

Olssen và cs[12]

90

36

Nilson và cs[12]

91

40-70

Wang và cs[13]

83 - 87

24

Morgan và cs[7]

của phƣơng pháp này đƣợc cho là ít có nguy cơ tổn thƣơng mạch máu, ruột. Trên lý
thuyết kỹ thuật này cũng ít có nguy cơ tổn thƣơng bàng quang và có thể giảm yêu cầu cần
soi bàng quang . Các biến chứng co nguy cơ gồm máu tụ, tổn thƣơng thần kinh, mạch
máu (hinh 3).

Một nghiên cứu tiến cứu có kiểm chứng và ngẫu nhiên so sánh TOT và TVT chủ yếu về
các biến chứng hơn là về hiệu quả đã và đang đƣợc de Tayrac và cộng sự[4] thực hiện từ
2004.

3


Nghiên cứu sẽ báo cáo khi đủ số BN và thời gian theo dõi đủ dài, các kết quả của tác giả
này sau 1 năm theo dõi nhƣ sau:
TOT

TVT

P

Thời gian mổ trung bình

15± 4 phút

27± 8 phút

< 0.001

Tổn thƣơng bang quang


3.

Chou EC et al(2003). Effective treatment for mixed urinary incontinence with
pubovaginal sling. 170(2 Pt 1): 494 -497.

4.

De Tayrac R, Deffieux X, Droupy S, Chauveaud – Lambling A, Calvanese –
Benamour L, Fernandez H(2004). A prospective randomized trial comparing
tension – free vaginal tape and transobturator suburethral tape for surgical
treatment of stress urinary incontinence. Am J Obstet Gynecol. 190(3): 602-608.

5.

Fritel X et al(2002). Predictive value of urethral mobility before suburethral
tape procedure for urinary stress incontinence in women. J Urol. 168(6): 2472 –
2475.

6.

Hodroff MA, Sutherland SE, Kesha JB, Siegel SW(2005). Treatment of stress
incontinence with the SPARC sling: Intraoperative and early complications of 445
patients. Urology. 66(4):760 – 762.

7.

Morgan, T.O, Jr O.L Westney, and E.J McGuire(2000). Pubovaginal sling: 4year outcome analysis and quality of life assessment. J. Urol. 153(6): 1845 – 1848.

8.


13.

Wang AC and TS Lo(1998). Tension –free vaginal tape. A minimally invasive
solution to stress urinary incontinence in women. J Reprod Med. 43(5): 429 – 434.

14.

Ward K and P Hilton(2002). Prospective multicentre randomized trial of
tension-free vaginal tape and colposuspension as primary treatment for stress
incontinence. Bmj. 325(7355): 67.

5


TỔNG QUAN VỀ ĐÁNH GIÁ VÀ XỬ TRÍ BẾ TẮT ĐƢỜNG TỐNG XUẤT
NƢỚC TIỂU SAU PHẪU THUẬT CHỐNG TIỂU KHÔNG KIỂM SOÁT Ở NỮ
Phạm Văn Bùi*
*: Bệnh viện Nguyễn Tri Phƣơng
Tác giả liên lạc: Ts. Bs Phạm Văn Bùi – 0913670965 –
ESTIMATION AND TREATMENT FOR POTENTIAL POSTOPERATIVE
BLADDER-OUTLET OBSTRUCTION AFTER ANTI-INCONTINENCE SURGERY
ĐẠI CƢƠNG
Tiểu không kiểm soát do gắng sức là vấn đề khá thƣờng gặp ở phụ nữ và trong nhiều
trƣờng hợp cần phải điều trị bằng phẫu thuật. Đã có rất nhiều kỹ thuật nhƣ MarchallMarchetti, Raz, Burch, TVT, TOT…đƣợc ứng dụng để điều trị loại bệnh lý này, tuy
không nguy hiểm đến tính mạng nhƣng lại gây phiền phức không ít và ảnh hƣởng đến
chất lƣợng đời sống bệnh nhân. Tuy kết quả điều trị ngày càng tốt hơn, nhƣng các biến
chứng do bản thân phẫu thuật gây ra cũng gây phiền phức không ít cho bệnh nhân, trong
đó biến chứng sau phẫu thuật mổ chống tiểu không kiểm soát thƣờng gặp nhất là bế tắt
đƣờng tống xuất nƣớc tiểu mà điều trị cũng không kém phần phức tạp. Chẩn đoán đòi hỏi
những tiếp cận hợp lý để lựa chọn phƣơng pháp điều trị thích hợp

đạo có thể gặp trở lực. Mặt khác, võng treo cổ bàng quang có thể kéo đè niệu đạo sát vào
xƣơng mu và tạo góc niệu đạo-bàng quang âm tính. Điều quan trọng cần biết là có thể
gặp những bế tắt do điều trị trong khi niệu đạo/cổ bàng quang không bị treo hay kéo cao
quá mức. Nơi BN có cơ chóp bàng quang giảm co bóp, chỉ một trở lực nhẹ thêm vào niệu
đạo có thể đủ để gây bí tiểu hay các triệu chứng bế tắt.
Cần khám những phần còn lại của âm đạo để xem có sa bàng quang hay các dạng sa khác
có thể tạo ra một điểm tựa hay hay điểm bế tắt dù cho niệu tạo đã đƣợc phục hồi tốt. BN
cũng cần đƣợc đánh giá xem có tiểu không kiểm soát do gắng sức(stress incontinence)
hay niệu đạo di động quá mức.
Với sự gia tăng các chất liệu tổng hợp trong điều trị chống tiểu không kiểm soát, loét chợt
niệu đạo hay âm đạo hay sa niêm mạc có thể xảy ra cùng lúc với bế tắt; cũng cần nhớ
rằng loét niệu đạo, nếu có, thƣờng bắt buộc phải sử dụng phẫu thuật. Thƣờng loét âm đạo
có thể phát hiện dễ dàng qua thăm khám, nhƣng soi thêm âm đạo sẽ giúp nhìn chỗ loét dễ
dàng hơn[4].
ĐÁNH GIÁ NIỆU ĐỘNG HỌC
Thƣờng chúng ta nghĩ rằng niệu động học là tiêu chuẩn vàng để đánh giá BN nghi ngờ có
bế tắt đƣờng tống xuất nƣớc tiểu sau phẫu thuật, nhƣng hầu hết các nghiên cứu đều cho
thấy ít có sự tƣơng quan giữa các phát hiện trên niệu động học và các kết quả sau mổ giải
phóng niệu đạo. Hơn nữa những tiêu chí tuyệt đối để chẩn đoán bế tắt ở nữ chƣa đƣợc
xác định dù có vài trị số đã đƣợc đề nghị.
Chassagne và cộng sự(cs) đã chứng minh, ở trị số ≤ 15ml/giây, dòng tiểu với áp lực cơ
chóp bàng quang ≥ 20 cmH2 O có thể xác định là có bế tắt đƣờng tống xuất nƣớc tiểu ở
nữ với độ nhạy 74% và độ chuyên 91,1%[5]. Tuy nhiên, có sự trùng lấp rất lớn các BN
giữa hai nhóm có bế tắt và không có bế tắt. Blaicas và Groutz[6] đã đánh giá các dữ liệu
của gần 600 BN để xác định biểu đồ bình thƣờng và cũng sử dụng ”niệu dòng tự do”
(“free uroflow”) là thông số để cung cấp một số lợi ích nơi các BN không thể đi tiểu
trong lúc khảo sát. Các tác giả cũng thêm vào định nghĩa là bế tắt có thể đƣợc phân loại
dựa trên aP cơ chóp > 20 cmH2 O dù cho không có dòng tiểu hay không đi tiểu đƣợc do
có thông tiểu tại chỗ.
Nitti và cs[7] đã sữ dụng kết hợp niệu động học nhìều kênh và quay phim soi niệu dòng

vai trò trong thực hiện phẫu thuật gồm loạivòng hay phƣơng pháp chống tiểu không kiểm
soát sử dụng, bệnh cảnh của tình trạng đi tiểu hiện tại(nhƣ bí tiểu hay các triệu chứng
kích thích đi tiểu) và quan trọng nhất là kết quả BN mong muốn.
Nếu BN hài lòng và chấp nhận tình trạng bí tiểu, thì không nên chấp nhận nguy cơ, dù
nhỏ, tiểu không kiểm soát do gắng sức tái phát sau mổ giải phóng niệu đạo. Khi đó BN
và thầy thuốc cần trao đổi để quyết định nên làm nhƣ thế nào. Trƣờng hợp này có thể
nảy sinh khi BN bị tiểu không kiệm soát nặng trƣớc mổ và sau mổ lại bị bí tiểu và có thể
xử trí bằng tự thông tiểu cách quãng sau mổ. Nếu BN cảm thấy chất lƣợng cuộc sống
hiện tại tốt hơn là nguy cơ tái phát tiểu không kiểm soát do gắng sức sau mổ, thì BN có
thể rất thỏa mãn với tiếp tục tự thông tiểu.
THỜI ĐIỂM CAN THIỆP
Theo kinh điển, ba tháng là thời điểm để quyết định khi nào tiếp tục theo dõi, khi nào can
thiệp. Hầu hết tác giả tin rằng, thời điểm này sinh ra từ các dữ kiện liên quan đến sử dụng
võng treo đƣợc chuyển vị từ cân cơ tự thân nên có thể trở nên bị lỏng lẻo theo thời gian,
do vậy giúp BN tống xuất đƣợc hoàn toàn nƣớc tiểu. Nhiều câu hỏi đƣợc đặt ra là ở ba
tháng BNcó thật sự tống xuất nƣớc tiểu với áp lực cơ chóp thấp hay không(tức không có
bế tắt). Do vậy, nhiều thầy thuốc thăm hỏi BN ở những thời điểm sớm hơn trƣớc kia.
8


KỸ THUẬT NGOẠI KHOA
Có nhiều kỹ thuật ngoại khoa tùy theo chất liệu đã sử dụng trong phẫu thuật chống tiểu
không kiểm soát lần trƣớc, thời gian có các triệu chứng từ lúc nào sau mổ và những phẫu
thuật kết hợp đã làm(nhƣ tạo hình sa bàng quang) . Tiếp cận phẫu thuật gồm cắt võng
treo, giải phóng niệu đạo xuyên âm đạo, giải phóng niệu đạo sau xƣơng mu, giải phóng
niệu đạo trên miệng niệu đạo và đặt chèn mảnh ghép. Phẫu thuật phổ biến thƣờng đƣợc
sử dụng là George Webster[8]
Trƣớc tiên bàng quang đƣợc bơm phồng lên và bảo đảm không bi rò rỉ bằng nghiệm pháp
Credé. Trong trƣờng hợp vòng giữa niệu đạo và không bị loét, điều trị đầu tiên là cắt
vòng. Chỉ thủ thuật này đủ để cải thiện hầu hết bế tắt. Nếu không sẽ đi vào vùng sau

Loại phẫu thuật

Tỷ lệ thành
công

Tiểu không
kiểm soát(%)

(%)
Foster và Mc Guire

48

Xuyên âm đạo

65

0

Nitti và Raz

42

Xuyên âm đạo

71

0

Cross và cs


15

Sau xƣơng mu

93

13

Carr và Webster

54

Hỗn hợp

78

14

KẾT LUẬN
Bế tắt đƣờng tống xuất nƣớc tiểu sau phẫu thuật chống tiểu không kiểm soát ở nữ là một
tiêu đề khá mơ hồ do thiếu các tiêu chí đánh giá chuẩn. Trong khi đó, các xử trí nhằm đạt
các kết quả lâu dài không tốt nhƣ chúng ta thƣờng nghĩ. Để đạt các mục tiêu này, cần có
các nghiên cứu đánh giá một cách hiệu quả các kết quả trƣớc và sau mổ trong dài hạn
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.

Vasavada S. P.(2006): Evaluation and management of postoperative bladder
outlet obstruction in women. AUA annual meeting Atlanta, Georgia, CME
Course.

10


8.

Amundsen CL, Guralnic ML, Webster GD.(2000). Variation in strategy for the
treatment of urethral obstruction after a pubovaginal sling procedure J
Urol;164(2): 434-437.

9.

Abousasally R, Steinberg JR, Corcos J.(2002). Complications of tension free
vaginal tape surgery, a multi- institutional review of 242 cases. AUA annual
meeting Orlando, Fl, abs# 416.

10. Aspera AM, Vasavada SP, Appell RA, et al.(2002). Long term follow up of
patients after urethrolysis: quality of life outcomes. Society for femaleUro;ogy and
Urodynamics, Orlando, Fl.
*: Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch, Bệnh viện Nguyễn Tri Phƣơng

11


PHÁ THAI Ở NỮ VỊ THÀNH NIÊN
Adolescent’s abortion
Phạm Thanh Hải*,Huỳnh Thị Thu Thủy*
*: Bệnh viện Từ Dũ
Tác giả liên lạc: Bs. CK1 Phạm Thanh Hải – 0918449869 –
ĐẶT VẤN ĐỀ
Vị thành niên là giai đoạn chuyển đổi quan trọng từ thiếu niên sang ngƣời lớn. Chất

12


Bảng 1: Tình hình phá thai VTN tại bệnh viện Từ Dũ(1)
Năm
Phá thai < 19 tuổi
% trong tổng số phá thai

2005

2006

2007

2008

388

398

425

512

1,63%

1,60%

1,76%



5,9%

Huỳnh Nguyễn Khánh Trang

Học sinh cấp 3 toàn thành

8,17%

Trên phạm vi toàn quốc, Viện xã hội học và hội đồng dân số khảo sát tại 6 tỉnh Việt Nam
(Lai Châu, Quảng Ninh, Hà Tây, Quảng Nam – Đà Nẵng, Tp.HCM và Kiên Giang) ghi
nhận có 6% nam và 4% nữ có quan hệ tình dục lần đầu trƣớc 18 tuổi, tỷ lệ có quan hệ
tình dục chung trong toàn nghiên cứu là 10% đối với nam và 5% đối với nữ(3).
Thiếu kiến thức về SKSS
Tác giả Khánh Trang cũng so sánh tỷ lệ quan hệ tình dục của VTN Tp.HCM với các
nƣớc khác nhận thấy rằng tỷ lệ nữ VTN có quan hệ tình dục chúng ta thấp hơn so với các
nƣớc trong khu vực, nhƣng tại sao phá thai ở tuổi VTN cũng là một thực trạng phổ biến

13


tại Tp.HCM; điều này chúng tôi nghĩ rằng do thiếu các kiến thức về SKSS đặt biệt là về
tránh thai và tình dục an toàn(13).
Bảng 3: Tỷ lệ quan hệ tình dục tuổi VTN ở một số nước Châu Á
Nƣớc

Nam

Nữ


khỏe sinh sản là dành cho các cặp vợ chồng hơn là bao hàm thanh niên chƣa lập gia đình,
dẫn đến sự miễn cƣỡng hoặc khó khăn khi tiếp cận các biện pháp tránh thai.
Nghiên cứu của Phạm Gia Đức (6) khảo sát học sinh sinh viên tại Tp.HCM thấy trên 70%
đối tƣợng nghiên cứu cần đƣợc cung cấp kiến thức về SKSS, nơi cung cấp nên là nhà
trƣờng còn các cơ sở y tế chỉ là thứ yếu. Khảo sát của Nguyễn Đức Trí Dũng(7), Diệp Từ
Mỹ (10) cũng cho kết quả tƣơng tự khi khảo sát trên các học sinh cấp 3.
Các lý do sau khi có thai
Nghiên cứu của Huỳnh Thanh Hƣơng (9) trên các nữ VTN phá thai to tại bệnh viện Từ
Dũ cho thấy các lý do xin phá thai chính: do bạn tình ép buộc (30%), do gia đình ép buộc
(80%), chƣa có điều kiện nuôi con (76%), còn đi học (37%). Không biết thời điểm dễ
mang thai nhất (61%), không biết về biện pháp tránh thai (50%), không biết tuổi có thai
phù hợp (90%).
Nữ VTN trẻ tuổi, độc thân, có chí hƣớng học tập, có nghề nghiệp, có cơ hội thăng tiến mà
có thai ngoài ý muốn sẽ chọn biện pháp phá thai. Một nghiên cứu tại Tp.HCM khảo sát
học sinh cấp 3 cho thấy 48,3% học sinh đồng ý với quan điểm nếu lỡ co thai thì sẽ phá
thai, các VTN dƣờng nhƣ xem phá thai là một biện pháp tránh thai ở lứa tuổi mình (5).
Nghiên cứu của Huỳnh Nguyễn Khánh Trang chỉ ra rằng giải pháp mà chính bản thân các
em học sinh và gia đình chọn lựa khi biết có thai là phá thai. Các lý do đƣa ra là: thứ nhất
các em còn quá trẻ, còn lệ thuộc kinh tế gia đình chƣa có khả năng nuôi con; thứ hai
thƣờng sau khi biết các em có thai bạn tình của các em thƣờng không có ý định tiến đến
hôn nhân và yếu tố pháp luật cũng không tán thành những cuộc hôn nhân ở tuổi VTN
(14).

14


Bên cạnh đó cũng không thể bỏ qua một yếu tố: luật y tế của chúng ta hiện nay rất dễ
dàng trong việc thực hiện thủ thuật bỏ thai ở nữ, điều này mặc dù không phải là sự
khuyến khích nhƣng rõ ràng không có tính ngăn chặn và răn đe.
YẾU TỐ NGUY CƠ CỦA PHÁ THAI TUỔI VỊ THÀNH NIÊN

Gần nhƣ nữ VTN thiếu hụt về kiến thức sinh sản nên không biết có thai lúc nào, hoặc do
lo sợ lúng túng không biết các giải quyết nên khi tuổi thai rất lớn mới quyết định bỏ thai
do đó có rất nhiều tai biến.
15


-

Rối loạn kinh nguyệt: chiếm tỷ lệ 10 – 14% trong các nghiên cứu tại
Việt Nam (13).

-

Sót nhau: chiếm tỷ lệ 2,5 – 3,7% trong các nghiên cứu tại Việt Nam (13).

-

Sang chấn ở tử cung: thủng tử cung, tổn thƣơng cổ tử cung, tổn thƣơng
niêm mạc tử cung gây chảy máu tử cung sau phá thai.

-

Nhiễm trùng: có thể xuất hiện 18,5% sau phá thai, thƣờng nhất là viêm
vùng chậu (PID), viêm vùng chậu rất khó chẩn đoán và quản lý và đây là
nguyên nhân dẫn đến vô sinh ở ngƣời phụ nữ. Một nghiên cứu tại Mỹ báo cáo
rằng, phụ nữ sau 1 lần có PID tỷ lệ vô sinh là 10%, nếu có 2 lần PID tỷ lệ vô
sinh là 30% và sau 3 lần PID tỷ lệ vô sinh tăng đến 60% (32,34).

-


kết quả rất đáng báo động.
-

David M khảo sát các rối loạn sức khỏe tâm thần thƣờng gặp trên 543 phụ
nữ nạo phá thai nhận thấy có nguy cơ gia tăng các rối loạn tâm thần phổ biến
nhƣ: trầm cảm nặng, lo lắng, có ý tƣởng tự tử, nghiện rƣợu và chất gây nghiện.
Các dấu hiệu trầm cảm thƣờng nặng nề hơn nếu phá thai ở tuổi VTN. Một
nghiên cứu tại Phần Lan cũng cho thấy co sự gia tăng tự tử ở phụ nữ sau phá
thai (22).

-

Một khảo sát so sánh rối loạn tâm thần ở nữ VTN so với nữ thành niên cho
thấy tƣ tƣởng bị ép buộc, ý nghĩ tự vẫn trƣớc khi phá thai và các cơn ác mộng
sau khi phá thai, tƣ tƣởng chống đối xã hội, rối loạn nhân cách, nghiện ngập
xuất hiện nhiều ở nhóm VTN.
16


-

Franz W cho rằng, so với ngƣời trƣởng thành trẻ VTN thƣờng không hài
lòng với quyết định phá thai của mình. Họ cũng cho rằng mình không đƣợc
thông báo đầy đủ về tình hình sức khỏe chi tiết tại lúc phá thai và họ có những
nguy cơ bị những căng thẳng thần kinh nặng(24).

-

Tại Tp.HCM sang chấn tâm lý sau bỏ thai ở nữ VTN thƣờng biểu hiện dƣới
dạng suy nhƣợc tinh thần chiếm tỷ lệ 27,5% trong các trƣờng hợp phá thai.

điểm quan hệ tình dục lần đầu; tăng kiến thức về sức khỏe sinh sản ở học sinh và cải
thiện hơn việc trao đổi thông tin giữa cha mẹ và con cái quan niệm về trinh tiết và giới
tính.
Nghiên cứu tại Vancouver, Canada khẳng định nhu cầu giáo dục cho các bác sĩ tƣơng lai
những kiến thức sâu hơn liên quan đến nạo phá thai.
Hầu hết ở các nƣớc đều nhấn mạnh vai trò quan trọng của truyền hình trong vấn đề giáo
dục giới tính.
17


Tình hình giáo dục giới tính tại Việt Nam
Ở nƣớc ta, giáo dục dân số bắt đầu đƣa vào thử nghiệm giảng dạy từ năm 1984 (Dự án
VIE/88/P10), giáo dục giới tính và giáo dục đời sống gia đình (dự án VIE/88/P09).
Chƣơng trình đƣợc hoàn chỉnh trong thời gian 1994 – 1996 (dự án VIE/94/P10). Mục tiêu
của chƣơng trình giáo dục đó là: Giáo dục tình dục an toàn không làm cho có thai và mắc
bệnh lây truyền qua đƣờng tình dục ở nữ VTN có sinh hoạt tình dục sớm; giáo dục giới
tính nhằm trì hoãn sinh hoạt tình dục ở nữ VTN. Tuy nhiên hiệu quả chƣơng trình thì
chƣa có khảo sát rộng để đánh giá.
Theo một cuộc khảo sát của Viện chiến lƣợc và chƣơng trình giáo dục về tình hình thực
hiện chƣơng trình này thì GD sức khỏe sinh sản mới chỉ dừng ở mức dạy cho học sinh
những bài học thuộc lòng và vô cảm. Vì thế, nên mới có hiện tƣợng khi đƣợc hỏi đều biết
biện pháp tránh thai hữu hiệu nhất, nhƣng chỉ có gần 30% trong số đó hiểu thế nào là
quan hệ tình dục an toàn và chỉ 58,7% biết phân biệt hành vi quấy rối tình dục với các trò
đùa nghịch khác giới thông thƣờng… Hơn nữa, trên thực tế hiện mới chỉ có khoảng 50%
học sinh THPT đƣợc tiếp cận kiến thức này và quá nửa số các em khi học kiến thức về
giáo dục giới tính đều trả lời rằng không thích học bộ môn này, vì phƣơng pháp dạy của
thầy cô không phù hợp...
Nghiên cứu của Huỳnh Nguyễn Khánh Trang ghi nhận nguồn cung cấp các thông tin về
giới tính, tình dục ở học sinhtheo thƣ tự là: bạn bè gần 90%, phim ảnh gần 70%, sách báo
60%, internet gần 40%. Trong khi từ cha mẹ chỉ chiếm khoảng 20% và thầy cô khoảng



sinh, sinh viên tình nguyện của hai trƣờng cũng đƣợc hình thành. Các chuyên viên tƣ vấn
và bác sĩ sẽ đào tạo, hỗ trợ về kỹ năng và kiến thức để lực lƣợng đồng đẳng có thể trực
tiếp tƣ vấn, truyền thông cho các bạn cùng độ tuổi những thắc mắc xung quanh sức khỏe
sinh sản. Đƣợc biết, đầu tháng 7/2004, hai phòng tƣ vấn này sẽ chính thức hoạt động. Tất
cả học sinh, sinh viên các trƣờng khác đều có thể tham gia để đƣợc tƣ vấn và cung cấp
miễn phí những thông tin liên quan đến việc bảo vệ sức khỏe bản thân, sức khỏe sinh sản,
an toàn tình dục... Thời gian qua, có khá nhiều hoạt động tƣ vấn về lĩnh vực nhạy cảm và
cần thiết này cho đối tƣợng học sinh, sinh viên. Tuy nhiên, các hoạt động này vẫn chƣa
đƣợc "sát cánh" cùng các em trong đời sống hàng ngày. Với việc thành lập hai phòng tƣ
vấn trên, mục đích của Dự án giáo dục sức khỏe sinh sản mong muốn sẽ hỗ trợ tối đa cho
các em những kiến thức cần thiết để phòng tránh các rủi ro liên quan.
ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP GIẢM PHÁ THAI Ỏ NỮ VTN
Tăng cƣờng đào tạo kiến thức sức khỏe sinh sản cho nữ VTN nhất là những nữ
VTN ngoài học đƣờng.
Thành lập tổ chuyên trách về sức khỏe sinh sản cho VTN ngay tại y tê cơ sở nhằm
giáo dục về SKSS/KHHGĐ, tƣ vấn, giáo dục tránh thai khẩn cấp cho các đối tƣợng đã có
sinh hoạt tình dục.
Kêu gọi sự tham gia của cha mẹ, thầy cô giáo vào chƣơng trình giáo dục giới tính.

-

Tổ chức các buổi tập huấn về giáo dục giới tính cho cha mẹ và thầy cô cấp 3 trên
toàn thành phố.
Tăng cƣờng cung cấp các thông tin về sức khỏe sinh sản vị thành niên trên các
phƣơng tiện truyền thông đại chúng để mọi ngƣời trong xã hội hiểu đúng vai trò của giáo
dục giới tính cho tuổi VTN.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1

19


7

Nguyễn Đức Trí Dũng. (1999). Nghiên cứu kiến thức thái độ hành vi tính dục
của học sinh phổ thông trung học tại Tp.HCM. Đại học Y dƣợc Tp.HCM, Hồ
Chí Minh.

8

Lê Huỳnh Thị Cẩm Hồng. (2008). Kiến thức, thái độ và nhu cầu giáo dục về
giới tính của học sinh trường Ngô Tất Tố, Quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ
Chí Minh, năm 2008, Đại học Y dược TPHCM.

9

Huỳnh Thanh Hƣơng. (2005). Các yếu tố nguy cơ của phá thai to ở tuổi vị
thành niên. Đại Học Y Dƣợc Tp.HCM, Hồ Chí Minh.

10

Diệp Từ Mỹ & Nguyễn Văn Lơ. (2004). Kiến thức, thái độ, thực hành về sức
khỏe sinh sản của học sinh PTTH TPHCM năm 2004. Tap chí Y học TPHCM,
9(1), 69 - 71.

11

Nguyễn Xuân Nghĩa. (1997). Sơ bộ tìm hiểu trẻ em bị lạm dụng tình dục tại
Tp.HCM. Bộ Y tế và Hội đồng dân số.

cảm trƣớc phá thai Fam Pract Res J, 13, 149 - 156.

18

Burkman RT, Atienza MF & King TM. (1984). Nguy cơ mắc bệnh trong trẻ vị
thành niên trải qua phá thai Contraception, 30, 99 - 105.

19

Campbell NB, Franco K & Jurs S. (1988). Nạo thai ở trẻ vị thành
niên. Adolescence, 23, 813 - 823.

20

Chilman S.C. (1990). Social and psychological concerning adoslescent bearing:
1970-1980. Journal of Marriage and family(42), 793 - 805.

21

Daling JR, Malone KE, Voigt LF, White E & Weiss NS. (1994). Nguy cơ ung
thƣ vú ở phụ nữ trẻ: mối liên quan với phá thai. J Natl Cancer Inst, 86, 1584 1592.

20


22

David M. Fergusson, L. John Horwood & Joseph M. Boden. (2008). Phá thai và
những rối lọan về sức khỏe tâm thần: những bằng chứng của nghiên cứu dọc
trong 30 năm. The British Journal of Psychiatry, 193, 444 - 451.

teen pregnancy. National Campaign to Prevent teen pregnancy.

29

Mensch S.B, H.W, C. & Anh DN. (2003). Adolescent In Vietnam: loking
beyond reproductive health. Family plainning Perspectives, 34(4), 249 - 262.

30

Moore S & Rosenthal D. (1994). Sexual risk I (AIDS and sexually
transmissible diseases), Sexualy risk II (Presnancy and Abortion). In Sexuality
in Aldolescence (pp. 124 - 155). London and New York: Ruotledge.

31

Parazzini F, Ferraroni M, Tozzi L, Ricci E, Mezzopane R & La Vecchia C.
(1995). Phá thai và nguy cơ thai ngoài tử cung Human Reproductive, 10, 1841
- 1844.

32

Slava V Gaufberg. (2008). Abortion, complication. emedicine specialties emergency medicine - obstetrics & gynecology.

33

Spence M. Sexually Transmitted Disease Bulletin. John Hopkins University.

34

Sykes P. (1993). các biến chứng của việc chấm dứt thai kỳ: hồi cứu các trƣờng

chấn thƣơng hoặc chết do lý do rung lắc mỗi năm, theo con số từ Trung tâm quốc gia
kiểm soát hội chứng trẻ bị lắc. Tuy nhiên, con số này có thể cao hơn nhiều bởi nhiều
trƣờng hợp không phát hiện đƣợc. Thụy sĩ báo cáo một con số thấp hơn rất nhiều: chỉ có
49 trƣờng hợp đƣợc báo cáo từ năm 2002-2007, trên phạm vi khoảng 80% dân số nƣớc
này.
Động tác bế và rung lắc của ngƣời lớn đối với trẻ ở các quốc gia có thể khác nhau và tùy
theo tập quán sinh hoạt. Sự nguy hiểm nhất đề cập trong bài này là những rung lắc khi bế
xốc trẻ trong tƣ thế đứng và không giữ cố định cổ để cho cổ di chuyển theo hƣớng trƣớc
sau. Tuy nhiên nguy hiểm vẫn xảy ra khi bế trẻ ở mọi tƣ thế mà rung lắc mạnh với cƣờng
độ cao hoặc dừng hay va chạm đột ngột. Các nghiên cứu cho thấy những tổn thƣơng có
thể xảy ra chỉ trong với 5 giây rung lắc. Rung lắc mạnh có thể gây ra những tổn thƣơng
não vĩnh viễn. Trƣờng hợp rất nặng có thể dẫn tới chết.
Trẻ sơ sinh có kích thƣớc đầu lớn và nặng khoảng 1 phần tƣ so với toàn cơ thể. Trong
đầu, có những khoảng trống giữa não và xƣơng sọ cho phép não tiếp tục lớn và phát triển.
Não của trẻ thì mềm với màng não mỏng. Các cơ và dây chằng vùng cổ thì yếu và chƣa
phát triển cũng chƣa thể chịu đựng đƣợc sức nặng của đầu, sự lỏng lẻo này đƣợc ví nhƣ
đầu chiếc roi (vì thế hội chứng này có tên lúc đầu là whiplash shaken baby). Khi bị rung
lắc, xƣơng sọ mềm và dẻo của trẻ không chịu đƣợc những lực này, sẽ chuyển lực tới não,
khi não không có sự di chuyển đồng bộ và gây ra sự va đập trở lại tới xƣơng sọ, làm giập
não, tăng áp lực, phù và chảy máu trong não. Các tĩnh mạch lớn dọc theo phía ngoài não
22


cũng mỏng manh và dễ rách, gây chảy máu, máu tụ dƣới màng cứng, ngoài màng cứng,
dƣới màng nhện, tăng áp lực nội sọ. Những tổn thƣơng này có thể là vĩnh viễn. Tuy nhiên
những tổn thƣơng này không thể thấy đƣợc từ bên ngoài bằng mắt thƣờng. Nhiều trƣờng
hợp tổn thƣơng trong não nhẹ rất khó phát hiện. Ngoài ra, tổn thƣơng khác rất thƣờng gặp
ở mắt, do chảy máu võng mạc, có thể gây nên giảm thị lực hoặc mù. Các chấn thƣơng
khác có thể gặp ở cổ hay cột sống, hay xƣơng sƣờn.


Chẩn đoán: Thƣờng không nhìn thấy các triệu chứng của tổn thƣơng từ bên ngoài. Tuy
nhiên bác sĩ nhãn khoa có thể phát hiện các chảy máu võng mạc mắt khi soi đáy mắt. Khi
nghi ngờ, các bác sĩ nhi khoa có thể tiến hành chụp cắt lớp hoặc chụp cộng hƣởng từ để
tìm thƣơng tổn.
Sơ cứu ban đầu:
- Hãy gọi cấp cứu, đừng cố vận chuyển trẻ tới bệnh viện trên các phƣơng tiện
thông thƣờng.
- Đừng bế xốc trẻ lên hay cố gắng lắc thêm làm cho trẻ tỉnh lại
24



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status