Luật An Sinh Xã Hội
Đại Học Luật Hà Nội
Mục Lục
Mục Lục................................................................................................................1
Đề bài....................................................................................................................2
LỜI MỞ ĐẦU.......................................................................................................3
NỘI DUNG...........................................................................................................3
I.Lý thuyết : Đặc Điểm Của Quan Hệ Pháp Luật An Sinh Xã Hội.......................3
1.Khái niệm quan hệ pháp luật an sinh xã hội.......................................................3
2.Đặc điểm của quan hệ pháp luật an sinh xã hội.................................................5
II, Tình Huống.......................................................................................................8
1.Tai nạn trên có phải là tai nạn lao động không? H có thể gửi đơn đến cơ quan,
tổ chức nào để yêu cầu bảo vệ quyền lợi của mình...............................................8
b, Cơ quan, tổ chức mà anh H có thể gửi đơn yêu cầu bảo vệ quyền lợi............10
2.Nếu là tai nạn lao động thì H sẽ được hưởng quyền lợi BHXH như thế nào?. 12
KẾT LUẬN.........................................................................................................16
Tài Liệu Tham Khảo...........................................................................................17
1
Luật An Sinh Xã Hội
Đại Học Luật Hà Nội
Đề bài
1.
Phân tích đặc điểm của quan hệ pháp luật an
Đại Học Luật Hà Nội
LỜI MỞ ĐẦU
An sinh xã hội ( ASXH ) là sự bảo vệ của xã hội đối với thành viên
của mình trước hết và chủ yếu nhằm đảm bảo thu nhập, sức khỏe và các
điều kiện sống thiết yếu thông qua các biện pháp như bảo hiểm xã hội, bảo
hiểm y tế, trợ giúp xã hội, ưu đãi xã hội. Cuộc sống luôn đầy biến động,
tiềm ẩn những rủi ro, khó khăn không lường trước được, hơn bao giờ hết,
vấn đề an sinh xã hội càng thể hiện rõ vai trò của nó. Để hiểu rõ hơn về an
sinh xã hội, bài viết sẽ đi vào tìm hiểu cụ thể quan hệ pháp luật an sinh xã
hội và giải quyết tình huống có thể phát sinh trong quan hệ này:
NỘI DUNG
I.
Lý thuyết : Đặc Điểm Của Quan Hệ Pháp Luật An Sinh Xã Hội
Mỗi quan hệ pháp luật phát sinh trong những lĩnh vực khác nhau của đời
sống xã hội đều có những đặc điểm khác nhau đòi hỏi những quy phạm pháp
luật khác nhau điều chỉnh. Với tính chất là một quan hệ mang tính chất tương trợ
cộng đồng, quan hệ pháp luật an sinh xã hội mang những đặc trưng riêng phân
biệt với các quan hệ pháp luật khác:
1.Khái niệm quan hệ pháp luật an sinh xã hội.
Trong đời sống xã hội các mối quan hệ giữa con người với con người,
giữa con người với cộng đồng được hình thành và phát triển ngày càng đa dạng
và phức tạp. Khi xã hội càng phát triển thì mức độ thoả mãn nhu cầu ngày càng
tăng, điều này cho thấy việc thoả mãn nhu cầu của cuộc sống phụ thuộc vào khả
năng lao động của con người. Tuy nhiên, trong suốt cuộc đời không phải lúc nào
con người cũng có thể lao động tạo ra thu nhập, trái lại có nhiều lúc gặp phải rủi
ro do thiên tai hay những biến động khó thể lường trước trong đời sống kinh tế,
vê, trợ giúp cho các thành viên xã hội trong những trường hợp cần thiệt nhằm
đảm bảo an toàn trong đời sống xã hội, được các quy phạm pháp luật ASXH
điều chỉnh.
Ở Việt Nam, dưới góc độ pháp lý, phạm vi an sinh xã hội thường được
hiểu rất hẹp, khi được pháp luật điều chỉnh các quan hệ đó trở thành quan hệ
pháp luật an sinh xã hội tương ứng. Pháp luật an sinh xã hội ở Việt Nam gồm có
nhiều bộ phận cấu thành khác nhau với 4 trụ cột chính là: quan hệ pháp luật về
bảo hiểm xã hội, quan hệ pháp luật về bảo hiểm y tế, quan hệ pháp luật về cứu
trợ xã hội, quan hệ pháp luật về ưu đãi xã hội.
4
Luật An Sinh Xã Hội
Đại Học Luật Hà Nội
2.Đặc điểm của quan hệ pháp luật an sinh xã hội.
Những quan hệ pháp luật an sinh xã hội cụ thể có đối tượng chủ thể khác
nhau, mang những tính chất khác nhau nhằm thực hiện những nhiệm vụ đa dạng
của vấn đề ASXH nhưng vẫn có những nét chung nhất định. Có thể thấy quan hệ
pháp luật ASXH mang những đặc điểm chung dễ dàng phân biệt với các quan hệ
bảo đảm xã hội, quan hệ chia sẻ rủi ro khác như sau:
Thứ nhất, trong quan hệ pháp luật an sinh xã hội, thông thường có một
bên tham gia là Nhà nước.
Quan hệ ASXH hình thành trong quá trình tổ chức, thực hiện các hình
thức bảo vệ, giúp đỡ cộng đồng chủ yếu thông qua đại điện chính thức là Nhà
nước với đại diện là các cơ quan do Nhà nước thành lập hoặc các tổ chức được
Nhà nước thừa nhận và trao trách nhiệm. Các chủ thể tham đại diện cho Nhà
nước thường tham gia quan hệ pháp luật ASXH với tư cách là người thực hiện
đó. Tuy nhiên, quan hệ pháp luật ASXH cũng thiết lập “ lưới an toàn” theo
nhiều tầng, nấc để tạo thành một hệ thống các quan hệ hỗ trợ, bổ sung nhau để
bảo đảm “ lưới an toàn” ở mức cần thiết hợp lý cho tất cả các thành viên xã hội
theo từng nhóm. Những nhóm quan hệ trong hệ thống các quan hệ ASXH như
quan hệ bảo hiểm xã hội, cứu trợ xã hội, ư đãi xã hội, quan hệ y tế đều quy định
nhưng điều kiện nhất định điều kiện được thụ hưởng. Điều này không phải là sự
giới hạn phạm vi tham gia quan hệ pháp luật ASXH mà chỉ là sự đảm bảo công
bằng trên cơ sở nhu cầu của đối tượng trong hoàn cảnh thực tế của họ hay sự cân
đối giữa đóng góp và hưởng thụ, hưởng thụ theo cống hiến, phù hợp với trình độ
quản lý rủi ro của Nhà nước. Phù hợp với điều kiện thực tế của cá nhân đã được
pháp luật xác định mà họ có thể tham gia một hoặc một số quan hệ cụ thể trong
hệ thống quan hệ pháp luật ASXH. Người lao động tham gia BHXH được đảm
bảo thu nhập nếu ốm đau, tai nạn..., người có công với nước được hưởng chế độ
ưu đãi xã hội, người dân được chăm sóc y tế, thụ hưởng dịch vụ công... Ngay cả
những người chưa được hưởng chế độ nào cũng không có nghĩa là họ không
được chính sách ASXH bảo vệ.
Thứ ba, chủ thể hưởng an sinh xã hội có quyền tham gia quan hệ này
ngay từ khi sinh ra.
ASXH là quyền của con người trong xã hội đã được ghi nhận trong nhiều
văn bản pháp lý quốc tế cũng như Hiến pháp, Bộ luật quốc gia. Thực hiện an
sinh xã hội là thực hiện chức năng xã hội của Nhà nước, thể hiện trách nhiệm
của Nhà nước với cộng đồng dân cư. Chính vì vậy mà Nhà nước thường cho
phép cá nhân sinh sống trong phạm vi lãnh thổ mình quản lý được tham gia
quan hệ pháp luật ASXH từ rất sớm, không phụ thuộc vào khả năng nhận thức
hay sự đóng góp của họ: trẻ em mới sinh ra hoàn toàn có quyền được hưởng các
chế độ chăm sóc y tế, dịch vụ công...Nói cách khác, khác với một số quan hệ
pháp luật khác, năng lực pháp luật hưởng quyền an sinh xã hội của cá nhân
6
trong đời sống của con người, chỉ khi ổn định, đảm bảo nguồn vật chất để đáp
ứng nhu cầu tối thiểu của cá nhân, con người ta mới có thể tiếp tục tồn tại, phát
triển tốt hơn. Vì vây, một điều dễ hiểu, quyền và nghĩa vụ chủ yếu nhất của các
bên trong quan hệ phát luật ASXH được Nhà nước bảo đảm thực hiện là trợ giúp
vật chất cho người cần trợ giúp. Chế độ trợ cấp vật chất cho người có đủ điều
7
Luật An Sinh Xã Hội
Đại Học Luật Hà Nội
kiện luật định là nội dung xuyên suốt các chế độ ASXH ở nước ta nói riêng, ở
tất các các nước có điều chỉnh quan hệ pháp luật ASXH nói chung.
II, Tình Huống
1.Tai nạn trên có phải là tai nạn lao động không? H có thể gửi đơn
đến cơ quan, tổ chức nào để yêu cầu bảo vệ quyền lợi của mình.
a, Tai nạn của anh H là tai nạn lao động.
Tai nạn lao động cũng như các tai nạn khác xảy ra trong sinh hoạt hàng
ngày đều do sự tác động từ bên ngoài tới cơ thể con người để lại những di chứng
như gây chấn thương, suy giảm sức khỏe hoặc mất khả năng lao động, gây tử
vong. Xét về mặt pháp lý, không phải mọi tai nạn xảy ra với người lao động đều
được coi là tai nạn lao động. Tùy vào chính sách của Nhà nước ở từng thời kì
mà cách hiểu tai nạn lao động cũng khác nhau. Ở thời kì bao cấp, tai nạn lao
động được hiểu rất rộng, ngoài những trường hợp bị tai nạn lao động khi đang
thực hiện nhiệm vụ lao động còn có những người tham gia vào việc cứu tài sản
Nhà nước mà bị cũng thay đổi phù hợp với sự phát triển của xã hội.
Theo Điều 105 Luật lao động: Tai nạn lao động là tai nạn gây tổn thương
cho bất kỳ bộ phận, chức năng nào của cơ thể người lao động hoặc gây tử vong,
đặc điểm về người lao động, hậu quả lao do tai nạn lao động gây ra, địa điểm
xảy ra tai nạn là tai nạn lao động, thời gian xảy ra tai nạn.... Qua một số quy
định nêu trên, để xác định trong tình huống này, ta có thể xác định tai nạn xảy ra
đối với anh H là tai nạn lao động.
Anh H là kĩ sư xây dựng của công ty X thỏa mãn điều kiện người bị
TNLĐ là người lao động làm việc theo chế độ hợp đồng lao động trong các
doanh nghiệp, cơ quan tổ chức hoặc cá nhân
Hậu quả do TNLĐ gây ra là làm cho bộ phận, chức năng của cơ thể con
người bị tổn thương. Trong tình huống, anh H đã bị suy giảm 64% khả năng lao
động
Địa điểm xảy ra TNLĐ là tại một trong ba nơi: tại nơi làm việc theo quy
định và thỏa thuận trong hợp đồng lao động hoặc ngoài nơi làm việc theo yêu
cầu của người sử dụng lao động hoặc trên tuyến đường đi và về từ nơi ở đến nơi
làm việc và ngược lại. Trong tình huống, anh H bị tai nạn ngay tại công trình khi
tiếp tục làm một số công việc chuẩn bị cho đổ bê tông công trình
Thời gian xảy ra TNLĐ gắn liền với địa điểm xảy ra TBLĐ, đó là trong
giờ làm việc. Ngoài ta thời gian xảy ra tai nạn cũng được tính là thời điểm xảy
ra TNLĐ là thời gian ngoài giờ làm việc khi người lao động đang làm công việc
theo yêu cầu của người sử dụng lao động và thời điểm người lao động bị tai nạn
khi đang trên đường đi làm hoặc đang trên đường về trong khoảng thời gian và
9
Luật An Sinh Xã Hội
Đại Học Luật Hà Nội
tuyến đường hợp lý. Yếu tố thời gian cũng là lý do chính mà BHXH quận Y căn
cứ cho rằng tai nạn xảy với anh H là tai nạn rủi ro. Đối với tai nạn rủi ro, pháp
luật không hạn chế về thời gian xảy ra tai nạn có thể là ngày hay đêm, trong giờ
Luật An Sinh Xã Hội
Đại Học Luật Hà Nội
Anh H hoàn toàn có thể khiếu nại về quyết định, hành vi của cơ quan
BHXH quận Y. Việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về BHXH tuân thủ theo quy
định của Luật khiếu nại, tố cáo nói chung, quy định của Luật BHXH nói riêng.
Theo quy định tại Điều 131 Luật BHXH, Điều 56 Nghị định 152/2006
hướng dẫn một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội cũng như theo Quyết định số
3591/QĐ-BHXH, ngày 27 tháng 12 năm 2006 của Bảo hiểm xã hội Việt Nam:
- Giám đốc Bảo hiểm xã hội huyện, Giám đốc Bảo hiểm xã hội tỉnh, Tổng
Giám đốc Bảo hiểm xã hội Việt Nam có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu
đối với quyết định, hành vi về bảo hiểm xã hội của mình, của cán bộ công chức
do mình quản lý trực tiếp.
Trường hợp khiếu nại của cán bộ công chức, người lao động trong hệ
thống Bảo hiểm xã hội Việt Nam sau khi có quyết định giải quyết khiếu nại lần
đầu của Giám đốc Bảo hiểm xã hội tỉnh mà còn khiếu nại thì do Tổng Giám đốc
Bảo hiểm xã hội Việt Nam giải quyết.
- Cơ quan quản lý nhà nước về lao động cấp huyện có thẩm quyền giải
quyết khiếu nại trong trường hợp người có quyết định, hành vi về bảo hiểm xã
hội bị khiếu nại không còn tồn tại.
- Cơ quan quản lý nhà nước về lao động cấp tỉnh có thẩm quyền giải
quyết khiếu nại mà Giám đốc Bảo hiểm xã hội huyện, Giám đốc Bảo hiểm xã
hội tỉnh đã giải quyết nhưng còn khiếu nại hoặc khiếu nại đã quá thời hạn quy
định mà không được giải quyết.
- Trong trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải
quyết khiếu nại lần đầu, quyết định giải quyết khiếu nại của cơ quan quản lý nhà
nước về lao động cấp tỉnh, Quyết định giải quyết khiếu nại của Bảo hiểm xã hội
Việt Nam hoặc quá thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có
không đồng tình với quyết định đó thì anh H có thể tiếp tục khiếu nại đến giám
đốc Sở lao động – Thương binh và xã hội tỉnh hoặc trong thời hạn quy định anh
H có thể trực tiếp khởi kiện tại Tòa án ( Theo quy định tại Điều 31 Luật TTDS,
Tòa án cấp huyện có thẩm quyền giải quyết vụ việc trên ).
Ngoài ra, khi đã tiếp tục khiếu nại đến giám đốc Sở lao động- Thương
binh và xã hội tỉnh mà vẫ không đồng ý với quyết định đó hoặc quá thời hạn mà
khiếu nại đó không được giải quyết thì anh H vẫn có thể khởi kiện tại Tòa án.
2.Nếu là tai nạn lao động thì H sẽ được hưởng quyền lợi BHXH như
thế nào?
Khi xảy ra tai nạn lao động, người lao động phải nghỉ việc điều trị TNLĐ,
người lao động không những bị mất thu nhập từ lao động mà còn phát sinh một
loạt các chi phí khác ảnh hưởng đến trực tiếp tới đời sống của bản thân và gia
đình người lao động. Chính vì vậy mà các chế độ bảo hiểm xã hội được xem
như một giải pháp quan trọng giúp người lao động có thể đáp ứng nhu cầu tối
thiểu của bản thân, lấy lại cân bằng trong cuộc sống. Trong tình huống, anh H bị
12
Luật An Sinh Xã Hội
Đại Học Luật Hà Nội
tai nạn lao động với mức suy giảm 64% khả năng lao động, do đó anh hoàn toàn
có quyền hưởng có chế độ BHXH:
Xảy ra TNLĐ, trách nhiệm trước hết thuộc về người sử dụng lao động,
tùy thuộc vào mức độ suy giảm giảm lao động và lỗi gây ra TNLĐ. Các chế độ
do người lao động chi trả :
- Thứ nhất 100% chi phí y tế và tiền lương từ khi sơ cứu, cấp cứu đến khi
điều trị thương tật ổn định.
- Thứ hai, ngoài việc trả tiền lương cho anh H trong những ngày điều trị
thanh toỏn. Nu trong trng hp anh H cú thng tt, bnh tt tỏi phỏt thỡ anh
cng c giỏm nh li mc suy gim kh nng lao ng xỏc nh tr cp
theo t l thng tt mi.
Th hai, tr cp hng thỏng. Theo quy nh hin hnh, ngi lao ng b
TNL c hng tr cp mt ln nu b suy gim t 5% n 30% kh nng
lao ng, i vi suy gim kh nng lao ng t 31% tr lờn thỡ c hng tr
cp hng thỏng. Vic tớnh tr cp hng thỏng c cn c trờn mc suy gim
kh nng lao ng v theo s nm úng BHXH:
Mức
Mức trợ cấp tính theo
trợ cấp hàng
mức
= suy giảm khả năng lao
tháng
động
=
+
Mức trợ cấp
=tính theo số năm
đóng BHXH
=
=
=
=
+
= {0,3 x Lmin + (m 31) x 0,02 x Lmin} + {0,005 x L + (t 1)
x 0,003 x L}
còn được đảm bảo các điều kiện khác để giải quyết nhu cầu phát sinh. Trong
tính huống này, nếu tai nạn lao động có thể làm tổn thương đến các chức năng
của cơ thể như chức năng chân tay, răng, tai, mắt, cột sống… làm ảnh hưởng lớn
tới sinh hoạt của cũng như cuộc sống hàng ngày của anh H thì theo quy định tại
Điều 43 Luật BHXH, anh H còn được trang cấp phương tiện trợ giúp sinh hoạt.
Dưỡng sức phục hồi sức khỏe sau khi điều trị thương tật: Sau khi điều trị
ổn định thương tật do tai nạn lao động gây ra mà sức khỏe còn yếu thì anh H
được nghỉ dưỡng sức phục hồi sức khỏe. Điều 48 Luật BHXH và Điều 24 Nghị
định 152/ 2006/ NĐ – CP đã quy định rõ
“1. Người lao động sau khi điều trị ổn định thương tật do tai nạn lao động
hoặc bệnh tật do bệnh nghề nghiệp mà sức khoẻ còn yếu thì được nghỉ dưỡng
sức, phục hồi sức khoẻ.
2. Thời gian nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe trong một năm tính cả
ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hàng tuần, ngày đi và về nếu nghỉ tại cơ sở tập
trung. Số ngày nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ do người sử dụng lao động và
Ban Chấp hành Công đoàn cơ sở hoặc Ban Chấp hành Công đoàn lâm thời quyết
định, cụ thể như sau:
a) Tối đa 10 ngày đối với người lao động suy giảm khả năng lao động từ
51% trở lên do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp;
b) Tối đa 7 ngày đối với người lao động suy giảm khả năng lao động từ
31% đến 50% do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp;
c) Bằng 5 ngày đối với người lao động suy giảm khả năng lao động
từ 15% đến 30% do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.
3. Mức hưởng dưỡng sức, phục hồi sức khỏe một ngày:
a) Bằng 25% mức lương tối thiểu chung nếu nghỉ dưỡng sức, phục hồi
sức khỏe tại gia đình;
15
Luật An Sinh Xã Hội
Đại Học Luật Hà Nội
Tài Liệu Tham Khảo
I. Giáo trình và sách tham khảo:
1. Trường đại học Luật Hà Nội, Giáo trình An sinh xã hội. NXB. Tư Pháp, 2008;
2. Nguyễn Hiền Phương, Pháp luật An sinh xã hội- Những vấn đề lý luận và thực
tiễn. Nxb. Hà Nội, 2010;
II. Tạp chí và Khóa luận tốt nghiệp:
1.
Nguyễn Hiền Phương, Cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc xây dựng và
hoàn thiện pháp luật an sinh xã hội ở Việt Nam. Luận án Tiến sĩ luật học,
Trường đại học Luật Hà Nội, 2008.
2.
Chế độ tai nạn lao động – Thực trạng và giải pháp hoàn thiện – Khóa luận
tốt nghiệp 2011, Phạm Thị Phương Loan, Trường đại học Luật Hà Nội
III. Văn bản pháp luật:
1. Luật Bảo hiểm xã hội 2006.
2. Luật Lao động.
3. Các văn bản hướng dẫn chi tiết việc thi hành Luật Bảo hiểm xã hội
2006;
IV. Tài liệu trên các website:
- Bộ LĐTB&XH: http://www.molisa.gov.vn/
- Báo Lao động online: http://laodong.com.vn/
- Báo Dân trí online : http://dantri.com.vn/