Bài tập lớn học kỳ
Môn: luật thương mại
Đề bài: Tìm hiểu pháp luật về mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch
hàng hóa
BÀI LÀM
Mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa là một hoạt động thương mại
có ý nghĩa quan trọng trong việc thúc đẩy sản xuất, lưu thông hàng hóa, bảo hiểm
và chia sẻ rủi ro đối với các nhà sản xuất, kinh doanh. Trong nền kinh tế thị
trường việc hình thành và phát triển hoạt động này ở nước ta trong thời điểm hiện
nay là yêu cầu cần thiết nhằm tạo ra một thị trường mới cho trao đổi hàng hóa
phát triển trong điều kiện hoàn thiện các hoạt động thương mại phát triển nền
kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, tự do kinh doanh và hội nhập nền kinh tế quốc
tế. Dưới góc độ pháp lý, mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa trong luật
thương mại Việt Nam là một chế định hoàn toàn mới. Các quy định của luật tại
chế định này đã bắt đầu ghi nhận hoạt động mua bán hàng hóa qua sở giao dịch
hàng hóa là một trong các hoạt động thương mại và được nhà nước bảo đảm thực
hiện. Tuy nhiên, các giai đoạn này chỉ dừng ở mức độ là các quy định khung, xác
định các nguyên tắc cho việc hoàn thành mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng
hóa. Ở nước ta, việc nghiên cứu bản chất kinh tế, cơ chế tổ chức và hoạt động cũng
như các quy định của pháp luật có liên quan tham khảo học tập kinh nghiệm của
nước ngoài đề hoàn thiện hệ thống pháp luật về mua bán hàng hóa qua sở giao
dịch phù hợp với thực tiễn nước ta là một yêu cầu tất yếu đặt ra cho cơ quan nhà
nước trong thực hiện chức năng quản lý vĩ mô nền kinh tế nói chung và các hoạt
động thương mại nói riêng
B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I.Một số quy định về mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa
1.Khái niệm mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa
mua bán hàng hóa thông thường không có.Trong thị trường mua bán hàng hóa
tương lai có tổ chức có ba chủ thể chính tham gia là các nhà giao dịch, nhà môi giới
và khách hàng.
Nhà giao dịch là những thành viên tham gia vào hoạt động mua bán hàng
hóa kỳ hạn quyền chọn cho chính bản thân họ, giao dịch từ chính tài khoản của họ.
Họ tham gia với mục đích đầu cơ hoặc tự bảo hiểm sự rủi ro cho mình và thường
là các nhà kinh doanh hay nhà sản xuất lớn, am hiểu về mua bán kỳ hạn quyền
chọn.
Nhà môi giới là một loại thương nhân ở sở giao dịch hàng hóa, có thể là một
nhà buôn độc lập hoặc đại diện cho một công ty môi giới lớn. Họ thực hiện các giao
dịch cho những người không phải là thành viên của sở giao dịch để kiếm tiền bằng
cách thu một khoản tiền gọi là phí hoa hồng của người mua hoặc bán các hợp đồng
kỳ hạn hoặc quyền chọn khi họ tham gia vào mua bán hàng hóa qua sở giao dịch
hàng hóa
Khách hàng là người bán hoặc người mua tham gia vào giao dịch hàng hóa
tương lai thông qua nhà môi giới. Khách hàng ủy thác cho nhà môi giới thực hiện
việc mua bán tại sở giao dịch trên cơ sở thiết lập một hợp đồng môi giới thực hiện
việc mua bán hàng hóa tại sở giao dịch trên cơ sở thiết lập một hợp đồng môi giới.
Sau đó, người môi giới sẽ bảo đảm với sở giao dịch về việc thực hiện hợp đồng
được ký cho khách hàng bằng việc chính nhà môi giới là người ký hợp đồng.
Bên cạnh đó còn có một số chủ thể khác là các nhà tư vấn thực hiện việc
phân tích thị trường lập báo cáo, cho ý kiến tư vấn hoặc đưa ra các đề xuất về việc
mua bán hợp đồng kỳ hạn cho một số người nào đó và thu phí dịch vụ, các đại lý
Trần Thị Chiền-HC33C037
2
Bài tập lớn học kỳ
Môn: luật thương mại
trong tương lai nhưng theo giá thỏa thuận hiện tại. Về nguyên tắc khi đã giao kết
hợp đồng kỳ hạn các bên có nghĩa vụ thực hiện việc giao, nhận hàng và thanh toán
khi đến hết hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng. Tuy nhiên, trong hợp đồng này các
bên có thể thỏa thuận việc bên mua có thể thỏa thuận cho bên bán một khoản tiền
bằng mức chênh lệnh giữa giá thỏa thuận trong hợp đồng và giá thị trường do sở
giao dịch hàng hóa công bố tại thời điểm hợp đồng được thực hiện và không phải
nhận hàng bên bán có thể thanh toán cho bên mua một khoản tiền bằng mức
Trần Thị Chiền-HC33C037
3
Bài tập lớn học kỳ
Môn: luật thương mại
chênh lệnh giữa giá thỏa thuận trong hợp đồng và giá thị trường do sở giao dịch
hàng hóa công bố tại thời điểm hợp đồng được thực hiện và không phải giao hàng.
Mua bán hàng hóa theo hợp đồng này giúp thương nhân hoặc nông dân hạn
chế được rủi ro do biến động giá, bảo vệ được lợi nhuận hợp đồng này thích hợp
với việc bán các hàng hóa mà giá cả thường biến động vì tại thời điểm giao hàng
dù giá có lên hay xuống thì hàng hóa vẫn được giao theo giá được “ chốt” lệnh từ
trước.
Ví dụ: Tháng 6 /2006 thương nhân A ký hợp đồng bán 1000 tấn cà phê với giá
600 USD/ tấn giao hàng vào tháng 12/2006. Sau đó, dự đoán giá cà phê có thể tăng
cao thương nhân A sẽ vào sở giao dịch hàng hóa ký hợp đồng kỳ hạn mua 1000 tấn
cà phê cũng với giá 600 USD/tấn giao hàng tháng 12/2006. Đến thời điểm giao hàng
giá cả tăng lên 750USD/tấn. Đối với hợp đồng mua bán hàng hóa thực thương nhân
X lỗ 150USD/ tấn. Nếu giá cả giảm xuống 550USD/ tấn thì thương nhân X đã lãi 50
USD/ tấn. Như vậy, thương nhân đã tránh được khoản lỗ của hợp đồng mua bán
hàng hóa thực bằng khoản lời có được từ hợp đồng kỳ hạn trong sở giao dịch hàng
hóa.
nghiệp vụ thông thường các điều khoản trong hợp đồng mua bán hàng hóa qua sở
giao dịch hàng hóa được quy định với những ràng buộc chặt chẽ, có tính chất tiêu
chuẩn hóa các điều khoản chủ yếu trong hợp đồng mua bán hàng hóa qua sở giao
dịch hàng hóa giúp cho việc giao kết hợp đồng được thuận lợi và đảm bảo an toàn
về mặt pháp lý, hạn chế rủi ro cho các chủ thể tham gia. Mua bán hàng hóa qua sở
giao dịch hàng hóa các điều khoản quan trọng được tiêu chuẩn hóa trong hợp
đồng mua bán hàng hóa qua sở giao dịch bao gồm: tên hàng, chất lượng, giá trị
hợp đồng, thời gian giao hàng và địa điểm giao hàng.
5. Vai trò của hoạt động mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa
Qua thực tiễn tồn tại và phát triển đã chứng minh được tầm quan trọng của
thị trường hàng hóa tương lai đối với nền kinh tế thế giới nói chung và đối với từng
quốc gia nói riêng. Hiện nay việc giao dịch hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa
ngày càng gia tăng mạnh mẽ là một chỉ số cho thấy giá trị của giao dịch tương lai.
+)Đối với các nhà sản xuất kinh doanh
Đối với người mua đó là bảo hiểm việc giá giao ngay có thể lên cao và đối với
người bán đó là bảo hiểm giá có thể xuống quá thấp. Mục tiêu của việc tự bảo hiểm
giá lên mà người mua sử dụng là để “ cố định” giá.
Ví dụ: H là nhà chế biến cà phê cần 50 000 tấn cà phê trong tháng 10 năm
2010, nhà chế biến có thể mua hàng vào ngày hôm nay và bảo quản hàng háo cho
đến tháng 10 năm 2010 hoặc nhà chế biến có thể đợi đến tháng 10 và mua hàng trên
thị trường giao ngay. Nếu thực hiện theo cách thứ nhất, nhà chế biến sẽ phải bỏ ra
một chi phí rất lớn để bảo quản hàng hóa, còn nếu thực hiện theo cách thư hai thì
nhà chế biến có thể sẽ gặp phải rủi ro về giá cả vì lúc đó giá cả có thể lên. Trong
trường hợp này nhà chế biến có thể tham gia vào thị trường kỳ hạn mua theo giá cả
của ngày hôm sau bằng việc ký hợp đồng ngay từ hôm nay bằng cách này nhà chế
biến sẽ không phải bỏ chi phí bảo quản hàng hóa và có thể tránh được rủi ro về giá
do việc giá cả của hàng hóa tăng quá cao.
Đối với người bán mục tiêu tham gia thị trường hàng hóa tương lai là để tự
bảo hiểm giá bán. Nếu thấy giá giao ngay là chấp nhận được thì người bán sẽ tự
bảo hiểm giá xuống bằng cách ký hợp đồng kỳ hạn trước kỳ thu hoạch thực sự.
Thông qua sở giao dịch hàng hóa cơ quan quản lý nhà nước nắm được các
diễn biến của thị trường, từ đó có thể dự đoán được chiều hướng phát triển tương
lai của nền kinh tế, định ra các giải pháp phòng ngừa thích hợp, hạn chế các diễn
biến bất lợi cho nền kinh tế, tránh được cú “ sốc” do thị trường gây ra. Mặt khác,
qua thị trường hàng hóa giao sau nhà nước thể hiện vai trò quản lý của mình đối
với thị trường cũng như đối với nền kinh tế.
Tóm lại, thông qua việc tìm hiểu một cách khái quát về khái niệm, đặc điểm
và vai trò của thị trường hàng hóa giao sau chúng ta đã có thể hiểu được phần nào
về chúng từ đó sẽ giúp các nhà làm luật có những quy định phù hợp trong việc ban
hành các văn bản pháp luật góp phần đưa hoạt động mau bán hàng hóa qua sở
giao dịch hàng hóa vào trong thực tế đời sống kinh tế của nước ta.
II. Thực trạng Việt Nam về mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa
1.Pháp luật về mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa.
Đối tượng của mua bán hàng hóa qua sở giao dịch là hàng hóa. So với hoạt
động mua bán hàng hóa thông thường thì có một số đối tượng giao dịch mà hoạt
động mua bán hàng hóa thông thường không có như mua bán về lãi suất, chứng
khoán, chỉ số…Hiện nay, có thể thống kê được gần 100 loại hàng hóa được mua
bán trên các sở giao dịch hàng hóa hiện nay, đó là những hàng hóa được giao kết
với số lượng lớn và có sự biến động về giá ví dụ như các loại nông sản: gạo, cà phê,
ngũ cốc…, vàng , kim loại màu, len thô…Hàng hóa được giao dịch tại sở giao dịch
6
Trần Thị Chiền-HC33C037
Bài tập lớn học kỳ
Môn: luật thương mại
hàng hóa có thể chưa hiện hữu vào thời điểm giao kết hợp đồng. Ở một số nước
sàn giao dịch của sở giao dịch mua bán rất nhiều hàng hóa nhưng có một số nước
chỉ thực hiện việc mua bán hàng hóa là nông sản.
Luật thương mại và nghị định số 158/2006/NĐ-CP không quy định cụ thể về
dịch hàng hóa và được hưởng thù lao theo hợp đồng môi giới. Hoạt động của
thương nhân môi giới mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa được quy định
cụ thể tại Điều 69 luật thương mại và Điều 19, Điều 20 nghị định số 158/2006/NĐCP của chính phủ. Điều kiện để trở thành thương nhân môi giới khá tương đồng
7
Trần Thị Chiền-HC33C037
Bài tập lớn học kỳ
Môn: luật thương mại
với điều kiện trở thành thương nhân kinh doanh. Điểm khác biệt duy nhất là vốn
pháp định của thương nhân môi giới nhỏ hơn so với thương nhân kinh doanh.
Thương nhân môi giới mua bán hàng hóa qua sở giao dịch chỉ được phép thực
hiện các hoạt động môi giới mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa và không
được phép là một bên của hợp đồng mua bán hàng hóa qua sở giao dịch. Quy định
này nhằm ngăn chặn việc thương nhân môi giới là người trung gian có điều kiện
thuận lợi để trục lợi, xâm phạm đến lợi ích của các bên trong hợp đồng và làm
biến dạng quan hệ mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa. Tuy nhiên theo
em thì một thương nhân được phép hoạt động môi giới mua bán hàng hóa qua sở
giao dịch tức là họ đã có đủ năng lực tài chính và am hiểu kinh doanh, do vậy nên
cho phép hiểu đồng thời họ cũng được tự giao dịch cho bản thân mình với tư cách
là nhà giao dịch. Chỉ nên quy định cấm các thương nhân môi giới thực hiện giao
dịch một bên, chứ không nên cấm cả việc họ có thể trở thành khách hàng hay nhà
giao dịch thiết lập hợp đồng cho bản thân mình.
Thương nhân mua bán hàng hóa qua sở giao dịch có nghĩa vụ đóng tiền ký
quỹ tại sở giao dịch hàng hóa để đảm bảo thực hiện các nghĩa vụ phát sinh trong
quá trình hoạt động môi giới mua bán hàng hóa. Mức ký quỹ do sở giao dịch hàng
hóa quy định. Điều 70 luật thương mại 2005 quy định các hành vi bị cấm đối với
thương nhân môi giới hàng hóa qua sở giao dịch. Các hành vi bị cấm đối với
thương nhân môi giới chủ yếu tập trung vào các hành vi lôi kéo, lừa dối khách
hàng hoặc bất hợp tác với khách hàng. Đây là các hành vi xâm hại trực tiếp tới
-Hợp đồng kỳ hạn
Theo quy định tại khoản 2 Điều 64 luật thương mại năm 2005 quy định thì “
hợp đồng kỳ hạn là thỏa thuận, theo đó bên bán cam kết giao và bên mua cam kết
nhận hàng tại một thời điểm trtong tương lai theo hợp đồng.”
Điểm khác nhau giữa hợp đồng kỳ hạn và hợp đồng mua bán hàng hóa
thông thường là các bên giao kết hợp đồng và thỏa thuận giá cả vào thời điểm hiện
tại nhưng việc giao hàng và thanh toán lại diễn ra vào một thời điểm trong tương
lai. Hợp đồng kỳ hạn chứa đựng yếu tố rủi ro cao hơn so với hợp đồng mua bán
thông thường nhưng bên bán và bên mua nhiều khi lại tìm kiếm lợi nhuận trên cơ
sở biến động của thị trường đó. Trong hợp đồng mua bán hàng hóa thông thường
khi ký kết hợp đống các bên thường gặp gỡ trực tiếp nhau để thảo luận các điều
khoản của hợp đồng, không phải qua trung gian và các bên thường hiểu rõ về
nhau. Trong hợp đồng kỳ hạn, các bên có thể không biết nhau và cũng không nhất
thiết phải gặp nhau vì việc mua bán thông qua một cơ quan trung gian đó là sở
giao dịch. Đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa thông thường các bên có thể
mua bán tất cả các loại hàng hóa mà pháp luật không cấm đối tương rất rộng còn
trong hợp đồng kỳ hạn đối tượng của hợp đồng chỉ là những hàng hóa được sở
giao dịch quy định nên đối tượng hẹp hơn rất nhiều.
Quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng kỳ hạn
Luật thương mại 2005 quy định rất cụ thể về quyền và nghĩa vụ của các bên
trong hợp đồng mua bán hàng hóa qua sở giao dịch. Đối với hợp đồng kỳ hạn Điều
65 Luật thương mại 2005 quy định quyền và nghĩa vụ của ác bên trong hợp đồng
gồm nghĩa vụ giao hàng và nghĩa vụ thanh toán của các bên. Khoản 1 Điều 65 quy
định “ trường hợp ngừoi bán thực hiện việc giao hàng theo hợp đồng thì bên mua co
nghĩa vụ nhận hàng và thanh toán”. Như vậy, bên bán có nghĩa vụ giao hàng và
bên mua có nghĩa vụ nhận hàng và thanh toán.
Khoản 2 Điều 65 quy định “ trường hợp các bên có thỏa thuận về việc bên
mua có thể thanh toán bằng tiền và không nhận hàng thì bên mua phải thanh toán
cho bên bán một khoản tiền bằng mức chênh lệch giữa giá thỏa thuận trong hợp
đồng và giá thị trường do sở giao dịch hàng hóa công bố tại thời điểm hợp đồng được
trong hợp đồng quyền chọn, đối tượng là quyền- quyền chọn mua hay chọn bán
một hàng hóa. Khoản 1 Điều 66 quy định “ bên mua quyền chọn hoặc quyền chọn
bán phải trả tiền mua quyền chọn để trở thành bên giữ quyền chọn mua hoặc giữ
quyền chọn bán. Số tiền phải trả do các bên thỏa thuận.” Như vậy nghĩa vụ của bên
mua quyền chọn mua hoặc quyền chọn bán là phải thanh toán khoản tiền mua
quyền chọn mua hoặc quyền chọn bán là phải thanh toán khoản tiền mua quyền
chọn cho bên kia theo đúng số tiền mà các bên đã thỏa thuận. Khoản 2 Điều 66 quy
định “ Bên giữ quyền chọn mua có quyền mua nhưng không có nghĩa vụ phải mua
hàng hóa đã giao kết trong hợp đồng.” Bên giữ quyền mua có quyền mua hàng,
nhưng không có nghĩa vụ phải mua hàng hóa đã giao kết trong hợp đồng do đó
ngay cả khi bên giữ quyền mua không mua hàng hóa như đã giao kết trong hợp
đồng thì đó cũng không phải là vi phạm hợp đồng.
Khoản 3 điều 66 cũng quy định về quyền và nghĩa vụ của bên giữ quyền
chọn bán và bên mua tương tự như quyền và nghĩa vụ của bên giữ quyền chọn
mua và bên bán quy định tại khoản 2 điều 66. Khoản 4 điều 66 còn bảo vệ quyền
10
Trần Thị Chiền-HC33C037
Bài tập lớn học kỳ
Môn: luật thương mại
của bên giữ quyền chọn mua hoặc giữ quyền chọn bán khi quyết định không thực
hiện hợp đồng trong thời hạn hợp đồng còn hiêu lực bằng việc quy định hợp đồng
đương nhiên hết hiệu lực.
4.Một số quy định khác về mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa
4.1Các biện pháp bảo đảm cho hoạt động mua bán hàng hóa qua sở giao dịch
hàng hóa
Hoạt động mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa có diễn ra thuận lợi,
hiệu quả hay không phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, trong đó hoạt động của các
bên tham gia và sự quản lý của nhà nước. Đó là lý do pháp luật quy định các biện
Trần Thị Chiền-HC33C037
Bài tập lớn học kỳ
Môn: luật thương mại
đồng quyền chọn. Việc giao dịch thông qua hợp đồng kỳ hạn góp phần tạo sự bình
đẳng cho các doanh nghiệp xuất khẩu nông sản Việt Nam tham gia cạnh tranh một
cách tốt hơn với các doanh nghiệp nước ngoài trong một thị trường luôn biến động
về tỷ giá lãi xuất và giá cả hàng hóa.
Thực tế ở Việt Nam đã thành lập đã thành lập sở giao dịch hàng hóa VNX là
Sở giao dịch hàng hóa được Bộ Công Thương cấp phép hoạt động với vốn điều lệ
150 tỷ đồng. Cà phê, cao su và thép là những mặt hàng giao dịch đầu tiên.Sở giao
dịch hàng hóa Việt Nam (VNX), trước đây là Sở giao dịch hàng hóa Triệu Phong
chính thức hoạt động vào ngày 11/1. Đây là nơi tập trung đầu mối buôn bán, trước
mắt là cà phê, cao su, thép - vốn chiếm tỷ trọng lớn trong kim ngạch xuất nhập
khẩu, có chuẩn hóa chất lượng, biến động mạnh theo mùa vụ và nhu cầu tiêu thụ
tại Việt Nam và thế giới.VNX là đơn vị đầu tiên được Bộ Công Thương cấp phép
hoạt động trong lĩnh vực giao dịch hàng hóa. Mục tiêu sắp tới, theo Tổng giám đốc
Nguyễn Duy Dương là: "Thu hẹp tình trạng chênh lệch giá giữa hàng hóa Việt Nam
so với thị trường thế giới, tránh trường hợp được mùa mất giá, được giá mất mùa
như thời gian qua".
III Một số bất cập của pháp luật hiện hành về mua bán hàng hóa qua sở giao
dịch và các giải pháp hoàn thiện
1.Những hạn chế
-Pháp luật Việt Nam chưa hình thành một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh
điều chỉnh toàn diện các vấn đề của mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa
Luật thương mại năm 2005 và nghị định 158/2006/NĐ-CP của chính phủ đã
có những quy định về vấn đề này và cũng mới ở mức độ chung nhất, khái quát
nhất, nếu so với pháp luật các nước khác thì pháp luật Việt Nam điều chỉnh vấn đề
này còn thiếu rất nhiều, vì hoạt động mua bán hàng hóa qua sở giao dịch là một
bán hành hóa qua sở giao dịch hàng hóa và cơ chế giải quyết tranh chấp phát sinh
trong mua bản hàng hóa qua sở giao dịch nhưng các quy định còn chung chungvà
chưa đầy đủ, nội dung rất quan trọng là các biện pháp xử lý khi vi phạm các hành
vi đó thì chưa được xác định. Bên cạnh đó, Luật thương mại năm 2005 chưa thực
hiện được nguyên tắc giải quyết các tranh chấp phát sinh trong hợp đồng mua bán
hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa sẽ được giải quyết theo cách thức nào. Các
quy định về mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa được đặt tại luật
thươnng mại vậy nên các tranh chấp trong hợp đồng này xảy ra có được áp dụng
nguyên tắc giải quyết tranh chấp của luật thương mại hay không phải có các quy
định khác mang tính đặc thù của nó. Theo ý kiến của em thì giữa mua bán hàng
hóa qua sở giao dịch hàng hóa và các hoạt động thương mại khác có sự khác nhau
về bản chất nên các hành vi vi phạm hợp đồng này là khác nhau. Vậy nên cần
những quy định riêng để xử lý khi có vi phạm trong lĩnh vực mua bán hàng hóa
giao sau.
2.Các giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về mua bán hàng hóa qua sở
giao dịch hàng hóa.
-Hoàn thiện về mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa
Đây là hoạt động mang tính chuyên môn, nghiệp vụ cao và rất quan trọng
liên quan đến nhiều chủ thể. Để hoàn thiện cơ sở pháp lý cho hợp đồng mua bán
hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa cần tập trung vào các vấn đề cụ thể, chi tiết
như vấn đề nội dung của hợp đồng, các phương thức của hợp đồng, các phương
thúc giải quyết tranh chấp, chế tài xử lý vi phạm khi vi phạm các hành vi bị cấm.
Nhà nước giao cho các cơ quan có nhiệm vụ quản lý trong lĩnh vực thương mại kịp
thời ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành các văn bản của cơ quan cấp trên.
-Hoàn thiện pháp luật về quy chế thương nhân môi giới mua bán hàng hóa
qua sở giao dịch ở nước ngoài.
Trần Thị Chiền-HC33C037
13
qua sở giao dịch hàng hóa cần phải nghiên cứu quy định các nguyên tắc trong việc
xác định tiêu chuẩn về chất lượng, phẩm cấp của hàng hóa, tạo căn cứ thống nhất
cho sở giao dịch hàng hóa xây dựng điều lệ và hợp đồng mua bán hàng hóa qua sở
giao dịch hàng hóa
-Hoàn thiện pháp luật về hoạt động mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng
hóa ở nước ngoài của thương nhân Việt Nam.
Thương nhân Việt Nam tham gia rất nhiều vào quan hệ mua bán quốc tế,
trong đó có quan hệ mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa ở nước ngoài vì
đây là một hoạt động có thể mang lại hiệu quả kinh tế cao. Do chưa có các quy
định của pháp luật điều chỉnh hoạt động này nên trong thời gian qua, mặc dù các
thương nhân Việt Nam đã thực hiện một số giao dịch hàng hóa tài sàn giao dịch
14
Trần Thị Chiền-HC33C037
Bài tập lớn học kỳ
Môn: luật thương mại
của nước ngoài nhưng vẫn chưa thực sự hiệu quả. Yêu cần hoàn thiện các quy
định cụ thể về hoạt động này là rất cần thiết tạo cơ sở pháp lý cho thương nhân
Việt Nam thực hiện giao dịch tại các giao dịch hàng hóa ở nước ngoài. Các vấn đề
cần hoàn thiện bao gồm: điều kiện để thương nhân Việt Nam được phép thực hiện
hoạt động mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa ở nước ngoài, phương
thức thực hiện các giao dịch mua bán hàng hóa, phương thức thanh toán, trách
nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước trong hoạt động này….
-Hoàn thiện pháp luật về các biện pháp xử lý vi phạm trong mua bán hàng hóa
qua sở giao dịch hàng hóa.
Yêu cầu cơ quan quản lý phải ban hành các quy định về xử lý vi phạm hành
chính đối với hành vi vi phạm trong mua bán hàng hó qua sở giao dịch hàng hóa.
Nhà nước có thể quy định các hành vi vi phạm và các hình thức xử lý trong một
nghị định để cơ quan có thẩm quyền có thể dễ dàng áp dụng và tránh được thực
Môn: luật thương mại
muốn hình thành sở giao dịch hàng hóa cần phải có các quy định cụ thể mang tính
đồng bộ liên quan tới việc ban hành giao dịch.
C. KẾT THÚC VẤN ĐỀ
Trong điều kiện kinh tế thị trường mua bán hàng hóa nói chung và mua bán
hàng hóa qua sở giao dịch nói riêng là phương thức chủ yếu để dịch chuyển tài sản
và quyền sở hữu tài sản từ chủ thể này sang chủ thể khác. Một số lượng lớn các
giao dịch dân sự diễn ra trong đời sống hằng ngày là giao dịch mua bán tài sản.
Dưới góc độ pháp lý, mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa trong luật
thương mại Việt Nam là một chế định hoàn toàn mới. Các quy định của luật tại
chế định này đã bắt đầu ghi nhận hoạt động mua bán hàng hóa qua sở giao dịch
hàng hóa là một trong các hoạt động thương mại và được nhà nước bảo đảm thực
hiện. Việc hoàn thiện các quy định của pháp luật về mua bán hàng hóa qua sở giao
dịch sẽ thúc đẩy nền kinh tế thị trường phát triển và đặc biệt là hạn chế được sự
rủi ro đối với các hoạt động thương mại. Đối với Việt Nam để phát triển việc mua
bán hàng hóa qua sở giao dịch thì cần thành lập nhiều hơn nữa những sở giao dịch
hàng hóa đề thúc đẩy sự phát triển của hoạt động thương mại đặc biệt là trong
lĩnh vực nông nghiệp phục vụ trực tiếp cho hoạt động mua bán, tiêu thụ nông sản.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Giáo trình luật thương mại Tập II. Trường đại học Luật Hà Nội
Nhà xuất bản công an nhân dân. Hà Nội – 2007.
2. Luật thương mại năm 2005.
Nhà xuất bản lao động. Hà Nội – 2009.
3. Những vấn đề pháp lý về mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa.
Nguyễn Quỳnh Liên. Luận văn thạc sỹ luật học.
Trường đại học luật Hà Nội-2006.
Trần Thị Chiền-HC33C037