Mục lục
Trang
A.Mục lục.........................................................................................................1
B.Nội dung.....................................................................................................1-10
I.Một số khái niệm............................................................................................1
II.So sánh các đặc trưng cơ bản ...................................................................2-9
III. Ý nghĩa của nghiên cứu xã hội học nông thôn.....................................9-10
C.Kết bài
Phân tích, so sánh các đặc trưng cơ bản của lối sống đô thị và lối
sống nông thôn? Ý nghĩa của việc nghiên cứu xã hội học nông
thôn với pháp luật
1
A. Lời mở đầu
Dưới khía cạnh xã hội học, đô thị và nông thôn là hai khái niệm về mặt nội dung
có hàng loạt đặc điểm có tính đối lập nhau. Các nhà xã hội học đã đưa ra rất nhiều
cơ sở khác nhau để phân biệt đô thị và nông thôn. Sự phân chia đó có thể dựa trên
cơ sở các lĩnh vực hoạt động sống của xã hội như lĩnh vực công nghiệp, nông
nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp, giao thông,vận tải, dịch vụ,... hoặc dựa
trên các thiết chế chủ yếu của xã hội như thiết chế kinh tế, văn hóa, giáo dục, chính
trị, gia đình,... hoặc theo các nhóm, các giai cấp, tầng lớp xã hội, hay theo bình
diện lãnh thổ. Bài viết dưới đây, em xin đưa ra sự phân tích và so sánh các đặc
trưng cơ bản của lối sống đô thị và lối sống nông thôn và ý nghĩa của nghiên cứu
xã hội học nông thôn đối với pháp luật.
B. Nội dung
I.
lại, liên quan đến việc thờ cúng tổ tiên, chịu sự chi phối của họ hàng.
- Tại các đô thị, các hoạt động sống và sinh hoạt, nhất là hoạt động sinh hoạt
gia đình phụ thuộc nhiều vào hệ thống dịch vụ công cộng và thị trường. Tại
các thành phố, với đặc điểm cơ bản là mật dộ dân số cao và chủ yếu hoạt
động sản xuất phi nông nghiệp, nên thị trường các nhu yếu phẩm như lương
thực , thực phẩm, rau xanh, hàng tiêu dùng...... phục vụ đời sống sinh hoạt
của nhân dân phát triển rất đa dạng, thuận tiện cho nhu cầu của thị dân. Do
không trực tiếp sản xuất ra các mặt hàng nhu yếu phẩm kể trên nên người
dân đô thị phải dựa vào hệ thống dịch vụ và thị trường. Chỉ cần quan sát sự
phát triển nhanh chóng của các chợ và các siêu thị tại các thành phố của
nước ta là đủ thấy điều đó: hầu như ở bất cứ khu dân cư nào cũng có chợ và
chợ thường họp cả ngày. Trong khi đó, ở nông thôn theo truyền thống lại
chủ yếu phổ biến lối sống tự cấp tự túc vì các gia đình nông thôn thường tự
sản xuất ra các nhu yếu phẩm phục vụ sinh hoạt hàng ngày.
3
- Hoạt dộng giao tiếp xã hội, với tư cách một mặt cơ bản của lối sống đo thị
cũng có nhiều điểm khác biệt với giao tiếp xã hội ở nông thôn. Tại các thành
phố, phạm vi giao tiếp xã hội về cơ bản tương dối rộng, cường dộ giao tiếp
cao và mang tính ẩn danh trong giao tiếp. Ở dô thị, các hoạt dộng giao tiếp
chủ yếu nhằm vào những nội dung, mục đích cụ thể; được xây dựng hoặc
thiết lập giữa những người có cùng sở thích (clb tennis, hội sinh vật cảnh...),
có cùng nơi làm việc ( những người cùng cơ quan). Chính vì vậy mà ở các
thành phố có sự suy giảm các giao tiếp truyền thống, tăng cường giao tiếp
theo nhóm sở thích hoặc nhóm vai trò.
- Ở đô thị, nhu cầu văn hóa – giáo tương dối cao, việc sử dụng thời gian nhàn
rỗi diễn ra đa dạng dưới nhiều hình thức (dạo chơi công viên, sinh hoạt clb,
đọc sach báo, thưởng thức nghệ thuật...). Điều này được quy định chủ yếu
rõ tính tích cực và sự nhạy bén thông tin chính trị - xã hôi của người dân,
nhất là dân cư đo thị đã được nâng lên đáng kể.
Các đặc trưng mang tính chất tiến bộ của lối sống đô thị nêu trên góp phần
quy định vai trò lịch sử của các đô thị trong sự phát triển, tiến bộ của xã hội
nói chung và đối với xã hội nông thôn nói riêng.
2. Một số đặc trưng cơ bản của lối sống nông thôn
- Lao động trong lĩnh vực nông nghiệp (trồng trọt và chăn nuôi ) là nghề cơ
bản và chiếm lực lượng lao động chủ yếu ở nông thôn. Ở nước ta, nghề nông
trồng lúa nước trong điều iện khí hậu nóng ẩm, nhiệt đới, gió mùa, nhiều
thiên tai ( hạn hán, bão lũ) nên con người nông thôn trong giao tiếp, ứng xử
nghề nghiệp đã thể hiện rõ nét ảnh hưởng của các yếu tố đó. Hầu hết người
dân nông thôn đều cần cù, chăm chỉ, chịu khó trong lao động, thể hiện sự
thích nghi cao với các điều kiện lao động và sinh hoạt. Nghề nông vốn vất
vả, mang tính thủ công, phương tiện lao động thô sơ và phụ thuộc nhiều vào
5
thời tiết. Nền sản xuất hàng hóa ở nông thôn còn ít mở mang và phát triển
nghề lao động sản xuất vẫn chủ yếu dồn vào nghề nông.
Sản xuất nông nghiệp thường diễn ra theo mùa vụ và dàn trải trên không
gian nên gia đình là đơn vị cơ bản trong tổ chức và đảm bảo cho sản xuất
nông nghiệp. Quan hệ gia đình họ hàng có vai trò quan trọng trong tổ chức
sản xuất nông nghiệp và các ngành nghề khách ở nông thôn. Điều đó quy
định lối sống và cách ứng xử của con người nông thôn. Ngoài ra nghề nông
trồng lúa nước đòi hỏi phải chống trọi với thiên tai khắc nghiệt, chống hạn,
chống úng làm thủy lợi, đắp đê.......nên đòi hỏi sự hợp tác rộng lớn hơn
ngoài phạm vi dòng họ làng xã.. Đồng thời lối ứng xử còn đặt cá nhân trong
tập thể, đặt lợi ích tập thể lên trên lợi ích cá nhân, đã là thói quen là khuôn
mẫu hành động của dân cư nông thôn.
nghiệp mang tính thời vụ tương đối nghiêm ngặt, việc gieo trồng, chăm bón,
thu hoạch diễn ra theo mùa theo vụ nên thời gian ở nông thôn không tính
theo ngày, giờ, tuần tháng, mà tính theo mùa vụ. Việc sử dụng thời gian
nhàn rỗi của người dân nông thôn, do đó, gắn với nhịp điệu sản xuất nông
nghiệp. Thực tế ở nông thôn không có thời gian nhàn rỗi mang tính định kì
và ổn định, diễn ra đều đều như ở các khu công nghiệp và đô thị.
Do nhịp điệu thời gian công việc nhà nông theo mùa vụ, do môi trường sống
là nông thôn, do truyền thống văn hóa giáo dục nên việc dân cư nông thôn
dành thời gian nhàn rỗi cho những mục đích riêng như vui chơi, giải trí, xem
báo để nâng cao trình độ học vấn....còn rất hạn chế. Ngay trong thời gian
nhàn người nông dân cũng ít quan tâm đến việc học hành của con em mình.
Rõ ràng là ở nông thôn thời gian nhàn rỗi được người dân dành cho các hoạt
động chung có tính cộng đồng chung có tính cộng đồng ( hội làng, hội chùa)
còn chiếm phần ưu tiên hơn so với cho cá nhân và gia đình
- Lối sống nông thôn là lối sống mang tính cộng đồng xã hội rất cao. Điều đó
thể hiện ở mối quan hệ gắn bó, sự quan tâm giúp đỡ lẫn nhau giữa các thành
viên trong gia đình, trong dòng họ, trong lối xóm nông thôn. Con người
7
nông thôn thường sống đoàn kết, gắn kết với quê hương, rất coi trọng tình
nghĩa làng xóm. Họ luôn sẵn sàng giúp đỡ, che chở, đùm bọc, chia sẻ với
nhau niềm vui, nỗi buồn theo tinh thần “ lá lành đùm lá rách” biết đặt lợi ích
chung của cộng đồng lên lợi ích của cá nhân. Có thể nói đay là biểu hiện rất
riêng, rất đặc thù của lối sống nông thôn.
- Phong cách giao tiếp ứng xử mang tính chân thật, cởi mở, chan hòa là đặc
trưng cơ bản của lối ông nông thôn. Mặc dù có những ý kiến cho rằng phạm
vi và môi trường giao tiếp ở nông thôn thường bị khép kín, hạn chế trong
khôn gian và thời gian nhưng người ta đều thừa nhận rằng sự giao tiếp xã
hội đó xuất phát từ tình cảm chân thành, mộc mạc tuân theo những chuẩn
vì được cắp sách đến trường đi học. Hơn nữa, ở một số vùng nông thôn nếp
sống nông thôn vẫn bộc lộ nhiều yếu kém như việc tổ chức hội hè, đình dám,
ma chay, giôc chạp nhiều lúc, nhiều nơi còn cồng kềnh, tốn kém và lãng phí,
những hủ tục lạc hậu, lỗi thời còn tồn tại, trình dộ dân trí còn thấp , thói hư
tật xấu và tệ nạn xã hội phát sinh; tính tích cực chính trị xã hội của mỗi
người dân còn hạn chế.
III. Ý nghĩa thực tiễn của việc nghiên cứu xã hội học nông thôn đối với
lĩnh vực pháp luật
- Nghiên cứu xã hội học nông thôn có nhiệm vụ bảo đảm cơ sở, nền tảng lí
luận thực tiễn khoa học cho việc hoạch định chiến lược xây dựng nông thôn
mới. Phát triển nông thôn, xây dựng xã hội nông thôn mới văn minh và giàu
có là vấn đề luôn được Đảng và Nhà nước ta xác định là nhiệm vụ trọng
tâm. Đảng và Nhà nước ta đã yêu cầu nhiều nhà nghiên cứu khoa học xã hội
và nhân văn tham gia vào việc phân tích và xác định các mục tiêu chiến lược
xây dựng nông thôn. Riêng các nhà xã hội học cần định hướng lí giải cơ sở lí
luận và thực tiễn để giải quyết vấn đề lao động dư thừa. Thông qua sự phát
triển đa dạng kinh tế nông thôn và công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa
9
nông nghiệp và nông thôn để tăng thu nhập, cải thiện một bước cơ bản đời
sống vật chất, tinh thần của người dân khắc phục cơ bản nạn suy dinh
dưỡng, tăng thêm số hộ giàu có và đủ ăn, thu hẹp diện nghèo và vùng nghèo.
Đồng thời các nhà xã hội học cũng cần dự báo những vấn đề phát sinh khi
thực hiện các biện pháp kinh tế- xã hội để đạt được các mục tiêu đã đề ra.
- Nghiên cứu xã hội học nông thôn tạo cơ sở khoa học để Nhà nước dựa vào
đó ban hành các chính sách xã hội phù hợp, đúng đắn và kịp thời đối với
nông thôn nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của các tầng lớp dân cư nông thôn.
Nhà nước ta đã xây dựng và triển khai chính sách khoán nông nghiệp, giao
quyền sử dụng ruộng đất ổn định, lâu dài cho các hộ nông dân, giao việc