PHẦN MỞ ĐẦU
Trong xã hội hiện đại mỗi công dân trong đời sống hàng ngày đều thường
xuyên va chạm với những vấn đề cở bản về nhà nước và pháp luật. Chính vì vậy, các
chủ thể quản lý hàng chính nhà nước cần đến quy phạm pháp luật để định ra các
khuôn mẫu xử sự chung cho nhiều cá nhân, tổ chức (đối tượng quản lý) trong những
tình huống được dự liệu trước và có thể lặp lại nhiều lần trong thực tiễn. QPPLHC là
công cụ được sử dụng để điều chỉnh quan hệ pháp luật hành chính, hay cụ thể nó là
điều kiện tiên quyết đầu tiên trong việc làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ
pháp luật hành chính. Sau đây là bài viết của nhóm chúng em về đề tài:”Phân tích đặc
điểm của quy phạm pháp luật hành chính qua đó phân biệt quy phạm pháp luật hành
chính và quy phạm pháp luật hiến pháp”. Việc nghiên cứu về đề tài này sẽ giúp chúng
ta phần nào hiểu rõ hơn về những nội dung xoay quanh QPPLHC bao gồm khái niệm,
đặc điểm, phân loại... để từ đó có thể thấy rõ được sự khác biệt giữa quy phạm pháp
luật hành chính với các quy phạm pháp luật khác, đặc biệt là quy phạm luật hiến
pháp.
PHẦN NỘI DUNG
I. Khái niệm quy phạm pháp luật và QPPLHC.
Quy phạm là quy tắc xử sự( quy định hành vi được làm, hành vi bị cấm, thực
hiện hành vi đó như thế nào). Đã là quy tắc là mang tính bắt buộc. Các quy phạm xã
hội khác( quy phạm tập quán, tôn giáo, đạo đức…) thường chỉ có hiệu lực bắt buộc
trong một phạm vi hẹp nhất định như: một hoặc một số cộng đồng của làng xã hay
một vùng nhất định, các tín đồ của một tôn giáo, một cộng đồng dân tộc. Còn quy
phạm pháp luật mang tính bắt buộc chung( bắt buộc đối với moị công dân, mọi cơ
quan, tổ chức thuộc quyền tài phán của nhà nước) vì nó do nhà nước ban hành hoặc
thừa nhận. Mỗi QPPL điều chỉnh một quan hệ xã hội. Vậy QPPL là quy tắc xử sự
mang tính bắt buộc chung do nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí của nhà
nước và được nhà nước bảo đảm thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội, thực
hiện các nhiệm vụ đặt ra trước nhà nước.
Luật Hành chính với tư cách là một ngành luật đặc biệt, thực hiện chức năng
quản lý nhà nước, quản lý xã hội, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành các
văn bản quy phạm pháp luật để điều chỉnh hoạt động quản lý hành chính nhà nước, và
bảo thực hiện bằng cưỡng chế nhà nước. Do đó, các chủ thể được nêu trong QPPL
trên phải tuân thủ một cách nghiêm ngặt. Các quy tắc xử sự được ban hành theo thủ
tục, trình tự chặt chẽ theo pháp luật. Khi có một quan hệ pháp luật hành chính cụ thể
tương ứng phát sinh, quy tắc xử sự chung trên sẽ là căn cứ để ra văn bản áp dụng. Ví
dụ: theo quy định của khoản 1 Nghị định của CP 37/2005 NĐ – CP 14/11/2006 quy
định thủ tục áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm
hành chính.:” Nghị định này quy định về trình tự, thủ tục áp dụng các biện pháp cưỡng
chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính, quyết định áp dụng các biện pháp
khắc phục hậu quả do vi phạm hành chính gây ra trong trường hợp không áp dụng xử
phạt (gọi tắt là cưỡng chế hành chính) đối với cá nhân, tổ chức bị xử phạt vi phạm
hành chính đã quá thời hạn tự nguyện chấp hành hoặc quá thời hạn hoãn chấp hành
các quyết định nêu trên mà không tự nguyện chấp hành”.
Thứ hai, Quy phạm pháp luật hành chính được nhà nước đảm bảo thực hiện bằng
các phương pháp quản lí hành chính hành chính sau đây: Phương pháp thuyết phục,
phương pháp cưỡng chế, phương pháp hành chính và phương pháp kinh tế. Trong đời
sống thực tế, có rất nhiều trường hợp bị xử phạt vi phạm hành chính. Xử phạt hành
chính là một biện pháp của Nhà nước nhằm bảo đảm QPPLHC được thực hiện. Ví dụ:
ta có thể tìm thấy biện pháp bảo đảm của Nhà nước ngay trong một QPPLHC. Điểm
l, Khoản 1 Điều 8 Nghị định 34/2010/NĐ-CP về Quy định xử phạt hành chính trong
lĩnh vực giao thông đường bộ quy: Phạt tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng đối
với trường hợp:” Bấm còi hoặc gây ồn ào, tiếng động lớn ảnh hưởng đên sự yên tĩnh
trong đô thị và khu đông dân cư trong thời gian từ 22 giờ ngày hôm trước đến 5 giờ
ngày hôm sau, trừ các xe ưu tiên đang đi làm nhiệm vụ theo quy định”. Việc quyết định
áp dụng các biện pháp xử phạt đó thể hiện sự trừng phạt nghiêm khắc của nhà nước đối
với các tổ chức, cá nhân vi phạm hành chính.Việc xử phạt vi phạm hành chính còn
hướng tới mục đích giáo dục cho mọi người ý thức tuân thủ pháp luật.
Thứ ba, QPPLHC là tiêu chuẩn để xác định giới hạn và đánh giá hành vi của con
người về tính hợp pháp. QPPL là tiêu chuẩn để xác định giới hạn và đánh giá hành vi
con người,thông qua QPPL, ta biết hoạt động nào của chủ thể có ý nghĩa pháp lý,
hoạt động nào không có ý nghĩa pháp lý, hoạt động nào phù hợp với pháp luật, hoạt
Ví dụ: Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính được UBTVQH thông qua ngày
02/07/2002 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/10/2002 và được sửa đổi, bổ sung ngày
02/04/2008 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/08/2008 quy định một cách chung nhất
về vấn đề xử lý vi phạm hành chính. Dựa trên những quy định chung này, CP ban
hành một loạt các văn bản QPPLHC cụ thể như: Nghị định 128/2008/NĐ – CP ngày
16/12/2008 quy định chi tiết thi hành một số điều của PLXLVPHC năm 2002, sửa
đổi, bổ sung năm 2008; NĐ 41/2009/NĐ – CP ngày 5/5/2009 quy định xử phạt
VPHC trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm; NĐ 47/2009/NĐ – CP ngày 13/05/2009
quy định xử phạt VPHC về quyền tác giả, quyền liên quan...
Thứ hai, các QPPLHC có số lượng lớn và hiệu lực pháp lý khác nhau.
Do phạm vi điều chỉnh của các QPPLHC rất rộng và tính chất đa dạng về chủ
thể ban hành nên các QPPLHC có số lượng lớn. Hoạt động quản lí hành chính nhà
nước quản lí mọi mặt của đời sống xã hội nên cần có những quy phạm có khả năng
điều chỉnh mọi mặt của đời sống xã hội nhưng cũng cần có những quy phạm chỉ điều
chỉnh một ngành, một lĩnh vực để có thể đảm bảo sự phát triển bình thường của xã
hội. Chính vì đời sống xã hội rất đa dạng và luôn biến đổi không ngừng, nên để quản
lí tốt xã hội, các cơ quan quản lí hành chính Nhà nước cần ban hành rất nhiều văn bản
quy phạm pháp luật để điều chỉnh kịp thời những quan hệ vốn có và những quan hệ
mới phát sinh.
Trong đó có những quy phạm có hiệu lực pháp lí trên phạm vi cả nước và chung
cho các ngành, lĩnh vực quản lí (ví dụ: Một số điều trong Nghị định của Chính phủ)
nhưng cũng có những qui phạm chỉ có hiệu lực trong phạm vi một ngành, một lĩnh
vực quản lí hay một địa phương nhất định (ví dụ: Một số điều trong quyết định, chỉ
thị, thông tư của các Bộ). QPPLHC có hiệu lực cao nhất là quy phạm nằm trong Hiến
pháp và hiệu lực thấp nhất là quy phạm trong các Quyết định, Chỉ thị của Ủy ban
nhân dân cấp xã. Những quy phạm có hiệu lực trên cả nước là những quy phạm do cơ
quan hành chính Nhà nước ở Trung ương ban hành, ngược lại những QPPLHC do cơ
quan hành chính Nhà nước ở địa phương ban hành sẽ có hiệu lực trong phạm vi địa
phương. Tuy nhiên, cũng có những quy phạm do cơ quan hành chính nhà nước ở
Trung ương ban hành nhưng lại chỉ có hiệu lực trong một địa phương nhất định. Ví
quyền lực nhà nước hay những cơ quan khác do mình quyết định thành lập và những
người giữ chức vụ do mình bầu. Ví dụ: Quốc hội có quyền bãi bỏ các văn bản của
Chủ tịch nước, UBTVQH, Chính phủ, Thủ tướng CP, Tòa án nhân dân tối cao, Viện
kiểm sát nhân dân tối cao trái với Hiến pháp, Luật và Nghị quyết của Quốc hội.
+ Ba là: Các QPPLHC do cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chuyên
môn ban hành phải phù hợp với nội dung và mục đích của QPPLHC do cơ quan có
thẩm quyền cùng cấp chung ban hành. Thủ tướng CP có trách nhiệm và thẩm quyền
kiểm tra, phát hiện và xử lí các văn bản quy phạm pháp luật trái pháp luật của Bộ, cơ
quan ngang bộ, Ví dụ: “Thủ tướng CP xem xét, quyết định bãi bỏ hoặc đình chỉ việc
thi hành một phần hoặc toàn bộ văn bản quy phạm pháp luật của Bộ trưởng, Thủ
trưởng cơ quan ngang bộ trái Hiến pháp, luật và văn bản quy phạm pháp luật của cơ
quan nhà nước cấp trên” (Khoản 2 – Điều 90 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp
luật 2008).
+ Bốn là: Các QPPLHC do người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước ban
hành phải phù hợp với nội dung và mục đích của QPPLHC do tập thể cơ quan đó ban
hành.
+ Năm là: Bảo đảm tính thống nhất, phù hợp giữa các QPPLHC do các chủ thể
có thẩm quyền ngang nhau, cùng địa vị pháp lí ban hành. Để bảo đảm yêu cầu này thì