MỞ BÀI
Quan hệ giữa cha, mẹ và con là mối quan hệ thiêng liêng, gắn bó của các
chủ thể vốn có quan hệ huyết thống hoặc nuôi dưỡng. Hiện nay, khi đời sống
ngày càng được nâng cao, những tư tưởng tiến bộ của luật pháp cũng được phổ
biến rộng rãi đến phần đông dân cư cho nên việc thực hiện quyền và nghĩa vụ
giữa cha, mẹ và con ngày càng được quan tâm và tự giác thực hiện. Tuy nhiên,
một thực trạng đang tồn tại ngay trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ giữa
cha, mẹ và con không thể không nhắc đến, đó chính là vấn nạn bạo lực gia đình.
Có thể thấy nạn nhân của bạo lực gia đình nói chung và bạo lực gia đình
giữa cha, mẹ và con nói riêng phải chịu đựng từ bị nhục mạ, bị khủng hoảng về
tâm lý kéo dài, tổn thương tinh thần, ảnh hưởng đến sức khoẻ, đến bị thương tật,
thậm chí thiệt hại đến tín mạng, tài sản. Nhiều trẻ em trong các gia đình có bạo
lực phải chịu thiệt thòi: nhiều em phải sống xa cha hoặc mẹ, hoặc cả hai, các em
phải bỏ học, lang thang, rơi vào tệ nạn xã hội, vi phạm pháp luật. Bạo lực gia
đình nói chung và bạo lực gia đình giữa cha, mẹ và con nói riêng đang phá hủy
nền tảng của gia đình. Các nhà nghiên cứu đều thống nhất cho đây là một trong
những hiện tượng đáng lo ngại nhất của tình trạng khủng hoảng gia đình hiện
nay.
Với đề tài hay và khó: “Thực trạng bạo lực gia đình giữa cha, mẹ và con”,
bài làm của nhóm thực hiện chúng em còn rất nhiều hạn chế, thiếu sót trong bài
làm. Kính mong thầy, cô giáo nhận xét, đánh giá và góp ý cho bài làm của chúng
em được hoàn thiện hơn.
Chúng em xin chân thành cảm ơn!
1
NỘI DUNG
I.
Khái quát chung về bạo lực gia đình.
1. Khái niệm.
nghiêm trọng;
- Ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa ông
bà và cháu; giữa cha, mẹ và con; giữa vợ chồng; giữa anh, chị, em với nhau;
- Cưỡng ép quan hệ tình dục;
- Cưỡng ép tảo hôn;; cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự
nguyện, tiến bộ;
- Chiếm đoạt, hủy hoại , đập phá hoặc có hành vi khác cố ý làm hư hỏng tài
sản riêng của thành viên khác trong gia đình hoặc tài sản chung của các thành
viên gia đình;
- Cưỡng ép thành viên gia đình lao động quá sức, đóng góp tài chính quả
khả năng của họ; kiểm soát thu nhật của thành viên gia đình nhằm tạo ra tình
trạng phụ thuộc về tài chính;
- Có hành vi trái pháp luật buộc thành viên gia đình ra khỏi chỗ ở.
II.
Thực trạng bạo lực giữa cha, mẹ và con.
Với tâm lý, truyền thống , thói quen của người Việt, bạo lực gia đình giữa
cha, mẹ với con là khá phổ biến và được xã hội chấp nhận. Đó thường là những
hành động “dạy bảo” con cái, xuất phát từ quan niệm “thương cho roi cho vọt,
ghét cho ngọt cho bùi” và giáo dục cần phải nghiêm khắc, rất nhiều ông bố bà
mẹ coi việc đánh đập, chửi mắng con cái khi chúng mắc lỗi là cần thiết để chúng
nhận ra sai lầm và sữa chữa; hay coi việc mạt sát, trích móc là động lực để chúng
phấn đấu. Trên thực tế, cách làm này phần nào phù hợp với tâm lý người Việt và
đạt được những kết quả nhất định. Tuy nhiên, trong thời đại ngày nay, khi những
chuẩn mực tiến bộ về quyền con người đã và đang được phổ biến trên thế giới thì
những tư tưởng , cách làm này cần được loại bỏ. Đặc biệt là những trường hợp
bạo lực với con cái vượt ra ngoài phạm vi giáo dục- một tình trạng ngày càng gia
tăng- thì càng cần phải bị trừng trị nghiêm khắc.
Theo thống kê tổng hợp từ đường dây nóng của Cục bảo vệ và chăm sóc
trẻ em cho thấy sự xâm hại và bạo lực đối với trẻ em trong gia đình hiện nay
tăng gấp 3 lần so với chục năm trước (thống kê năm 2008). Còn theo một nghiên
động nên cần có người chăm sóc; trong khi những đứa con không đủ yêu thương
4
nên không muốn tốn kém tiền của, thời gian, công sức của mình cho cha mẹ,
đúng như câu ca dao xưa: “Mẹ nuôi con bằng trời bằng bể, Con nuôi mẹ con kể
từng ngày”. Điều này chứng tỏ một sự xuống cấp đạo đức nghiêm trọng, hoàn
toàn ngược lại với truyền thống đề cao chữ “hiếu” của dân tộc Việt Nam.
Báo pháp luật Việt Nam số 62, ngày 03/03/2011 có đưa tin về một vụ án
đã gây xôn xao dư luận ở tỉnh Kiên Giang: vì tiền, đứa con bất hiếu đã bóp cổ
mẹ, treo ngược bố lên cành mít để tra hỏi. Cụ thể: đã nhiều năm tại ấp Sơn
Thạch, xã Nam Hoài Sơn, huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang quen với cảnh tên Đỗ
Văn Hiếu (Sinh năm 1992, con ruột bà Lê Thị Nga và ông Đỗ Văn Ái) luôn say
xỉn thường xuyên chửi bới, đánh đập cha mẹ. Nghiêm trọng nhất là chiều ngày
25/12/2010, khi Hiếu đi uống rượu về, thấy mẹ đang ngủ đã dùng dao dí vào cổ
bà Nga đòi phải đưa xe máy và 22 triệu. Trong hoàn cảnh bị chính cậu quý tử đe
dọa, bà Nga chỉ còn biết khóc lóc van xin. Thế nhưng tình mẫu tử không làm
Hiếu xiêu long mà ngược lại, hắn còn kéo lê mẹ ra đường và làm bà chảy máu.
Phải đến khi ông Lê Văn Tuấn (em bà Nga) nghe tin đến xin Hiếu thả bà Nga
ông sẽ đưa tiền, rồi lợi dụng lúc Hiếu sơ suất ông tuấn xông vào giật con dao thì
bà Nga mới được giải thoát. Không dừng lại ở đó, 17h chiều cùng ngày, tên Hiếu
tiếp tục quay về nhà để trấn lột tiền bạc, của cải. Lần này nạn nhân là ông Áicha ruột của y. Thấy ông Ái đang ngủ, Hiếu xông vào bắt trói và treo chân bố
mình lên cây mít, chúi ngược đầu xuống đất rồi tra hỏi chỗ cất tiền, thấy tên
Hiếu quá mất nhân tính, người dân đã bảo với lực lượng công an đến khống chế
và bắt giam đứa con này.
III. Một số khuyến nghị.
1. Làm rõ một số khái niệm quan trọng trong luật phòng chống bạo lực
gia đình.
Để công tác phòng, chống bạo lực gia đình đạt hiệu quả như mong đợi cần
xác định rõ khái niệm “bạo lực gia đình” đang được nói tới ở Việt Nam, quan
6
Bên cạnh việc chỉ ra các hành vi thì việc xác định rõ các đối tượng của bạo
lực gia đình cũng rất quan trọng, từ đó mới có thể xây dựng các biện pháp phòng
chống bạo lực gia đình thích hợp. Luật phòng, chống bạo lực gia đình quy định:
“bạo lực gia đình là hành vi có ý của thành viên gây tổn hại hoặc có khả năng
gây tổn hại về thể chất, kinh thế đối với thành viên khác trong gia đình” (khoản
2 Điều 1) và bổ sung “hành vi bạo lực quy định tại khoản 1 Điều này cũng được
áp dụng đối với thành viên gia đình của vợ, chồng đã ly hôn hoặc nam, nữ
không đăng ký kết hơn mà chung sống với nhau như vợ chồng” (khoản 2 Điều 2).
Tuy nhiên, luật lại không giải thích khái niệm “thành viên gia đình” nên gây khó
hiểu trong quá trình áp dụng pháp luật. Hiện nay, đa số mọi người vẫn dựa vào
khái niệm gia đình của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000: “gia đình là tập
hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc do
quan hệ nuôi dưỡng làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền giữa họ với nhau theo
quy định của luật này” (Điều 8)
2. Hoàn thiện một số quy định của luật phòng, chống bạo lực gia đình.
a. Quy định về biện pháp cấm tiếp xúc.
Việc quy định về việc cấm tiếp xúc trong một thời gian giữa nạn nhân và
người có hành vi bạo lực là cần thiết để đảm bảo sự an toàn cho nạn nhân để hai
bên có thời gian cân nhắc về hành động của mình và cũng là để giáo dục người
có hành vi bạo hành về tội lỗi của họ. Tuy nhiên, việc áp dụng biện pháp này yêu
cầu có sự đồng ý của nạn nhân hoặc người gián hộ (thường là một thành viên
khác trong gia đình), điều này có phần chưa khả thi, bởi vì bản chất của những
mối quan hệ trong gia đình là gắn bó thân thiết và bền chặt, nếu một người có ý
từ bỏ, sống ra ngoài thì mối liên hệ giữa các thành viên thường bị cho rằng sẽ trở
nên lỏng lẻo và khó chấp nhận. Hơn nữa, với những nạn nhân bị bạo lực là phụ
nữ và trẻ em, do họ bị phụ thuộc nhiều vào người chồng, người cha, đặc biệt là
quyền trông nom, chăm sóc gia đình, con cái của nạn nhân. Trường hợp nạn
8
nhân bị lệ thuộc hoàn toàn vào kinh tế thì khi cách ly có thể xem xét việc yêu cầu
cấp dưỡng cho nạn nhân như quy định của một số nước và không trái với quy
định của luật hôn nhân và gia đình Việt Nam.
b. Quy định về hình thức phạt tiền trong xử phạt vi phạm hành chính
trong lĩnh vực phòng chống bạo lực gia đình.
Nghị định 110/2009/NĐ- CP ngày 10/12/2009 quy định xử phạt vi phạm
hành chính trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình đã đưa ra những chế tài
cần thiết đối với người thực hiện hành vi bạo lực gia đình. Tuy nhiên, quy định
về hình thức phạt tiền của nghị định này còn chưa thực sự hợp lý, bởi mức xử
phạt nhìn chung là thấp, trong một số trường hợp là rất bất hợp lý như với hành
vi thường xuyên theo dõi thành viên gia đình vì lý do ghen tuông gây tổn hại đến
danh dự, uy tín, nhân phẩm của thành viên đó hoặc hành vi cưỡng ép người khác
kết hôn, ly hôn, tảo hôn bằng cách hành hạ, ngược đãi, uy hiếp tinh thần hoặc
bằng thủ đoạn khác thì mức phạt chỉ từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng. Mức
phạt như vậy là quá thấp, không tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiển của
hành vi. Ngay cả với những mức phạt cao hơn thì đối với những người có điều
kiện kinh tế thì phạt tiền cũng không có ý nghĩa giáo dục với họ. Ngược lại,
trong nhiều trường hợp biện pháp này có thể trở thành “con dao hai lưỡi”, khiến
tình trạng bạo lực nghiêm trọng hơn: người có hành vi bạo lực vì phải nộp phạt
mà trút giận lên nạn nhân bằng những hành vi bạo lực kinh khủng hơn, tinh vi
hơn.
Ngoài ra, có những trường hợp người phải nộp phạt không có thu nhập thì
việc phạt tiền với họ dường như không có nhiều ý nghĩa. Pháp luật có quy định
về cưỡng chế kê biên thi hành án nhưng điều này sẽ ảnh hưởng đến người vợ nếu
đó là tài sản bị kê biên là tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Tương
tự với trường hợp con chưa thành niên từ 16 đến dưới 18 tuổi bị xử phạt vì có
KẾT LUẬN
Bước sang thế kỷ 21, bạo lực gia đình vẫn lan rộng và trở thành vấn đề xã
hội nghiêm trọng và phổ biến ở nhiều nước trên thế giới và ở Việt Nam. Điều
này đặt ra cho xã hội văn minh nhiệm vụ cấp bách – tìm ra những giải pháp hữu
hiệu khắc phục và đi đến xóa bỏ hoàn toàn hiện tượng này. Bạo lực gia đình diễn
ra với những hình thức muôn màu muôn vẻ. Đó có thể là bạo lực vật chất hay
tinh thần; bạo lực bằng vũ lực hay ngôn từ; bạo lực của người lớn đối với người
nhỏ hơn hay ngược lại… Đằng sau những tệ nạn xã hội đó có thể là những lý do
sâu xa như trình độ văn hóa thấp, tình trạng kém hiểu biết về pháp luật hay tư
tưởng trọng nam kinh nữ còn quá nặng nề... mà bản thân những người trong cuộc
cũng chưa nhận thức được. Bạo lực gia đình đã và đang gây ra nhiều hậu quả
nghiêm trọng, trước hết là vi phạm nghiêm trọng đến quyền con người, đến danh
dự, nhân phẩm và tính mạng của mỗi cá nhân. Bạo lực gia đình làm xói mòn đạo
đức, mất tính dân chủ xã hội và ảnh hưởng đến thế hệ tương lai. Ở nhiều gia
đình, thế hệ con đã lặp lại hành vi bạo lực gia đình mà khi còn nhỏ, chúng được
chứng kiến. Bạo lực gia đình đang là nguy cơ gây tan vỡ và suy giảm sự bền
vững của gia đình Việt Nam.
Thực trạng bạo lực gia đình ở Việt Nam đặt ra yêu cầu cấp thiết phải có
những giải pháp đồng bộ và nhất quán, được thực hiện một cách kiên trì, liên tục
để khắc phục. Những giải pháp đó có thể là: 1) các giải pháp tác động thay đổi
nhận thức của các gia đình và cá nhân; 2) các giải pháp tác động thay đổi lối
sống, hoàn cảnh sống của các gia đình và cá nhân; và 3) các giải pháp về quản lý
môi trường xã hội. Để thực hiện những giải pháp này đòi hỏi các cấp, các ngành,
các tổ chức, cá nhân và từng gia đình phải cùng tham gia một cách tích cực. Chỉ
có như vậy tệ bạo lực gia đình mới có thể bị khống chế và dần bị xóa bỏ.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
11